Kỳ Anh là vùng đất mưa dầm nắng lửa, đất đai khô cằn đá sỏi, khí hậu khắc nhiệt, nắng sém da người và giá rét thấu xương. Quanh năm vất vả với đồng chua nước mặn, củ khoai củ sắn nuôi sống con người bao thế hệ. Nhưng cũng từ trong khó khăn gian khổ mà con người rèn luyện được tinh thần vươn lên mạnh mẽ, làm chủ và chống chọi với thiên tai địch họa. Thơ ca hò vè chính là một nguồn suối mát lành tưới lên mảnh đất khô cằn, nuôi dưỡng tâm hồn con người luôn lạc quan, yêu đời, yêu quê hương và mong muốn góp sức xây dựng quê hương ngày càng tươi đẹp.
Người Hà Tĩnh nói chung và Kỳ Anh nói riêng, mỗi người dân đều có thể là một nhà thơ. Đấy chính là một di sản vô cùng quý giá mà hùng thiêng sông núi đã hun đúc nên từ bao đời, ai cũng có trách nhiệm gìn giữ và phát huy, để vùng đất này xứng danh là: Vùng đất của các thi nhân…
Những nhà thơ có bài trích trong quyển sách này chỉ là một phần nhỏ được chọn, đại diện cho các nhà thơ dân dã Kỳ Anh mà trong khuôn khổ một cuốn sách không thể nhắc hết tên.
Chúng tôi hân hạnh giới thiệu tên tác giả theo thứ tự vần chữ cái ABC…
Dương Kỳ Anh*
1. Chốn quê
Chốn quê, cảnh cũ đâu còn
Mây bay cuối thàng, trăng non đầu mùa
Cháy như ngọn bấc ngày xưa
Đèn ai mầy ngọn, cuối bờ sương sa.
Cỏ sân chùa nhớ gốc đa
Mái tranh nhớ hạt mưa qua tháng mười
Người dưới đất, kẻ cuối trời
Thẳm xanh…một dải…muôn đời…chốn quê.- 1985
2. Trăng biển
Thế rồi, ta cứ vẫn vơ
Một vầng trăng bạc, hai bờ cây xanh
Triều cường, con nước đang lên
Mới hay trăng đã ngự trên đỉnh trời
Biển dâng, trăng cứ gọi mời
Bao giờ trăng lại về nơi non ngàn
Trăng nghiêng sau lũy tre làng
Sương đêm còn ngậm muôn ngàn hạt châu
Người về, trăng biết về đâu
Để ta chén rượu, với câu thơ buồn
Đêm nay dưới ánh trăng suông
Một mình, một bóng, một cồn cát xa
Một vầng trăng đẹp nõn nà
Ngây thơ trăng lại cùng ta…trốn tìm…
Ta về gối bóng trăng xanh
Nghe đêm biển biếc một mình hát ca.- 1986
3. Má quạt thóc bên đường
Má quạt thóc bên đường
Quạt bằng manh chiếu rách
Kẹp giữa đôi chân gầy khẳng khiu.
Buổi chiều oi nồng không một ngọn gió
Những chiếc xe lam đi qua
Những chiếc xe Hon-đa đi qua
Những chiếc xe con bóng lộn đi qua
Ngỡ như không ai để ý
Má quạt thóc bên đường.
Ôi, những hạt thóc vàng
Gặt đập từ chan ruộng
Phơi trên đường cái quan.
Tôi sững sờ gặp lại dáng mẹ tôi
Quạt thóc bên đường ba mươi năm trước
Thời gian đọng cứng lại như bùn.
Từ bàn tay của má
Thổi vào hồn tôi như một ngọn gió buồn
Thổi vào không gian những luồn nắng gắt
Thổi vào cuộc đời bao nhiêu điều day dứt
Thổi lên trang thơ sự thật. – 1990
*Dương Kỳ Anh , tên thật là Dương Xuân Nam, quê xã Kỳ Xuân. Cử nhân
khoa văn, đã từng là sĩ quan điều khiển tên lửa, cán bộ giảng dạy đại
học, Tổng biên tập báo Tiền phong. Đã xuất bản hàng chục đầu sách về thơ
và văn xuôi. Có tên trong từ điển Danh nhân văn hóa khu vực Châu Á,
Thái Bình Dương.
Võ thị Ngọc Anh*
Viết thay dòng lưu bút
Chảng thể nào níu giữ được đâu em
Con thuyền tuổi thơ cập bến bờ kỷ niệm
Mái trường xưa nhuốm phủ hoàng hôn tím
Lá vàng rơi lưu luyến bước em đi…
Khi ve ngân, phượng cháy, mùa thi
Khi trăn trở trước những dòng lưu bút
Khi màu mực ướt nhòe cùng nước mắt
Là xa hoài, xa mãi, tuổi thơ ơi !
Những ngày qua tât cả giản đơn thôi
Một ánh mắt bạn trai, phút giận hờn bạn gái
Những con điểm thầy buồn nhưng không nói
Để bây giờ nhức nhối không quên…
Những kỷ niệm qua rồi, không thể gọi bằng tên
Sao cứ cháy âm thầm trong ký ức
Phút xa trường đừng ai buồn, ai khóc
Để ngày mai thao thức nhớ về nhau.
*Sinh năm 1975, quê xã Kỳ Phong, tốt nghiệp Cao đẳng sư phạm Nghệ An, Giáo viên Trường THCS thị trấn Kỳ Anh
Nguyễn Trần Ba*
Kỳ Anh trong tôi
Nhớ Kỳ Anh canh hàu nấu hẹ
Thơm mùi mằn mặn của biển khơi
Nhớ Kỳ Anh, nhờ về quê mẹ
Hằn sâu ký ức suốt cuộc đời.
Đền thiêng Hải Khẩu nay còn đó
Vũng Áng mới xây, cảng tuyệt vời
Giếng Vọt, Đền Chào cùng Rú Đọ
Ngàn năm văn vật vẫn sáng ngời.
*Quê Kỳ Anh, hiện nay sống tại Hà Nội. Nhiều năm công tác tại Bộ ngoại giao.
Nguyễn Thành Bắc*
1. Gửi người đi xây hồ Sông Rác
“Kẻ Gỗ là đây, bao năm đợi tháng chờ”
Câu hát ấy một thời ai cũng hát
Nay quê hương đang xây hồ Sông Rác
Tôi chư có thơ về Sông Rác để dâng quê.
Đêm lại đêm lòng tôi vẫn say mê
Tìm ý, tìm lời, chọn từng câu chữ
Đến hôm nay bài thơ còn dang dỡ
Lòng day dứt hoài nên có chợp mắt đâu.
Biết bao giờ thơ thành chữ, thành câu
Để thơ theo em lên thượng nguồn Sông Rác
Thơ sẽ chia cái nặng nề trong từng gánh đất
Cho đôi vai bé nhỏ bớt thâm bầm
Nhẩm ý thơ mà lòng dạ bâng khuâng
Khi bạn đã có thơ và có nhạc
Xót phận nghèo bận làm ít học
Nên chưa có thơ về Sông Rác dâng quê. – 1988
2. Nói với con
Cha chẳng phải là nhà giáo đâu con
Cha chỉ biết yêu thơ và làm ra hạt lúa
Tất cả tình thương cha dành cho con đó
Nên rất yêu nghề giáo con ơi.
Thơ viết về các thầy cô, xin chẳng nhiều lời
Như cây lúa cần công chăm bón
Như biển cả cho đời muối mặn
Thầy cô gieo hạt giống: Con người.
Mai đến trường con học, con chơi
Thầy cô giáo là cha mẹ đấy
Thầy, cô dạy những gì cha không thể dạy
Chắp cho con đôi cánh vượt đường xa.
Và những gì có thực ở trong cha
Cũng là công lao của thầy cô giáo
Con làm trọn đôi điều thầy chỉ bảo
Thầy cô vui, cha mẹ yên lòng.
Mặt trời lên từ phia biển mênh mông
Con khôn lớn từ công cha nghĩa mẹ
Con có tầm nhìn suốt chiều dài lịch sử
Công ơn thấy cô giáo đã cho con.
*Tên thật Nguyễn Thông. Quê Kỳ Bắc. Hội viên câu lạc bộ thơ xứ Voi.
Nguyễn Hoa Bằng*
Hai lần vào đại học
Lần thứ nhất vừa tốt nghiệp phổ thông
Tôi bước vào đại học
Tuổi trẻ có nhiều mơ ước
Tôi đi theo con đường thầy giáo chỉ cho tôi.
Cuộc đờ sinh viên xôn xao bao niềm vui
Chúng tôi soi mình qua những trang giáo án
Sắp bước lên bục giảng
Lửa chiến tranh trùm lên những mái trường
Tập giáo án gửi lại người thương
Tôi cầm súng ra chiến trường đánh giặc.
Lần thứ hai tôi bước vào đại học
Trường đại học của tôi – mở giữa tiền phương
Đâu chỉ là khoa toán, khoa văn
Khoa lý, khoa sinh, khao sử
Chúng tôi học làm người chiến sĩ
Chiến đầu, noi gương lớp lớp anh hùng.
Hành quân xa dọc suốt dảy Trường Sơn
Gõ báng súng, sức dồn căng căng lồng ngực
Chúng tôi những bài ca đất nước
“Tiến về Sài Gòn giải phóng miền Nam”
Ngày mai khi thống nhất Bắc-Nam
Tôi sẽ trở về kể với các em
Chuyện hành quân, chuyện công đồn giết giặc
Chuyện tuổi trẻ chúng tôi
Thuở ấy, hai lần vào đại học.
Quảng trị 1972
*Quê xã Kỳ Bắc-Kỳ Anh. Từng là chủ nhiệm khoa Văn, đại học Cần Thơ
Nguyễn Sĩ Bổng*
Đèo Ngang
Nam Bắc ngăn chia bưởi một đèo
Trùng trùng vách núi dựng cheo leo
Biển tung bọt trắng tầm xô đá
Rừng xé mây xanh vạch nắng chiều.
Ô Lý Triều ca hồn nước vọng
Hoan Châu gió vẳng tiếng quên reo
Qua chốn ấy tình man mác
Khắc khoải bên rừng tiếng cuốc kêu.
*Hội thơ huyên Kỳ Anh
Hoàng Thái Cát*
Quê mẹ Kỳ Anh
Kỳ Anh linh địa vốn xưa nay
Thế núi hình sông đẹp đó đây
Cửa Khẩu hùng linh Đền liệt nữ
Cổng Hoành đồ họa cảnh trời mây.
Sông quê uốn khúc xanh đồng nội
Cảng Áng vào ra cập bến đầy
Trăm bảy mươi năm nuôi trí lực
Giàu sang thai nghén đã bao ngày.
*Quê Kỳ Ninh-Kỳ Anh-Hà Tĩnh. Từng công tác ở Ban tuyên giáo kỳ Anh. Nguyên giám đốc Trung tâm bồi dưỡng chính trị huyện Kỳ Anh.
Trần Khánh Cẩm*
1 MƯA
Mưa trời từng hạt bay xiên .
Mưa đời đan dệt từng viên Tình, Tiền.
Mưa lòng rã rích triền miên
Mưa thương, mưa nhớ, buồn phiền tâm tư.
Đông về trời đỗ cơn mưa
Gió se se lạnh vần thơ nỗi lòng…
Nghĩ về ký ức xa xăm..
Thương thương , nhớ nhớ, chờ mong, giận hờn !
Ai an ủi nỗi tâm hồn ?
“ Tình ca, kỹ niệm “ ôm đàn giãi khuây.
Ngoài trời mưa gió lắt lay .
Mưa mưa có hiểu lòng này nhìn mưa ?- 2021
- THU
Cảnh vật giao mùa đã đến Thu
Nắng chiều êm dịu gió như ru.
Mây trên đĩnh núi trôi nhè nhẹ .
Nước dưới dòng sông chảy từ từ .
Một chiếc thuyền nan chèo lặng lẽ .
Đôi con cò trắng lượn vô tư .
Tâm hồn tưởng nhớ bao kỹ niệm ..
Những mối tình xưa ta với Thu .
* Sinh 1938, quê Kỳ Bắc, Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Nghệ nhân nhân dân-Sưu tầm và truyền bá dân ca Nghệ Tĩnh
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét