10.1.22

Chương 4: Kỳ Anh-Vùng đất của các thi nhân

Chữ rằng: Nhân kiệt Địa Linh / Có Hoành Sơn, Bàn Độ mới dĩnh sinh anh tài.

1. Văn học dân gian
Dù nằm trên đường thiên lý Bắc-Nam, trên là rừng, dưới là biển, Kỳ Anh xưa gần như là một vùng khép kín, tách biệt. Nhưng do sự biến động của lịch sử mà vùng đất này cũng dung nạp, bổ sung nhiều người từ mọi miền đến làm việc và ở lại sinh cơ lập nghiệp, nên văn hóa bản địa cũng có nhiều pha trộn, phong phú, và độc đáo.

Văn chương dân gian còn lưu lại khá nhiều trong nhân dân, nhất là lớp người cao tuổi và trong truyền thuyết, cao dao, tục ngữ, chuyện cổ tích, chuyện cười…mang đậm màu sắc địa phương.

1.1 Truyện cổ tích, truyền thuyết, truyện cười…

Câu chuyện cổ tích “Cuộc chiến tranh giữa núi và biển” là thiên thần thoại cổ kính, hiếm thấy ở Nghệ Tĩnh bây giờ. Không chỉ giải thích hiện tượng núi mọc ra biển ở vùng Kỳ Anh, mà phản ánh một thời lịch sử xa xưa, vẽ lên bóng dáng con người ngây thơ, chất phác, hồn nhiên của xã hội nguyên thủy, qua hình ảnh sống động như người của giới tự nhiên được nhân cách hóa.

Cổ tích còn nhiều truyện hay: “Người con út hiếu thảo”, “Chàng trai đánh hổ cứu công chúa”, “Nàng dâu khôn ngoan”, “Người học trò trung trực”, “Chuyện trầu cau”, “Chuyện Liễu Hạnh công chúa”….(1). Những truyện này không phải riêng ở Kỳ Anh, nhưng bối cảnh trong truyện phù hợp nhiều với thiên nhiên và con người nơi đây. Như “Truyện trầu cau” chẳng hạn, bối cảnh là người sơn cước, nhân vật không phải là những thư sinh với tên Tân, Lang, mà là người làm ruộng, đi săn, với những cái tên Trắng, Thơm, và nguyên nhân tấn bi kịch không phải do anh em hiểu lầm nhau, mà là do em liều mình cứu anh khi gặp hổ dữ…Chất nhân văn và trí tưởng tượng ở đây cao hơn, lối kể lại mộc mạc, có đoạn vần và rất cổ. Truyện “Liễu Hạnh công chúa” cũng vậy, không chỉ là tín ngưỡng mà còn phản ánh hiện tượng thiên nhiên. Trận đánh của bà chúa Liễu Hạnh với tám vị Kim Cương làm một vùng núi tan hoang phải chăng nói về những trận bão khủng khiếp ở mảnh đất này.

– Truyền thuyết cũng còn khá nhiều, nhưng chỉ còn lại những chuyện thời phong kiến gắn với các thần tích, như “Sự tích bà Bích Châu”, “Sự tích ông Hoàng Liệt Thượng”(Phùng Trí Tri), “Chuyện Thánh Tổ, Thánh Tiên” (nói về đền hai ông cháu Phạm Tiêm, Phạm Hoàng)…

Bên cạnh những truyền thuyết lịch sử này, còn có những truyền thuyết hoang đường, nhưng có tác phẩm sâu sắc.

“1” Xem truyện dân gian Nghệ Tĩnh. Tập1 và tập 2 của Thái Kim Đỉnh, NXB Nghệ tĩnh 1981-1985

– Truyện cười. Một số truyện cười ở đây cũng có nét riêng, do những người nông dân nghĩ ra từ công việc đồng áng hàng ngày, để lấy tiếng cười xoa đi mệt nhọc, như chuyện “Anh lính gan dạ”:

Chuyện kể rằng: Một người con trai bị bắt đi lính. Anh ta dùng một cái mo cau cắt thành cái hình…của cô vợ trẻ, mang theo trong người cho đỡ nhớ. Một lần đội quân của anh ta thua to, anh ta cùng đồng đội bỏ chạy thục mạng. Đến nơi an toàn anh ta phát hiện cái mo cau bị rơi mất, anh ta qua lại đi tìm. Vừa thấy anh ta quay lại đối phương tưởng mình bị phục kích nên bỏ chạy, anh hô quân mình đuổi theo. Sau trận đánh trở về anh ta được khen thưởng về lòng dũng cảm…

1.2. Tục ngữ, ca dao, dân ca, hò vè, hát ví, hát giặm…
Tục ngữ, ca dao, dân ca, hò vè…mang dấu ấn của vùng đất Kỳ Anh, nói về đặc điểm tự nhiên, xã hội, nghề nghiệp…, còn lại trong dân gian nhiều, cần sưu tầm tiếp:

Một vài câu ca dao tiêu biểu về xã hội, nghề nghiệp:
– Nắng hòn Ngheẹc (ngạch) mưa troóc (tróc) trời
– Chớp Mũi Đao dở hàng rào mà nấu.
– Khái Khe Cà, ma Cồn Mụ.

– Kẻ Dua hay nói giọng dằn
Đồng chua nước mặn mần chi ăn mà về?

– Cha đời cái kiếp phong trần
Ngày thì dang nắng, tối lại dầm sương đêm.

– Ai về Đồng Nại mà coi
Mưa thì nằm ngủ, nắng có khoi ra mần…

Một số câu ca dao nói về phong thổ:
– Chợ Voi chân dép, chân giầy
Thung dung nhàn hạ không mô tày bằng chợ Voi.

– Đan Du nổi tiếng Dinh Cầu
Trước cồn phượng lộn, sau bàu hóa ngư.

– Mặt trời nửa đỏ nửa vàng
Ai về Hồng Lệ ăn khoai lang thì về.

Một số câu ca dao phản ánh về lịch sử:
– Khi đi vọng tía tán vàng
Khi về võng lác, đòn càn khổ chưa.

– Điếu tre thuốc lá phì phào
Vợ con có biết cơ mào (màu) khổ thân.

– Kìa ai tiếng khóc nỉ non
Phải vợ chú lính trèo hòn Đèo Ngang.

– Ông cha gây dụng cơ đồ
Chàng ra tay báo phục, thiếp giúp cho trị bình…

Hò vè
Là một loại hình phong phú, về hình thức hầu hết được làm theo thể hát giặm. Hiện nay sưu tầm được không nhiều, nhưng một số bài vè cũng phản ánh đầy đủ mọi mặt cuộc sống của nhân dân địa phương. Có những bài vè thuộc về phong thổ, nói về một làng, một địa phương, chẳng hạn vè “Ai về chợ Cầu thì về”, “Long Trì long hữu được long”…, có những bài vè nói về thời sự, ví dụ như “Phương Giai kiện Hữu Lạc”, “Ông huyện Dao cưới vợ”, “ Lý trưởng hại dân”, “Lên trời xin mưa”…, có những bài nói về tinh thần yêu nước, phong trào chống sưu thuế… như: “Vè Lân Biểu”, “Vè Tây sang”, “Thầy Thông ra làm lý trưởng”…

Hát ví, hát giặm
Đất Vạn Tràng chạy cá
Đất Trung Hạ đốt vôi
Đất Kẻ Dua bầy tôi
Đứa nằm ngả trên nôi
Cũng biết đàng hát giặm
Cũng như nhiều nơi khác ở Nghệ Tĩnh, Kỳ Anh cũng là một vùng đất hát ví, hát giặm nổi tiếng trước cách mạng tháng tám.

Không chỉ đất Kẻ Dua, Đan Du,  mà từ chợ Voi, Tuần Tượng đến Kẻ Dỏ, chợ Cầu, Hải Khẩu, Thần Đầu lên Vọng Liệu…đâu đâu cũng hát ví, hát giặm. Vùng nào cũng có những nghệ nhân tiêu biểu. Những anh Nhàn (Vọng Liệu), o Loan, o Nộ (Xuân Sơn), o Thuyn (Mỹ Lũ), cu Tầng, cu Huyên (Biểu Duệ), o Sắt (Sa Xá), cố Công (Hải Khẩu), Bẹp Liêu (Đan Du), anh Quốc, anh Lình (Thanh Sơn), ông Gàng (Phú Thượng), mụ Tòng, anh Trạo, Bẹp Tương, anh Thuynh, cố Xuân (chợ Voi). Có những người thuần túy nông dân như anh Thiệp, bà Trùm Nghêm, anh Duynh, anh Viện…, có cả những nho sĩ như Hải, Nhu, Hoán (ở Phú Dẫn), Hợp (Long Trì), có cà “con quan phủ Triệu” là Cả Trạch và cô Thòe, có cả các nhà khoa bảng như ông Tú Lê (Thanh Sơn), ông Phó bảng Kỷ (Tuần Tượng)…

Nhưng tiếng tăm hơn cả và để lại nhiều giai thoại đến nay là cô Nhẫn ở Đan Du.

Những nghệ nhân ví, giặm ở Kỳ Anh đã có sức lôi cuốn các tài tử nơi xa như: Đầu huyện Hiến (Nghi Xuân), Cháu Xanh (Đức Thọ), Lương Đấu (Thạch Hà), Cả Cánh (Nghi Lộc)…và nghe đâu Giải San cũng có mặt ở đây.

Hát Sắc bùa
Là một hình thức ca múa nhạc dân gian, từ lâu đã trở thành tục lệ sinh hoạt văn hóa trong dịp Tết Nguyên Đán ở nhiều làng xóm ở Kỳ Anh, cũng như các huyện khác trong tỉnh.

Phường Sắc Bùa ở Kỳ Anh thường có 5 người trung niên hoặc thanh niên, có phường có vài vị lão niên. Họ thường mặc quần trắng, áo dài đen, đầu vấn khăn, thắt dải lưng điều hay hoa lý. Họ thuộc các bài hát chúc tụng và biết múa, sử dụng một trong các nhạc cụ: trống “tầm vinh” (hay tùng vinh), trống “rập”, điêu đẩu, cặp sinh và sinh tiền.

Trước kia, phường Sắc Bùa một số nơi trước khi vào hát chúc cũng dán “bùa” yểm trấn lên cửa. Về sau có nơi đốt pháo đùng để “mở hàng” may mắn.

Các điệu hát Sắc Bùa không khó, ai cũng có thể hát được, nhưng phường Sắc Bùa nghiêm túc là một tở chức chuyên nghiệp nên phải gồm những người biết hát hay và múa giỏi.

Ở Kỳ Anh ngày trước, nhiều làng ở tổng Đậu Chữ, tổng Hà Trung và tổng Cấp Dẫn có phường Sắc Bùa hoạt động trong dịp Tết.

Dưới đây là một trích đoạn Sắc Bùa:
-Hát chầu:
Tống cựu nghing tân
Trai tôi xin dâng một đường chúc thọ
Nay mừng quan họ
Được đông vãn xuân lai.
Trên từ đường hương xạ thơm bay,
Dưới con cháu được “Khang cù kích nhưỡng”.
Ân dày nghĩa trọng
Đạo làm con dĩ hiếu vi tiên
Trong bốn phương rạng rỡ hương đèn
Ngoài tám cõi siêu siêu đà ảnh hưởng
Trửa tiên án nghê chầu phượng lộn
Trên bàn thờ tiên tổ nguy nga
Bên ngoài treo biển đối màn hoa
Dưới chiếu miến giường tàu nghi vệ.
Phụ truyền tử kế,
Phải người thờ hương hỏa bách niên.

Vào hát dịch:
Nay vừa gặp tiết xuân thiên,
Trai dâng đôi chữ bình yên mừng người.
Trừ tịch là đêm ba mươi
Tết nhất chơi bời mở tiệc vinh hoa.
Trên thờ tiên tổ ông bà
Dưới thờ thúc phụ, sau là cô di
Sang xuân têt được một kỳ…..(1)

Hát trò
Tức là hát chèo, là hình thức sân khấu dân gian khá phổ biến ở Kỳ Anh và Hà Tĩnh. Trước đây Kỳ Anh có hàng chục phường trò, chuyên hát “Trò Kiều”, “Trò Trương Viên”…Hàng năm cứ vào dịp đầu xuân, làng nào có phường trò đều mở cuộc hát vài ba đêm, các làng không có thì mời các phường nơi khác đến hát vào dịp hội hè…

Phường trò ở đây chủ yếu biểu diễn hai vở Kiều và Trương Viên (một số nơi ở Hà Tĩnh còn bểu diễn Thị Kính), nhưng hàng năm diễn lại vẫn thu hút người xem và có nhiều người thuộc lòng cả bài trò.

Cùng với hát trò, ở Kỳ Anh nhiều nơi xưa kia cũng có “hát tuồng”
Từ sau cách mạng tháng 8-1945, các phường trò đều ngưng hoạt động.

Hát ru
Hát ru con là một hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian của người Việt nói chung, nhưng mỗi vùng miền cũng có những lối hát riêng mang tính địa phương. Có rất nhiều bài hát, lối hát phong phú theo từng giai điệu.

Ở Kỳ Anh đến nay vẫn lưu truyền một bài ru con buồn được nhiều người thuộc, nhất là những người lớn tuổi và khi buồn hay một mình ngâm nga..
Đây là bài hát khuyết danh, có lẽ chúng tôi tự tiện đặt tên là: Lời ru buồn, cho hợp nội dung

LỜI RU BUỒN

Mẹ dòng lệch gối nghiêng chăn.
Đêm đông trường cưởi lạnh.
Biết than rằng với ai?
Trong sách có chữ tài
Gái hồng nhan bạc phận
Số mẹ dòng bạc phận.

Em đi đò mấy bận
Bạn qua truông mấy lần
Đò chưa qua khỏi tuần
Duyên lại càng trắc trở.

Cầu ô bắc đã lỡ
Đinh đóng nỏ nhằm chiều
Về sữa nhịp cầu xiêu
Đóng đinh vô khó tháo
Đinh đóng rồi khó tháo.

Nghĩa vợ chồng là đạo
Tưởng đầu gối tay kề.
Chàng vui thú vườn huê .
Thiếp buồng đơn lạnh lẽo
Thiếp loan phòng lạnh lẽo…

Thương đôi cây đào, liễu
Búp măng sữa mới lên
Đào mới biết đi men
Liễu vừa chừng đứng dậy.

 Đào thơ lâu đào nậy
Liểu yếu rồi liễu khôn
Búp hoa quế trên cơn
Măng đợi chờ sương cưởi. 

Nỏ thà đứt mà nối
Vô sự tiểu thành tiên
Liền chưa xong phận liền
Đứt đã đành phận đứt

Cây trên rừng nỏ bứt
Quả đào lựu nỏ vo
Thân em rối như vò
Nhủ em lo răng được
Em lo tròn răng được.

Chừ như bèo cạn nước
Cá sủi vẩy nằm khô
Em đợi đến khi mô
Để cho trời vần vũ
Để mặc trời vần vũ.

Cây tàn thì lá úa. Mặt mũi em âu sầu
Số mệ dòng như cưởi bá cành dâu….
                                                          Khuyết danh
(Không biết có còn không, chúng tôi thấy kết này chưa chuẩn lắm, nếu còn sẽ bổ sung sau.)

 Và bài hát ru con lưu truyền rộng rãi trong vùng xứ Nghệ: Phụ tử tình thâm ai ai cũng biết, cũng thuộc ít nhiều.

Lời bài hát: Phụ Tử Tình Thâm
“Ϲông cha như núi Thái Ѕơn
Ɲghĩa mẹ như nước trong nguồn chảу ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Lo tròn chữ hiếu mới là đạo con…”

Phụ tử tình thâm
Ϲông thầу rồi nghĩa mẹ
Đừng có tiếng tăm chi nặng lời
Đừng cả tiếng dài hơi
Ɲói mẹ cha sao nên
Mà cãi mẹ thầу sao phải
Ơ… đêm dài nằm nghĩ lại
Ɲhớ đến cội thung huуên
Ϲông cù lao ai đền
Ɲghĩa sinh thành ngàу trước
Khi đọi cơm rồi bát nước
Ước phụ tử tình thâm
Thầу đói rách nợ nần
Mẹ cũng đói rách nợ nần
Ϲũng vì con thơ ấu
Ɗừ phụ trải trắc mẫu
Rồi trắc trải khó khăn
Ϲon ở có thủу có chung
Được phụ từ tử hiếu
Mà được phụ từ tử hiếu
Ɗăm ba cành đào liễu
Ѕáu bàу quả nam nhi
Thầу chưa được nhờ chi
Mẹ cũng chưa được nhờ chi
Đền công ơn cho đáng
Ϲông mẹ thầу cho đáng
Rồi mười ngàу chín tháng
Mẹ thức dục nén thai
Ϲon nên một nên hai
Thầу ấp iu bồng bế
Mẹ ấp iu rồi bồng bế
Ϲon con nên ba nên bốn
Ϲon tríu mẹ chưa rời
Đứa sáu bảу ăn chơi
Ϲon chín mười khôn nậу
Mà đứa chín mười khôn nậу
Ơ … giừ thầу chưa được cậу
Mẹ cũng chưa được nhờ
Giừ mẹ đang phải lo
Đứa mảnh khăn tấm áo
Đứa mảnh quần ơ tấm уếm
Ϲon mười lăm mười bảу
Ϲon ăn học dùi mài
Đứa mười chín đôi mươi
Lo chăm xa dựng họp
Lo cửa nhà dựng họp
Khi hoa cười ngọc nở
Ϲhốn đào liễu sung vầу
Thầу mơ tưởng đêm ngàу
Ước dâu hiền mà rể hiền
Ước dâu hiền mà rể thảo
Ơ… Thánh hiền là đạo
Rồi khuất bóng từ bi
Ϲon có lỗi điều chi
Xin mẹ thầу xá quá
Ϲon đừng cậу thượng rồi át hạ
Ở ra dạ khinh thường
Ϲon đừng đứa ghét thương
Ϲũng nhấp giai chi tử
Ϲũng giai bằng chi tử
Giừ trong sách có chữ
Ϲon mới phải trông vào
Thầу một tuổi một cao
Mẹ một tuổi một già
Ϲon đừng có bấc chì nặng nhẹ,
Ϲhớ có bấc chì nặng nhẹ.
Ϲon ở gần thầу mẹ
Phải xâу đắp vun trồng,
Khi vợ dại thì có chồng
Phải vào ra thăm viếng,
Phải đi về thăm viếng.
Khi đồng quà chữ bánh
Khi bún sốt lòng tươi
Ta nâng giấc cho người
Kẻo mai rồi tạ thế
Mai sau rồi ta thế
Ơ… rồi một mai bách tuế

Rồi câу úa lá vàng
Lá rụng cội đại ngàn
Ϲon tìm mô được nựa
Mà con muốn tìm mô được nựa
Khi cúng hương cúng lửa
Khi vào bái ra quỳ
Ɗừ đặt mâm lên thì

 Nỏ thấу thầу mẹ ăn chi
Ϲhỉ thấу ruồi với ruồi
Mà chỉ thấу ruồi với kiến
Ϲhiêm bao khi tưởng đến
Ɗù than vắn thở dài
Thầу không đoái không hoài
Mẹ cũng nỏ đoái nỏ hoài
Thật là phụ từ tử hiếu
Ai ơi làm con trọn đạo
Ɲhắc ai nhớ ghi lòng… à á à ơi

Hát ví và nhân vật tiêu biểu; Cô Nhẫn-Đan Du
Cô Nhẫn-Võ Thị Nhẫn (1885-1958), con một ông Chánh tổng ở Đan Du, nhưng thực chất cô cũng là một nông dân. Cha mất lúc mới lên sáu bảy tuổi, cửa nhà sa sút, mẹ không đủ sức nuôi con, cô phải đi ở cho nhà giàu đến sáu bảy năm, lúc về “cao số muộn chồng’ trên ba mươi cô mới thành gia thất.

Từ nhỏ không được học hành, lúc đi ở, ông chủ có nuôi thầy đồ trong nhà, việc của cô quét dọn, lo trầu thuốc, cơm nước, hầu thầy đồ nên do sáng dạ mà học mót được khá nhiều chữ, nhiều câu, nhiều điển tích trong thi, thư mà thầy đồ giảng cho học trò. Đặc biệt từ rất sớm cô đã có tài ví, hát, những chữ nghĩa bòn mót được khi đi ở cô đã biết vận dụng một cách sáng tạo, tài tình, nên những câu ví của cô làm các các nho sĩ cũng phải kinh ngạc.

‘Giăng giăng nguyệt dọi sân đình
Gió phong phanh thổi, sao linh tinh tàn”
(giăng tức trăng = nguyệt, gió=phong, sao=tinh)
Nghe nhửng câu ấy, ai dám bảo cô là người thất học?

Tiếng tăm cô Nhẫn vì thế lan ra cả khắp vùng Nghệ Tĩnh.

Cô Nhẫn và phường ví, giặm Kỳ Anh để lại nhiều câu hát đặc sắc, nhiều giai thoại lý thú. Ta thử tìm hiểu một vài giai thoại:
– Có lần đi bắt cáy về, cô gặp một bạn trai, anh ta liền hát giẹo:
“Người ta bắt cáy đầy oi
Răng em bắt được nạm cáy ròi rứa em ”

Cô Nhẫn ví đáp lại:
“Lòng thương dạ nhớ thầy nho
Chân buồn tay rụ, ai bắt cho mà đầy” ?

– Có lần gặp ba anh : cu Biên, cu Hải, và cậu Chu, có ý trêu giẹo, cô Nhẫn liền ví một câu, gọi tên cúng cơm của ba chàng nho sĩ, làm ba chàng ngớ ra không đáp nổi :
Gặp đây em hỏi thật anh hào
Biên, Chu, Hải ngoại, ngộ ba đào tính răng “.
(Biên, Chu hải ngoại ngộ ba đào tính răng, có nghĩa là: Chiếc thuền lẻ loi ngoài biển gặp sóng gió)

– Phó bảng Kỷ, người đen, râu quai nón, có lần bị cô hát chọc:
“Em liếc xem bức tranh sơn thủy tùng đình
Búc tranh này rạng rỡ, em say tình biết bao”

Kỷ cũng ví trêu lại:
Nước lên nhẫn nhẫn bờ rào
Thuyền người ta sang cả, em cầm sào đợi ai” ?

Câu ví có tên Nhẫn, cô liền ví lại có tên Kỷ :
Mặc nước lên nhẫn nhẫn bờ rào
Em đợi người tri kỷ cầm trào cho em sang”.

– Cả Trạch, con ông nghè Nguyễn Đức Huy, tri phủ Triệu Phong, người Thạch Hà vào ở chợ Voi, Lần ấy hát với cô Nhẫn, cô ví hỏi tên, quê quán, Trạch đáp lại có vẻ tự hào :
Bây giờ anh nói với thuyền quyên
Anh con quan phủ Triệu ở miền chợ Voi”

Cô Nhẫn liền lấy tích : Mạch mẫu trạch lân vặn lại :
“Chữ rằng :Mạch mẫu trạch lân
Cớ chi quan phủ Triệu lại ở gần chợ Voi”?
Nghe hỏi cậu cả không sao trả lời nổi, vì xưa mẹ Mạnh tử còn biết chọn nơi xóm làng tốt để ở dể con được nhiễm  tính thuần lương, sao quan phủ lại chọn nơi chợ để ở? Nên vì mách với cha, ông bố liền gà cho cậu con một câu để hôm sau  đáp lại:
Chũ rằng:vương thổ vương dân
Nên quan phủ Triệu mới ở gần chợ Voi”
(Vương thổ vương dân là ở đâu cũng đất, cũng dân của nhà vua)

– Nguyễn Thức Canh, con quan Sơn phòng sứ Nguyễn Thức Tự ở Đông Chữ- Nghi Lộc- vào Kỳ Anh trá hình làm khách ăn chơi để vận động phong trào yêu nước, có lần trong buổi hát đã ví một câu chòng giẹo:

Nhất cao là núi Hoành Sơn
Lắm hươu Bàn Độ, to lườn chợ Voi”
“Mặc ướm hở lườn” là ý nói đàn bà nở ngực, nở vú, cô Nhẫn vận dụng ý của cô Điểm ngày xưa đáp lại sứ Tàu:

Chữ rằng nhân kiệt địa linh
Có Hoành Sơn, Bà Độ mới dĩnh sinh anh tài”
Hai câu trên không phải mới đặt mà cô đã vận dụng rất sáng tạo trong trường hợp đó.

Lúc tuổi đã cao cô không đi hát nữa, nhưng vẫn thường có mặt trong các cuộc hát ví và gà bài cho các cô, cậu trẻ, làm đối phương không gỡ nổi.

– Có lần cô Thuyn ở Mỹ Lũ ví trách bọn con trai bỏ cuộc hát:
Đôi ta tình trúc nghĩa mai
Ai ngờ Lưu, Nguyễn bỏ Thiên thai ra về”

Các cậu lúng túng, phải viện đến cô Nhẫn mới đáp được:
Đôi ta tình nghĩa ái ân
Chốn Thiên thai mà bỏ bởi bụi hồng trần còn mang”

Cô Nhẫn mất năm 1958, thọ 73 tuổi, nhưng với người dân Kỳ Anh thì cô vẫn mãi trẻ trung với tài năng của một nghệ nhân dân gian. Không những tên tuổi cô sống mãi mà cả những bạn hát của cô, trong đó có cả các nho sĩ, trí thức đầu huyện như Đầu huyện Hiến, Cả Trạch, Cả Canh, Phó bảng Kỷ cũng được lưu danh theo…

1.3. Lễ hội ở Kỳ Anh
Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa rất phổ biến ở nông thôn trong cả nước, ở Kỳ Anh cũng vậy.

Hàng năm, các làng đều có lễ tế thần Thành hoàng làng vào tháng giêng hay tháng 6 âm lịch, hoặc vào ngày kỵ của các vị thần, như: đền Sơn Triều tế vò ngày 6-giêng (ngày giổ Phạm Hoàng), đền Hưng Nhân-ở Kỳ Hưng tế vào ngày 12-10 (ngày giỗ Phạm Tiêm), đền Hải Khẩu tế ngày 12-2 (ngày giỗ Nguyễn Cơ Bích Châu)…Ngoài các nghi lễ tế, các làng còn tổ chức rước sắc thần và các trò vui, các cuộc thi…

Rước sắc là để biểu dương nghi trượng của thần, vừa là cuộc diễu hành biễu diễn nghệ thuật với kèn trống, cờ quạt, áo quần, kiệu, hương án, nhạc bát âm…

Một số làng gần biển, sông nước thì rước bằng thuyền. Những dịp này dân làng thường tổ chức các cuộc thi vui như: thi nấu cơm ở Long Trì, Tuần Tượng, thi bơi chèo ở Hải Khẩu, Đạo Nguyên, Trạch Hậu, thi các trò chơi dân gian như: Kéo co, đi cầu kiều, cướp cù, đập cù…

Tế lễ thì chỉ có lý hương, hào lão tiến hàng, còn rước sắc, các cuộc thi, trò chơi…thì nam phụ lão ấu trong làng đều tham gia, còn thu hút cả khách thập phương đến dự.

Ngoài lễ hội đền, chùa phổ biến ở các làng, còn có lễ hạ điền, hạ thuyền, lễ cầu ngư (vùng biển), lễ tế liệp (phường săn-ở vùng Vọng Liệu, Ngưu Sơn, Đại Hào…), lễ hội hoàn công đền, miếu….Một số nơi còn có lễ hội đặc biệt như lễ tế thần cá ở các làng biển, lễ tế Bà Dàng ở Ngưu Sơn, lễ “Thay khoán” ở vùng Cửa Khẩu (Kỳ Phú, Kỳ Khang, Kỳ Ninh…),

Tế ngư thần (cá voi) ở các làng biển đều có, nhưng có nơi như Long Trì cứ 12 năm mới mở hội một lần.

Bà Dàng là một nhân vật huyền thoại. Tương truyền bà ở dưới Đèo Ngang và chết vì thuốc độc, được dân lập miếu thờ. Ở Ngưu Sơn có tục đến ngày giỗ bà Dàng thì dọn cỗ xôi gà và tôm kho, trước khi dâng lên cúng phải ăn nếm và đọc câu ca:

“Bà Dàng kia hỡi bà Dàng
Bà ăn độc dược thác oan mình bà
Giừ đây cơm nếp thịt gà
Thì tôi ăn trước cho bà ăn sau”

Lễ “Thay khóan” cũng 12 năm cúng một lần. Người ta làm một cái “tráp vàng” (hàng mã) cầu thần Độc Cước lên yểm trấn rồi dán tờ khoán (tờ ước) lên cổng hay cây đầu làng, có ý nói rằng đất này đã khoán (có chủ) rồi, không ai được tranh chấp nữa.

Kỳ Anh cũng có nhiều chùa chiền, nhưng ngoài lễ “thí thực” vào dịp trung nguyên, không có hội chùa rầm rộ như những nơi khác. Ở Ngưu Sơn lễ “thí thực” lại được kết hợp với lễ cầu ngư, ở Đan Du thường có hội làm chay. Đó là những nghi lễ liên quan đến đạo Phật.

Ở các nhà thờ Thiên Chúa giáo thì tổ chức long trọng lễ Thiên Chúa Giáng sinh, nhưng không được rầm rộ so với các nơi đô hội.

Tết Nguyên Đán hàng năm là dịp tập trung các hoạt động văn hóa quy mô nhất. Ngoài tế lễ gia tiên và Thành hoàng làng, các địa phương đều có những hoạt động vui chơi trong ba ngày tết như các nơi khác trong cả nước. Phổ biến là sắc bùa, chơi đu, kéo co, đánh cù, ca hát…

Rất tiếc là sau cách mạng tháng tám thành công 1945, trải qua hai cuộc chiến tranh khốc liệt với Pháp và Mỹ, lại bị ảnh hưởng bởi cuộc Cách mạng văn hóa của Trung Quốc mà đảng cộng sản Việt Nam cầm quyền đã mắc sai lầm, cho đập phá các chùa chiền, di tích lịch sử từ thời phong kiến, cấm một số các hoạt động văn hóa dân gian… Bây giờ mới dần cho khôi phục lại để bảo tồn.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét