Hiển thị các bài đăng có nhãn Lược sử Kỳ Anh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lược sử Kỳ Anh. Hiển thị tất cả bài đăng

7.4.23

KỲ ANH: HƯƠNG ĐẤT - TÌNH NGƯỜI

(Lược sử Kỳ Anh từ thời cổ đại đến hiện đại -  Trọn bộ) 

LỜI THƯA 

Mảnh đất Kỳ Anh mƣa dầm nắng lửa, là nơi tận cùng của Xứ Nghệ địa linh nhân kiệt luôn làm thao thức lòng ngƣời. Trải bao đời từ thời khai thiên lập địa đến nay phải gồng mình chống chọi với thiên nhiên khắc nhiệt và giặc giã tàn phá để bảo tồn nòi giống và bản sắc của mình, đúng là: Tay chống trời, tay giữ nƣớc căng gân… 

Từ trong gian khó đã sản sinh ra những anh hùng hào kiệt, những danh nhân và một nền văn hóa đậm đà bản sắc, đóng góp chung, làm phong phú thêm kho tàng lịch sử nƣớc nhà.


Lịch sử là một dòng chảy không ngừng, có kế thừa, có thay đổi, có thịnh suy. Để con cháu muôn đời trên mảnh đất linh thiêng này không bạc bẽo với truyền thống ông cha, biết giữ gìn, trân quý những giá trị của quá khứ và phát huy những gì tốt đẹp nhất xây dựng quê hƣơng, chúng tôi có ý tƣởng chắt lọc từ những sách vở, tạp chí, bài viết nghiên cứu từ trƣớc tới nay liên quan mảnh đất Kỳ Anh đến năm 2015 (năm tách huyện) tập hợp vào một quyển sách chung lấy tên là: Kỳ Anh: Hƣơng đất-Tình ngƣời, để ngƣời dân Kỳ Anh ai cũng có thể đọc và tìm hiểu về nơi mình sinh ra, cũng đồng thời là một quyển lƣợc sử lƣu giữ cho đời sau. 

15.1.22

LỜI THƯA

Mảnh đất Kỳ Anh mưa dầm nắng lửa, là nơi tận cùng của Xứ Nghệ địa linh nhân kiệt luôn làm thao thức lòng người. Trãi bao đời từ thời khai thiên lập địa đến nay phải gồng mình chống chọi với thiên nhiên khắc nhiệt và giặc giả tàn phá để bảo tồn nòi giống và bản sắc của mình, đúng là: Tay chống trời, tay giữ nước căng gân…

10.1.22

Sơ lược mục lục

Lược sử Kỳ Anh từ thời cổ đại đến 2015

LỜI THƯA
PHẦN I: KỲ ANH HƯƠNG ĐẤT – TÌNH NGƯỜI
Chương I: Kỳ Anh-Vùng đất linh thiêng
1.
Địa lý tự nhiê
n
2. Khí hậu-Tài nguyên:

Tài liệu tham khảo

       1. Thiên nhiên Việt Nam-Lê Bá Thảo-nhà xuất bản KHKT-1977
      
2. An Tĩnh cổ (Le Vieux An Tĩnh)-H. Le Breton-Nguyễn Bân dịch
       3.La Province Ha Tinh- R. Bulaterau-1925-Bùi Đinh Thiện dịch

  1. La Province Ha Tinh- R. Bulaterau-1925-Bùi Đinh Thiện dịch
  2. Hà Tĩnh-Lịch sử khái quát…Tài liệu tòa khâm sứ Pháp ở Hà Tĩnh năm 1942-Đặng Văn Thị dịch
  3. Địa dư tỉnh Hà Tĩnh-Trần Kinh-ấp Bắc Hà 1939
  4. Kỳ Anh phong thổ ký- Lê Đức Trinh-1930, Thanh Minh dịch

THAY LỜI KẾT

Trung tuần tháng 11 năm 2020, tôi Nguyễn Xuân Lộc và PGS.Tiến sĩ triết học Lê Công Sự, người bạn đồng niên cấp III Kỳ Anh khóa 1973-1976 có trọn một ngày hội ngộ tại Đại học Hà Nội ở quận Thanh Xuân. Trong rất nhiều câu chuyện hàn huyên về thời trai trẻ, về trường xưa, bạn cũ, về chuyện chính trị, xã hội trong và ngoài nước…Ts Lê Công Sự nêu ý tưởng cùng làm một cuốn sách lịch sử về quê hương Kỳ Anh. Những tâm hồn đồng điệu gặp nhau, chúng tôi cùng bàn luận mọi khía cạnh và đi đến kết luận: cần thiết  phải có một quyển sách để làm tư liệu cho người dân Kỳ Anh hiện tại và mai sau có thể tìm hiểu về lịch sử quê hương mình một cách thuận tiện và đầy đủ.

3. Các thi nhân con em người Kỳ Anh

Kỳ Anh là vùng đất mưa dầm nắng lửa, đất đai khô cằn đá sỏi, khí hậu khắc nhiệt, nắng sém da người và giá rét thấu xương. Quanh năm vất vả với đồng chua nước mặn, củ khoai củ sắn nuôi sống con người bao thế hệ. Nhưng cũng từ trong khó khăn gian khổ mà con người rèn luyện được tinh thần vươn lên mạnh mẽ, làm chủ và chống chọi với thiên tai địch họa. Thơ ca hò vè chính là một nguồn suối mát lành tưới lên mảnh đất khô cằn, nuôi dưỡng tâm hồn con người luôn lạc quan, yêu đời, yêu quê hương và mong muốn góp sức xây dựng quê hương ngày càng tươi đẹp.

2. Các nhà thơ Việt viết về Kỳ Anh

Kỳ Anh là vùng đất của lịch sử, cũng là miền đất của nhạc của thơ. Các tao nhân mặc khách, các văn nhân-thi sỹ từng sống hoặc đi qua Kỳ Anh hoặc có duyên nợ với mảnh đất linh thiêng này thường ghi lại cảm xúc của mình mỗi lần có dịp. Sau đây chúng tôi chỉ chọn một số đại diện cho các nhà thơ Việt Nam đã từng có mặt ở Kỳ Anh, viết về mảnh đất Kỳ Anh thân thương:

Chương 4: Kỳ Anh-Vùng đất của các thi nhân

Chữ rằng: Nhân kiệt Địa Linh / Có Hoành Sơn, Bàn Độ mới dĩnh sinh anh tài.

1. Văn học dân gian
Dù nằm trên đường thiên lý Bắc-Nam, trên là rừng, dưới là biển, Kỳ Anh xưa gần như là một vùng khép kín, tách biệt. Nhưng do sự biến động của lịch sử mà vùng đất này cũng dung nạp, bổ sung nhiều người từ mọi miền đến làm việc và ở lại sinh cơ lập nghiệp, nên văn hóa bản địa cũng có nhiều pha trộn, phong phú, và độc đáo.

Văn chương dân gian còn lưu lại khá nhiều trong nhân dân, nhất là lớp người cao tuổi và trong truyền thuyết, cao dao, tục ngữ, chuyện cổ tích, chuyện cười…mang đậm màu sắc địa phương.

Chương 3: Các điểm sáng về giáo dục

1. Giáo dục thời phong kiến đến 1945

– Do hoàn cảnh địa lý và lịch sử, việc học hành của người dân Kỳ Anh xưa không được phát triển như các huyện khác trong tỉnh và cả nước. Người dân chủ yếu đều mù chữ.
Mặc dầu từ thế kỷ XV, XVI đã xuất hiện các nhà đại khoa đỗ đạt thành danh, nhưng đó cũng chỉ là những trường hợp đặc biệt, không tiêu biểu cho nền học vấn của địa phương. Đầu thế kỷ XVI, theo lời truyền đã có trường học do “Quan trạng Thần Đầu” Lê Quảng Chí mở nhưng cũng không ghi lại gì nhiều trong sử sách.

3. Những điển hình trong thời đại mới

Trong 3 cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ (1945-1975) và bè lũ bành trướng Trung Quốc xâm lược phía bắc, bọn Khe-me đỏ tay chân Trung Quốc ở biên giới phía nam (1979-1988), nhân dân Kỳ Anh đã đóng góp không nhỏ nhân tài và vật lực cùng với quân dân cả nước. Trong đó có nhiều đơn vị, cá nhân đã được nhà nước ghi nhận và tặng thưởng các danh hiệu cao quý.

3.1 Đơn vị anh hùng

Đội nữ dân quân xã Kỳ Phương
Với tinh thần khắc phục khó khăn gian khổ, trực tiếp chiến đấu gan dạ, phối hợp bắn rơi 7 máy bay Mỹ.
Được tuyên dương: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân-tháng 10-1971

Chương 2: Những quan chức Kỳ Anh qua các thời kỳ

Lịch sử thời cổ đại đến đầu thế kỷ XV không thấy để lại tên tuổi nào.
Đến cuối thế kỷ XV dưới thời đầu Lê-Mạc mới xuất hiện những nhà khoa bảng và tướng lĩnh:
 

1. Những nhân vật lịch sử và khoa bảng Kỳ Anh

– Bãng nhãn Lê Quảng Chí (1451-1533)?

Người làng Sơn Đầu (về sau là Thần Đầu) nay là xã Kỳ Phương. Lúc nhỏ nhà nghèo, ông cùng em là Lê Quảng Ý đi ở cho nhà giàu, nhờ chăm chỉ và sáng dạ nên được chủ thương mến cho đi học. Lớn lên vẫn vừa làm thuê vừa cố gắng đèn sách và thi đỗ, vinh quy bái tổ về làng.

PHẦN II: KỲ ANH ĐỊA LINH NHÂN KIỆT

Chương 1: Những nhân vật lịch sử thời phong kiến 

Trải qua hàng ngàn năm nằm dưới ách đô hộ của phương bắc, sử sách ghi chép về miền đất phiên dậu Kỳ Anh thời kỳ cổ đại không lưu lại được bao nhiêu do nhiều nguyên nhân.
Cho đến khi Lý Bí, sau khi đánh bại quân Lương, thoát khỏi chính quyền trung ương Trung Hoa, lên ngôi Hoàng đế lấy niên hiệu Lý Nam Đế, thành lập nhà nước Vạn Xuân năm 544, vùng đất biên cương tận cùng Giao Châu này mới được nhắc đến lần đầu trong “Đại việt sử ký toàn thư” (ngoại kỷ-quyển IV-Kỷ nhà Tiền Lý).

3. Văn thơ viết bằng chữ quốc ngữ trước 1945.

Lê Văn Huân
Lê Văn Huân (?-1929) hiệu là Lâm Ngu, quê làng Trung Lễ, huyện Đức Thọ- Hà Tĩnh, đậu giải nguyên năm 1906, nên gọi là giải Huân. Lê Văn Huân tham gia phong trào Duy Tân, năm 1908 bị bắt và đày Côn Đảo, năm 1917 được tha về, tiếp tục hoạt động và thành lập Hội Phục Việt ở Nghệ Tĩnh. Năm 1927 gia nhập đảng Tân Việt. Năm 1929 bị bắt giam và mất tại nhà lao Hà Tĩnh.

2. Văn thơ Hán-Nôm viết đất Kỳ Anh

Từ thời cổ đại và trãi nghìn năm bắc thuộc, sử sách ghi chép rất ít về vùng đất này, cho đến đầu Tiền Lý (thời vua Lý Nam Đế-543) mới được nhắc đến trong “Đại Việt sử ký toàn thư”,

Mãi đến thời Tiền Lê, khi Phụ quốc Ngô Tử An mở ra con đường xuyên Việt qua đèo Ngang (năm 992) vùng đất Kỳ Anh vẫn thuộc vùng biên viễn xa xôi, ít người biết đến, đời sống vật chất, tinh thần đều lạc hậu, lại thường xuyên bị giặc giã quấy nhiễu. Thơ văn thời kỳ này chưa tìm thấy trong các lưu bản, sách vở.

Phải đến đời Lý, năm Ất Sửu (1025) vua Lý Thái Tổ xuống chiếu lập trại Định Phiên ở nam giới của Châu Hoan tức vùng Kỳ Anh bây giờ để bảo vệ biên giới phía nam đất nước.

Chương 4: Phong hóa-Tôn giáo-Văn học trước 1945

1. Phong tục, tín ngưỡng, tôn giáo ở Kỳ Anh

1.1. Phong tục tập quán:
Theo “Kỳ Anh phong thổ ký” viết 1930: “Dân trong hạt vốn có tính chất thuần phác, đôn hậu, chăm nghề ruộng nương, buôn bán mà ít ham học hành, tính cầu an, thủ cựu, không thích canh cải. Mức tiến hóa văn minh so với các nơi khác thì còn chậm. Việc hôn nhân thì không bàn đến của cải. Việc tang lễ thì theo lệ cũ. Ở đình chung thì trọng kẻ chức tước, quý người có tuổi tác. Các bậc văn nhân, khoa bảng cũng được trọng vọng. Miếu mạo, văn chỉ, đền chùa nơi nào cũng có. Trong dân, qua xuân thu, lễ tiết, vui mừng, việc qua lại rất là đôn hậu. Đại để phong tục tập quán so với các hạt trong miền Nghệ Tĩnh gần gần giống nhau…”

2. Tình hình kinh tế xã hội 1945 – 2015

2.1. Kinh tế Nông nghiệp
Sau cách mạng tháng tám thành công, diện tích trồng trọt và năng suất cây trồng có tăng nhanh nhưng cũng không đáng kể.
Trong 10 năm (1955-1964), năm thấp nhất (1955, 1957) là 15.549 tấn-15.610 tấn, năm trung bình đạt 17.753 tấn-19.568 tấn, những năm cao nhất cũng chỉ 23.673 – 25.283 tấn. Trong những năm 1970, năm cao nhất cũng chỉ đạt 26.000 tấn lương thực, bình quân đầu người chỉ đạt 200kg lương thực/năm. Đời sống của 70-80% dân thường gặp khó khăn, có khi rất đói khổ. Lương thực vẫn là mối lo lắng hàng đầu của chính quyền và người dân.

Chương 3: Tình hình Kinh tế-Xã hội

1. Tình hình kinh tế xã hội trước 1945
Kỳ anh xưa nay là một huyên nông nghiệp, ruộng đất không ít, trước năm 1945 bình quân đầu người là 6 sào Trung bộ, nhưng đất đai hẹp và kém màu mỡ. Vùng đồi núi ruộng bậc thang bị xói mòn nghiêm trọng, ruộng trong các thung lũng nhỏ thì dễ bị ngập mưa, vùng dưới gần biển thì đất bạc màu, chua mặn. Nông dân nhiều đời nay có thói quen quảng canh. Lại thường xuyên bị thiên tai, bão tố, mưa lụt, hạn hán…nên sản xuất nông nghiệp bị thiệt hại rất nặng nề, đói kém, mất mùa liên miên.. Hầu như năm nào cũng bị nạn đói. Sử sách các đời Lê- Nguyễn còn chép những trận đói ở xứ Nghệ An, trong đó có Kỳ Anh “Người chết đói đầy đường…”, “đổi một mẫu ruộng chỉ được mấy bát gạo”, “…người ta ăn cả lá cây, rễ cây, thịt chuột…thậm chí ăn thịt lẫn nhau”, “người ăn xin kéo từng đàn từng lũ, nhiều thôn xóm bị phiêu tán…”. Đầu thế kỷ XIX ở phủ Hà Hoa các thôn Bạo Tuyền, Thi Hạ, Hải Khẩu và trang Hội An dân phiêu bạt hết.

2.5. Kỳ Anh trong thời đại mới (1945-2015)

2.5.1. Kháng chiến chống Pháp 9 năm(1946-1954)
Chiều 18-8-1945, nhân dân Kỳ Anh, dưới sự lảnh đạo của Việt Minh, đã cuớp chính quyền thắng lợi ở huyện. Ủy ban cách mạng lâm thởi (sau này là Ủy ban nhân dân huyện) được thành lập ngay đêm ấy. Chủ tịch đầu tiên là Nguyễn Trọng Nhạ, Phó chủ tịch là Lê Bính, Tổng thư ký là Phan Ngọc Phiên. Một số ủy viên khác phụ trách tư pháp, tài chính, quân sự, an ninh, giáo dục..

Chính quyền làng, xã cũng kịp thời được tổ chức. Nhân dân trong huyện vừa trải qua nạn đói khủng khiếp, đã náo nức bắt tay xây dựng xã hội mới.

2.4. Mặt trận Việt Minh-Khởi nghĩa dành chính quyền [1]

2.4. Mặt trận Việt Minh-Khởi nghĩa dành chính quyền [1]

Ngày 9-3-1945 thực dân Pháp đầu hàng quân Nhật. Hội nghị Ban thường vụ trung ương đảng từ 9-12/3-1945 nhận định cuộc khởi nghĩa đã chín muồi, chủ trương nêu khẩu hiệu: “Đánh đuổi phát xít Nhật” thay cho khẩu hiệu “ Đánh đuổi Nhật-Pháp” trước đó, và phát động phong trào chống Nhật cứu nước, gấp rút tiến tới tổng khởi nghĩa, dành chính quyền. Hội nghị đã công bố chỉ thị lịch sử: “Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”

Trước sự biến đổi nhanh chóng của tình hình trong nước, ở các huyện Đức Thọ, Hương Sơn, Hương Khê…cao trào cách mạng đã được phát triển tương đối nhanh, nhiều yếu tố mới xuất hiện, một số nơi đã thành lập được tổ chức Việt Minh.

2.3. Phong trào đấu tranh yêu nước (1841-1945)

Ngay từ lúc triều đình Huế ký hòa ước Giáp Tuất (1874), rồi hòa ước Qúy Tỵ (1883), hòa ước Giáp Thân (1884) nhân dân Kỳ Anh đã tham gia cuộc khởi nghĩa cờ vàng (1874) và phong trào Cần Vương 1885-1895.

Quân Pháp đánh chiếm Hà Nội lần thứ 2(25-4-1882), rồi đánh cửa Thuận An (18-8-1883)

Triều đình Huế liên tiếp ký Hòa ước Qúy Tỵ (tức “Hiệp ước Hác-măng(Harmant) ngày 24-7 Qúy Tỵ “25-8-1883”)

Rồi Hòa ước Giáp Thân (tức Hiệp ước Pa-tơ-not “Patenotre” ngày 13-5 Giáp Thân”6-6-1884”) thừa nhận nền đô hộ của Pháp ở Việt Nam.