10.1.22

2. Các nhà thơ Việt viết về Kỳ Anh

Kỳ Anh là vùng đất của lịch sử, cũng là miền đất của nhạc của thơ. Các tao nhân mặc khách, các văn nhân-thi sỹ từng sống hoặc đi qua Kỳ Anh hoặc có duyên nợ với mảnh đất linh thiêng này thường ghi lại cảm xúc của mình mỗi lần có dịp. Sau đây chúng tôi chỉ chọn một số đại diện cho các nhà thơ Việt Nam đã từng có mặt ở Kỳ Anh, viết về mảnh đất Kỳ Anh thân thương:


Nguyễn Thúy An*
Qua Đèo Ngang họa thơ bà Huyện

Đến đỉnh Đèo Ngang bóng chưa tà
Màn sương phủ cỏ, cỏ bên hoa
Nào đâu mấy chú tiều khi trước
Chỉ thấy trên non biển với nhà.
Nhớ nước, giữ gìn trong sạch nước
Thương nhà, đoàn kết dựng xây nhà
Trời Nam một dải dân làm chủ
Thống nhất hai miền Tổ quốc ta.
* Quê Hà Nội, 90 tuổi, trên đường đi từ Hà Nội vào Huế ngay sau ngày thống nhất đất nước 1975, khi qua Đèo Ngang đã làm bài thơ:

Trương Ngọc Ánh*

1. Mưa trên Hải Khẩu
Mưa giăng hoa kết trắng trời xuân
Tuyền chở khói mải miết về bến cũ
Mái đền cong in hình rêu phủ
Xòe đôi tai nghe rạo rực mưa bay.

Ôi mưa sa Hải Khẩu sáng xuân này
Có chồi non tứa mầm thay sắc lá
Có cổ thủ tóc trăm năm trắng lóa
Hồn non sông thao thiết quyện vào nhau.

Giữa mịt mùng Hải Khẩu nông sâu
Có cánh neo níu miền ký ức
Có con thuyền lững thững từ cổ tích
Sau rèm mưa thấp thoáng bóng ai xưa.

Này tay tiên vén những lối mưa
Dáng mỏng mảnh nhòa trong sương khói
Lóng lánh mâm vàng phập phồng bến đợi
Sông ngập ngừng không biết chảy về đâu.

Trời đem mưa gieo bến Bích Châu
Những giọt ấm thấm một bờ Hải Khẩu
Những cô gái đội mưa đi trẫy hội
Mắt ươt như lộc biếc mùa xuân.

2. Viết ở Hoành Sơn quan
Núi thắt ngang
Đèo chạy dọc
Giữa chênh vênh neo hình đất nước
Vạch ngang trời Hoành Sơn quan.

Tôi ngẫn ngơ tìm tiếng cuốc gõ thời gian
Bóng tiều phu trốn tìm trong kẻ đá
Quan ải rêu phong hình hài xưa bóng ngả
Gió mồ côi heo hút vuốt lưng đèo.

Ai về Nam xin gửi bóng về theo
Ngàn lau dựng như cờ rung dưới gió
Biển dậy sóng chiến mã gầm tung vó
Tiếng giáo gươm mài vẹt vách Hoành Sơn.

Chiều Đèo Ngang nhìn xuống hoàng hôn
Bao nhân ảnh bước từ mây xuống núi
Những bóng hình tưởng chìm trong sương khói
Cưỡi gió về lần từng nẻo đường xưa.

Chiều Hoành Sơn dáng núi ngẩn ngơ
Ta với tay chạm khẽ vào mây trắng
Gió thúc sườn non, biển vờn dậy sóng
Đất với trời đang phút ngất ngư say.
* Quê Thạch, Hà Tĩnh, tốt nghiệp khoa sử ĐHSP, công tác tại đài PT-TH Hà Tĩnh, có nhiều thơ đăng báo.

Nguyễn Trọng Bính*

Vũng Áng
Khiêm nhường nhận là cái vũng
Nông, sâu ang áng cóc cần
Giặc trời hai thằng đã rụng
Súng trường – trận địa lòng dân.

Giặc biển lăm le phía biển
Pháo ra mép nước đánh gần
Con gái quê mình qua giỏi
Toàn là pháo thủ dân quân.

Bây giờ cảng sâu Vũng Áng
Làm sao ang áng được nào?
Nhếch dần lên nhờ tính toán
Tâm hồn trong vắt ca dao.
Tháng 2/1999
* Quê xã Việt Xuyên-Thạch Hà, tốt nghiệp khoa văn Đại học sư phạm Vinh. Hội viên Hội VHNT Hà Tĩnh

Lâm Thị Mỹ Dạ*

Qua Đèo Ngang
Giữa hai cánh núi vội vàng
Mở ra một một sắc mơ màng biển khơi
Lớn rồi đó biển xanh ơi
Phải đâu trẻ nhỏ mà chơi trốn tìm.
1976
*. Sinh năm 1949 tại Lệ Thủy, Quảng Bình, hiện sống ở thành phố Huế. Hội viên Hội nhà văn việt Nam. Giải nhất cuộc thi thơ Báo Văn nghệ năm 1973. Biên tập viên văn học. Ủy viên BCH hội nhà văn Việt Nam khóa III, ủy viên hội đồng thơ Hội nhà văn.

Xuân Diệu*

Cha đàng ngoài-Mẹ ở đàng trong
Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong
Ông đồ Nghệ đeo khăn gói đỏ
Vượt Đèo Ngang kiế nơi cần chữ
Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong
Hai phía Đèo Ngang: một mối tơ hồng.

Quê cha Hà Tĩnh đất hẹp khô rang
Đói bao thủa cơm chia phần từng bát
Quê mẹ gió nồm thổi lên tươi mát
Bình Định lúa xanh ôm bóng Tháp Chàm.

Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong
Ông đồ Nho lấy cô làm nước mắm
Làng xóm cười giọng ông đồ trọ trẹ
Nhưng quý ông đồ văn vẻ giỏi giang
Bà ngoại nói tôi trọng người chữ nghĩa
Dám gả con cho cách tỉnh xa đàng.

Tiếng đàng trong, tiếng đàng ngoài quấn quít
Vào giữa mái tranh, giường chõng, cột nhà
Rứa, mô, chừ? Cha hỏi điều muốn biết
Ngạc nhiên gì, mẹ thốt: úi chui cha.

Con trong võng êm lành kêu kẽo kẹt
Ru tuổi thơ qua hai điệu bổng trầm
Mẹ thảnh thốt: Qua nhớ thương em bậu
Cha hát dặm bài: Phụ tử tình thâm

Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong
Muốn ăn nhút thì về quê với bố
Muốn ăn quýt, ăn hồng
theo cha mày mà về ngoài đó
Muốn uống nước dừa, ăn xoài chín đỏ
Muốn ăn bánh tét, bánh tổ
Thì theo tao ở mãi trong này.

Đội ơn thầy, đội ơn má sinh con
Cảm ơn thấy vượt Đèo Ngang bất kể
Cám ơn má biết yêu người xứ Nghệ
Nên máu con chung hòa cả hai miền.
* Xuân Diệu (1916-1985), quê ở xã Trảo Nha, nay là thị trấn Nghè, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh. Năm 1940 đỗ Tham tá nha thương chính, vào làm việc ở Ty thương chính Mỹ Tho. Sau 4 năm làm việc, ông bỏ ra Hà Nội sống bằng nghề văn. Ông là 1 trong những người đồng sáng lập Tự lực văn đoàn. Một nhà thơ tinh nổi tiếng của thế kỷ 20.

Nguyễn Văn Dinh*

Cô gái Đèo Ngang
Thương cha xưa đóng khố
Một đời đau tá điền
Em lớn cùng đất nước
Thù sâu nào dám quên.

Ơi cô gái Đèo Ngang
Hân, Phượng, Đình…nhớ mãi
Giữa biển gào nước xoáy
Em như hòn Sơn Dương.

Cát lỡ cỏ rơm bồi
Em xây thành công sự
Ngày ngày canh biển khơi
Vượt lên ngàn sóng dữ.

Những cô gái yêu thương
Vá đường trong đêm tối
Làm ánh đèn chỉ lối
Tay ôm ghì quê hương.

Mang gió đi tuần đêm
Gặp cô gái Quảng Bình
Khoác vai nhau tâm sự
Thân thiết tình chị em.

Thuyền cảnh Dương vượt biển
Tràng đạn Mỹ đuổi theo
Có súng em giăng lửa
Cứu nguy khi hiểm nghèo.

Mặc sóng dập, bom vùi
Như hàng dương đứng thẳng
Em nhằm quân thù: bắn
Giữ trong làn nước khơi.

Chín cô gái Đèo Ngang
Qua trăm ngàn chiến đấu
Đốt thiêu bốn phản lực
Chói ngời gái Việt Nam.

Chín cô gái Đèo Ngang
Từng dự trăm trận đánh
Như ngọc trai lóng lánh
Dưới chân Đèo hiên ngang.
1969
* Sinh năm 1932 tại Quảng Thanh, Quảng Trạch, Quảng Bình. Nay ở phường Đồng Phú, Đồng Hới, Quảng Bình. Hội viên Hội nhà văn Việt Nam.
Tác phẩm đã xuất bản: “Trường ca Quảng Bình(1956)”, “Cánh buồm-1976”,  “Gặp nụ cười-1980”, “Lời dã tràng-1996”

Nguyễn Huy Du*

Cảnh Đèo Ngang
Biển trời mây nước ấy: Đèo Ngang
Thi khách qua đây tiếc muộn màng
Bóng đã xế tà xa bến đợi
Sông đâu Xích Mộ nắng hoa vàng.

Chứng tích Đèo ngang mãi đứng đây
Bia xưa còn lại bể dâu đầy
Một trăm năm chục năm tròn, lẻ
Chuyện cũ thôi bàn dạ chẳng khuây.
1993
* Quê Thạch Đỉnh-Thạch Hà-Hà Tĩnh. Từng công tác tại phòng giáo dục Kỳ Anh.

Phạm Tiến Duật*

Đèo Ngang
Pháo tàu giặc đêm đêm nhằm hướng bắn
Đèo vẫn nguyên lành nằm với biển reo
Nhà như lá đa đậu lưng chừng núi
Sông suối từ đâu rơi xuống chân đèo.

Đèo nằm hướng Nam
Đường nhằm hướng Nam
Xe đạn cũng hướng Nam
Vượt dốc.

Bao nhiêu người làm thơ
Về Đèo ngang
Mà quên mất
Con đèo chạy dọc.
1970
* Sinh ngày 14-1-1944 tại thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ, hiện sống ở Hà Nội. Hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Giải nhất cuộc thi báo văn nghệ 1969-1970.

Nguyễn Chí Dũng*

Nước mắt Đèo Ngang
Nín đi thôi – Nín đi thôi
Kẻo tôi chết đuối trong đội mắt nàng
Đêm nghe sóng vỗ Đèo Ngang
Nhớ dòng nước mắt của nàng trao tôi.
Nín đi thôi – Nìn đi thôi
Đèo Ngang-nước mắt-trong tôi-là: Nàng.
1993
* Sinh năm 1950 tại Vinh-Nghệ An, quê mẹ Kỳ Anh. Sống tại Hà Nội. Đã xuất bản: Khát sống cuộc đời-NXB Quận đội 1992, Vẫn mãi bên nhau-NXB Thanh niên 1997

Ngọc Dương*

Lục bát Đèo Ngang
Xe tôi lên đỉnh Đèo Ngang
Mới hay trời cũng tày gang đỉnh trời
Chổ Bà huyện khóc đâu rồi
Chỉ thấy cỏ mọc trên đồi cằn khô.
Ai người gặp bác tiều phu
Cái nghèo níu mãi bây giờ chưa thôi
Bông lau bạc tóc cuối trời
Gặp hòn đá đứng đá ngồi không yên
Bông hoa thì chửa có tên
Hòn cuội dưới suối biết riêng phận mình
Non xanh xanh, nước xanh xanh
Trời đây đất đấy mà thành của nhau
Dừng chân trên đỉnh đèo cao
Phải trời và đất đớn đau chổ này.
Hoàng hôn trốn tìm trong mây
Tiếng chim đâu đó đong đầy gió sương.
Ngắm mà buồn, ngẫm mà thương
Câu thơ thủa ấy còn vương tới giờ.
* Sinh năm 1946 tại Quỳnh Lưu-Nghệ An. Cử nhân nghệ thuật. Hội viên Hội VHNT Hà Tĩnh. Tác phẩm: Hai khoảng đời-NXB VHTT 1999, Đường chân trời, thơ.NXB Văn hóa thông tin 2002

Phan Duy Đồng*

Qua Đèo Ngang
Xe vòng như trẻ trốn tìm
Qua vòng lượn, trăng nhô mình biển xa
Ngoài ki con sóng vỡ òa
Trong này chầm chậm xe ta lên đèo.
Chơi vơi một mảnh trăng treo
Nỗi niềm tâm sự còn neo bến trời.
Cuộc đời dẫu có mỉm cười
Thơ Bà Huyện vẫn rối bời lòng ta.
*Bút danh là Hồng Duy, sinh 1938, quê xã Cẩm Mỹ, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh. Hội viên Hội VHNT Hà Tĩnh.

Trinh Đường*

 Với Bà Huyện Thanh Quan
Bà đi đâu một mình qua Đèo Ngang
Chiếc cánh diều còn in trên non ngàn
Giữa bóng chiều tà tiếng chim hồn nước
Gió lùa! Qua cổng Quảng Bình quan.

Núi cao mà xưa nay không cô đơn
Nước nào không cau mặt với tang thương
Mảnh tình riêng của bà thời Lê Mạt
Còn giăng mây bàng bạc dãy Hoành Sơn.

Mỗi lần qua đây ai không thương Bà
Cùng bóng chiều dừng bước đỉnh đèo xa
Bao vua chúa đều trở thành bùn đất
Duy thơ Bà còn mãi với ngàn hoa.
1992
*Tên khai sinh Trương Đình, sinh năm 1919, tại thôn Đại Thắng, xã Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Sống tại Hà Nội. Hội viên Hội nhà văn Việt nam. Đã có nhiều tác phẩm xuất bản cả thơ và văn xuôi.

Đồng Thị Chúc*

VỀ MIỀN NẮNG GIÓ
                 Kính tặng miền đất Kỳ Anh-Hà Tĩnh

Tôi về thăm lại nơi xưa
Một ngày nắng tưởng như chưa bao giờ
Hàng cây đứng lặng như tờ
Thoàng cơn gió lại là đưa gió Lào.
Tôi về gặp lại tiếng chào
“Choa” “mi” “răng” “rứa” tiếng nào cũng vui.
Tôi về tìm chốn bùi ngùi
Chắp tay khấn lạy xin lùi nỗi đau.
Tôi về cùng bạn tìm nhau
Bát chè xanh chát đậm màu chất quê.
Thật thương trong nắng giữa hè
Dáng khom bóng chị đổ về lúa khoai.
Đất cằn thắm đẫm mồ hôi
Đã nuôi thành những lớp người trung kiên
Đã nuôi bao bậc tài hiền
Để danh sáng khắp mọi miền gần xa…
Tôi về như thể về nhà
Bâng khuâng nỗi nhớ khi xa chốn này…
Kỳ Anh 8-2001 Hà Nội 2011
*Đồng Thị Chúc. Sinh 1944. Quê sinh : tỉnh Bắc Giang.
Tác Phẩm: 1 Gót chân trần (thơ): NXB Thanh niên năm 1992
2 Lục bát tặng người xưa(thơ): NXB Hội nhà văn năm 2012 và Tái bản năm 2013. 3.Con gái thì thứ hai( Thơ)NXB Văn học 2017

(…còn nhiều nhà thơ, bài thơ trong cuốn sách, mời bạn đọc trong sách)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét