10.1.22

Chương 3: Các điểm sáng về giáo dục

1. Giáo dục thời phong kiến đến 1945

– Do hoàn cảnh địa lý và lịch sử, việc học hành của người dân Kỳ Anh xưa không được phát triển như các huyện khác trong tỉnh và cả nước. Người dân chủ yếu đều mù chữ.
Mặc dầu từ thế kỷ XV, XVI đã xuất hiện các nhà đại khoa đỗ đạt thành danh, nhưng đó cũng chỉ là những trường hợp đặc biệt, không tiêu biểu cho nền học vấn của địa phương. Đầu thế kỷ XVI, theo lời truyền đã có trường học do “Quan trạng Thần Đầu” Lê Quảng Chí mở nhưng cũng không ghi lại gì nhiều trong sử sách.

Phải đến sau cuộc nội chiến Trịnh – Nguyễn (1627-1672) vùng Nam Hà (nam sông Lam) được ổn định, trấn lỵ Dinh Cầu được thiết lập mới tạo cơ hội cho vùng biên viễn này được học chữ.

Các trấn quan, cả văn thần, võ tướng, nhiều người là nhà khoa bảng, nhà văn hóa có tiếng tăm trong nước, mong muốn thi hành trách nhiệm giáo hóa của mình.

Trường học, trường thi của trấn đều đặt ở lỵ sở Lam thành (chợ Tràng). Nhưng ở Dinh Cầu ít ra cũng đã có trường tiểu tập, trung tập cho quan lại và con cái của họ.

Thỉnh thoảng ở trấn lại có cuộc ứng điểm cống sĩ.

Năm Giáp Ngọ (1774), niên hiệu Cảnh Hưng thứ 35, La sơn phu tử Nguyễn Thiếp đi dự “ứng điểm” tại trấn sở. Qua núi Bàn Độ thách nhau làm thơ lấy vần “bàn”, hẹn đi vài chục bước phải xong. Bài của Phu tử được coi là xuất sắc nhất.

Không khí văn chương, văn hóa ở trấn lỵ lan tỏa ra khắp quanh vùng. Các nho sĩ bắt đầu mở trường dạy học ở các làng xã. Các nhà giàu, có điều kiện mời các thầy về nhà cho con học, theo đòi bút nghiên. Tuy nhiên đến đầu thế kỷ XIX. Phan Huy Chú (1782-1840) vẫn nhận xét: “Về văn học, thi cử thì huyện Thạch Hà nhiều hơn, huyện Kỳ Hoa chỉ có một phần”.

Mặc dầu từ đời Lê, Mạc huyện kỳ Anh đã có 1 vị đỗ Bảng nhãn (Lê Quảng Chí) và 2 vị đỗ Đồng tiến sĩ: Lê Quảng Ý, Phùng Trí Tri (1), nhưng đến cuối đời Nguyễn Kỳ Anh mới thật sự có nền học vấn.

Nổi lên trước tiên là nhà họ Lê ở Mỹ Lũ (Kỳ Văn). Họ này nguyên là dòng dõi võ tướng ở làng Đình Bảng-Bắc Ninh, vào Kỳ Anh làm quan võ (đời thứ tư, thứ năm có người được phong tước bá, tước tử). Từ đây con cháu mới học hành, thi cử, đến năm Minh Mệnh thứ 18 (1817), khoa Đinh Dậu mới có người đỗ tú tài đầu tiên. Dưới các triều Thiệu Trị, Tự Đức dòng họ này mới phát triển rực rỡ cả khoa và hoạn. Lê Đức đỗ Phó bảng, em ruôt ông là Lê Doãn đỗ Cử nhân và Lê Tuấn đỗ Hoàng giáp. Trước sau họ Lê có hai vị đại khoa, bốn cử nhân (Lê Doãn, Lê Vĩ Cán, Lê Hoài Tâm, Lê Nhất Hoàn), ba tú tài (Lê Lạng, Lê Nguyên Tư, Lê Lai nhự). Không chỉ khoa cử, họ Lê còn có nhiều người xuất sắc về văn chương.

Cùng thời với họ Lê ở Mỹ Lũ, có họ Nguyễn ở Phú Thượng, họ Trần ở Long Trì, họ Nguyễn Trinh ở Trung Giáp, họ Phan Công ở Nhân Canh, họ Nguyễn Tiến ở Tuần Tượng, họ Lê ở Xuân Cẩm, họ Dương Xuân ở Xuân Cẩm và Như Nhật…và một số họ khác đều có người học hành thành đạt.

Họ Nguyễn ở Phú Thượng có hai người con đỗ cử nhân (Nguyễn Nhu, Nguyễn Trọng Thường), họ Trần Công ở Long Trì có Trần Công Thưởng đỗ cử nhân, họ Nguyễn Trinh ở Trung Giáp có hai người đỗ cử nhân (Nguyễn Văn Vỹ, Nguyễn Trinh Mai), và hai tú tài (Nguyễn Trung Lý, Nguyễn Trinh Túc), họ Nguyễn Tiến ở Tuần Tượng có Nguyễn Tiến Kiêm (tức Kỷ) đỗ Phó bảng, họ Phan Công ở Nhân Canh có Phan Công Kế trúng đầu xứ…

Không chỉ có mấy gia tộc trên, đến đầu thế kỷ này, phần lớn làng, xã đều có trường, lớp dạy chữ Hán, một bộ phận con em nông dân, ngư dân ít nhiều đã biết chữ… Từ đầu triều Nguyễn ở phủ lỵ Hà Thanh (sau là Kỳ Hoa, kỳ Anh) có trường huyện, đứng đầu là một huấn đạo, kiêm việc giảng dạy các lớp trung tập, đại tập và chọn người đi thi hương…Trường đặt phía nam huyện thành ở địa phận xã Nhân Canh (Kỳ Châu).

Cuối thế kỷ XIX, chữ quốc ngữ bắt đầu xâm nhập vào Hà Tĩnh. Nhưng từ đó cho đến khi các khoa thi hương bị bãi bỏ (1920) và cả đến trước cách mạng 1945, một số lớp Hán học ở nông thôn do các ông thầy đồ mở vẫn song song tồn tại bên cạnh hệ thống giáo dục Pháp-Việt. Ở các trường công cũng có giờ dạy chữ Hán hàng tuần…

Trong những năm 1920…bắt đầu có các trường công dạy chữ quốc ngữ và chữ Pháp. Khoảng 1925 cả huyện Kỳ Anh có 2 trường sơ cấp (2 đến 3 lớp), và 8 trường làng học chữ quốc ngữ. Năm học 1930-1931 có 2 trường sơ đẳng ở huyện lỵ: Trường Kỳ Anh và tại Tuần Tượng – Trường Cấp Tuần, 8 trường dự bị và 12 trường làng.

– Trường Kỳ Anh có 4 lớp: Đồng ấu, dự bị, sơ đẳng, trung đẳng.(Trung đẳng tương đương lớp nhì đệ nhất)

– Trường Cấp Tuần có 3 lớp: Đồng ấu, dự bị, sơ đẳng.

Mỗi trường có 1 đốc học, 1 trợ giáo và 1 phụ giáo chữ Hán.

– 8 trường dự bị là Đan Du, Mỹ Lũ (tổng Hà Trung), Trường Lại, Quyền Hành (tổng Hoằng Lệ), Đậu Vĩnh, Sơn Luật (tổng Đậu Chữ), Phú Dẫn (tổng Cấp Dẫn), Vọng Liệu (tổng Vọng Liệu). Mỗi trường co 2 lớp đồng ấu và dự bị, có 1 tạm giáo dạy chữ Pháp, chữ quốc ngữ, 1 phụ giáo dạy chữ Hán.(Các trường Đan Du, Mỹ Lũ, Phú Dẫn, Trường Lãi, Đậu Vĩnh, Sơn Luật thì tạm giáo dạy luôn cả hai chữ)

– Các trường làng (12 trường) phải cách trường công từ 1-2 km  trở lên mới được phép mở. Các trường làng có thể đặt ở nhà riêng hoặc đình làng, thầy giáo do xã mời, học phí do dân chi cấp. Trường tư các xã phải dạy theo chương trình học như trường công, hàng năm được chon học sinh đi thi sơ học yếu lược. Tổng số học sinh cả huyện thời kỳ này chỉ có 544 em.

Đến năm học 1941-1942, huyện Kỳ Anh có một trường tiểu học công ở huyện lỵ, (có 2 giáo viên và 69 học sinh), một trường sơ học công có 2 giáo viên và 72 học sinh, 7 trường sơ học liên hương (có 7 giáo viên và 256 học sinh), 1 trường sơ học tư (có 1 giáo viên và 24 học sinh), và 9 lớp học gia đình (có 9 giáo viên và 106 học sinh.

Như vậy, toàn huyện chỉ có 19 trường học với 21 giáo viên và 527 học sinh cấp tiểu học trong 97 làng, xã với số dân 49.124 người, cứ hơn 5 làng mới có 1 trường sơ, tiểu học, hơn 93 người dân có 1 người đi học (2).

Cũng như toàn tỉnh và cả nước, sự nghiệp giáo dục ở Kỳ Anh được phát triển mạnh mẽ sau cách mạng tháng tám 1945.

(1) Truyền thuyết và thần phả ở địa phương nói Phùng Trí Tri đỗ Hoàng giáp và thường gọi “Ông hoàng Liệt Thượng”-theo Đăng khoa dị thảo của Phan Huy Ôn
(2) Theo các tài liệu lưu trữ của chính quyền Pháp

2. Giáo dục thời đại mới từ 1945
Cùng việc khai giảng năm học mới, đầu tiên sau cách mạng tháng tám trong cả nước, tháng 9-1945, một phong trào “Diệt giăc dốt” với những lớp bình dân học vụ được mở rộng từ thành thị đến nông thôn.

Ở tỉnh có Ty bình dân học vụ, ở huyện, xã đều có Ban bình dân học vụ. Ngày 3-11-1945 tỉnh tổ chức “ngày khuyến học”, vận động nhân dân xây dựng quỹ bình dân học vụ. Đến tháng 12-1945, toàn tỉnh có khoảng 2000 lớp học vào buổi trưa, buổi tối, với 51.000 học viên. Riêng ở Kỳ Anh có khoảng 150 lớp với gần 2000 học viên. Khắp các xóm làng nam nữ, gà trẻ háo hức tham gia.

Trong chiến dịch “hai năm diệt dốt” 12/1946-12/1048 Kỳ Anh đã có 7672 người thoát nạn mù chữ, được công nhận là huyện hoàn thành xóa nạn mù chữ đợt 1 trong toàn tỉnh, góp phần để Hà Tĩnh được công nhận là tỉnh hoàn thành xó nạn mù chữ đầu tiên trong cả nước và được tặng Huân chương độc lập hạng nhì.

Cùng với ngành giáo dục bình dân, một thành tựu quan trọng nữa của Kỳ Anh là ngành giáo dục sơ học, tiểu học cũng bắt đầu được xây dựng ngay sau ngày cách mạng thành công.

Năm 1948, toàn huyện có 1014 học sinh tiểu học, năm 1949 có 1030 học sinh tiểu học và Trường Liên Việt Kỳ Anh (tương đương cấp II) khai giảng có 165 học sinh.

Đên 1956 các xã đều đã có trường cấp I với 2300 học sinh và trường cấp II Kỳ Anh chính thức thành lập với 91 học sinh

Từ đó số học sinh tăng không ngừng. Năm 1960, toàn huyện có 4827 học sinh cấp I, 447 hoc sinh cấp II.

Năm 1966 toàn huyện có 4827 học sinh cấp I, 2434 học sinh cấp II. Trường cấp III Kỳ Anh khai giảng khóa đầu tiên với 155 học sinh.

Hai mươi năm sau (1986), số học sin cấp I là 18.717 em, cấp II là 7078 em, cấp III là 1840 em.

Từ năm 1991, ngành học phổ thông đổi thành 3 cấp: tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông. Số học sinh tiểu học từ 19.986 hs năm 1991 tăng lên 23.200 năm 1994. Trong thời gian đó học sinh Trung học cơ sở từ 5875 tăng lên 7100 học sinh và học sinh trung học của hai trường (Kỳ Anh và Nguyễn Huệ) từ 594 tăng lên 1009.

Ngành mẫu giáo cũng phát triển tốt. Năm 1991 cả huyện có 105 nhà trẻ, với 3050 cháu, và 6584 cháu vào các lớp mẫu giáo. Đến năm 1994 số nhà trẻ là 140 với 3000 cháu và số cháu vào mẫu giáo là 7600.

Như vậy, không kể ngành mẫu giáo và cấp trung học (cấp III) trước 1966 chưa có, riêng học sinh  cấp trung học cơ sở (cấp II) số học sinh năm 1994 so với năm 1949 tăng 43 lần, cấp tiểu học (cấp I) năm 1994 so với 1949 tăng 22,5 lần, và 44 lần so với năm 1942 dưới thời Pháp thuộc (3).

Hàng năm có khoảng 200-300 hoc sinh tốt nghiệp trung học thì có 20-50 em vào các trường đại học và trung học chuyện nghiệp

Đến nay toàn huyện đã có hàng nghìn người có trình độ đại học trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế, văn hóa, quốc phòng…ở địa phương và trong cả nước. Trong đó có nhiều người đỗ đạt cao. Tiến sĩ, Tiến sĩ khoa học, Phó giáo sư, Giáo sư…

2.1  Trường Cấp III Kỳ Anh - Qúa trình trưởng thành

Thành lập tháng 9-1965 đến nay đúng 50 năm.

Khai giảng khóa đầu tiên 1965-1966, ở làng Kim Tiến, sau chuyển đến làng Tân Giang, Tân Long, xã Kỳ Giang do thầy Lê Văn Khánh làm hiêu trưởng. Lớp học được bố trí trong các lán giữa hai làng. Ban đầu trường chỉ có 2 lớp tám với 100 hoc sinh mới tuyển và một lớp 9 gồm 41 học sinh chuyển từ Cẩm Xuyên về. Giáo viên chỉ có 7 người .

Thầy Lê Văn Khánh, thầy Lê Xuân Thế, thầy Hoàng Thám, thầy Phùng Văn Mỹ, thầy Trần Ninh, thầy Dương Thìn, thầy Cung Lê Ánh, là những người thầy mở ra cánh cửa khai sáng cho nền giáo dục bậc phổ thông trung học của huyện Kỳ Anh và đã đào tạo cho đất nước nhiều nhân tài trong mọi lĩnh vực.

Niên khóa thứ hai 1966-1967, được tuyển thêm 3 lớp tám, nâng tổng số lên 6 lớp nên trường chuyển về xã Kỳ Tiến và Kỳ Xuân, 4 lán học ở Kỳ Tiến: 2 lán ở xóm Quyết Tiến, 1 lán ở xóm Tân An, 1 lán ở xóm Kim Tiến...

Dù phải dạy và học dưới những lán tranh tre nứa, dưới tiếng gầm rú của máy bay địch và muôn vàn khó khăn gian khổ, thiếu thốn nhưng bằng quyết tâm và nghị lực, thầy và trò đã vượt qua tất cả đưa trường ngày càng phát triễn đi lên...

Khóa học 1970 - 1971, trường chuyển về làng Vần Xá (Xã Xá) xã Kỳ Văn, vẫn là những mái nhà tranh tre lá, nhưng số học sinh và giáo viên tăng dần. 

Khóa học 1971-1972 kết thúc, Trường câp 3 Kỳ Anh chia làm hai, thành lập Trường cấp 3 Nguyễn Huệ theo quyết định số 2127QĐ/UB ngày 31 tháng 7 năm 1972 của UBHC tỉnh Hà Tĩnh.

Kết thúc năm học 1972-1973, Thầy Lê Văn Khánh được phân công chuyển đi làm hiệu trưởng những trường khác

Năm học 1973-1974, thầy Nguyễn Trinh Thuyên thay thầy Lê Văn Khánh làm hiệu trưởng trường cấp 3 Kỳ Anh đến năm 1997 khi về nghỉ hưu.

Năm 1977, trường cấp 3 Kỳ Anh chuyển về Cồn Cum, xã Kỳ Hưng cho đến ngày nay (là phường Sông Trí, thị xã Kỳ Anh).

Năm mươi năm xây dựng và trưởng thành, vượt qua muôn vàn khó khăn, thiếu thốn ban đầu, dưới sự quan tâm của chính quyền các cấp, sự lảnh đạo năng động và sáng tạo của 5 đời hiệu trưởng, trường cấp 3 Kỳ Anh (nay là trường THPT Kỳ Anh) đã phát triển vượt bậc, toàn diện, đóng góp cho đất nước, quê hương rất nhiều những công dân ưu tú. Trong số đó có 43 GS, PGS TS, 980 Thạc sỹ, 1236 Y, Bác sĩ, 72 thầy thuốc ưu tú, 48 nghệ sĩ ưu tú...

Hiệu trưởng Trường cấp 3 Kỳ Anh đến 2015.

- Thầy Lê Văn Khánh từ năm:    1965 – 1973

- Thầy  Nguyễn Trinh Thuyên:   1973 – 1997

- Thầy Nguyễn Đình Sòng:         1997 –  2001

- Thầy Trần Đắc Thược:              2001 – 2008

- Cô Nguyễn Thị Lệ Thủy:          2008  – 1015 

2.2 Trường cấp III Nguyễn Huệ
Trường THPT Nguyễn Huệ huyện Kỳ Anh tỉnh Hà Tĩnh Được thành lập theo quyết định số 2127QĐ/UB ngày 31 tháng 7 năm 1972 của UBHC tỉnh Hà Tĩnh.

Ngày 15 tháng 10 năm 1972 ngày khai giảng năm học đầu tiên tại thôn Hoàng Diệu xã Kỳ Tiến. Nơi đây có đủ điều kiện để một trường học vừa thoáng rộng vừa an toàn cho học sinh học tập trong thời chiến,. Thầy giáo Trần Mậu Chước được Ty giáo dục Hà Tĩnh cử về làm hiệu trưởng, gần 200 học sinh, hội đồng giáo dục có 17 thầy cô giáo, chi bộ có 6 Đảng viên. Mới được một năm thành lập thầy giáo Trần Mậu Chước được Ty giáo dục điều động nhận công tác mới; Thầy Dương Ngô được cử làm hiệu trưởng nhà trường, trường lại phải chia tay với thôn Hoàng Diệu để về mảnh đất Lòi Hạ -Trần Phú xã Kỳ Tiến dựng cơ ngơi mới.

Từ 1973 đến năm 1993, suốt hai mươi năm, thầy trò biết bao công sức để xây dựng được ngôi trường khang trang, những dãy phòng học ngày thêm mới, thêm tươi với con đường hơn 400m từ đường chính vào trường, dãy hồ cá, vườn cây,…là những kỷ niệm của bao thế hệ thầy trò, ngôi trường bình yên dưới những hàng Xà cừ tỏa bóng.

Năm 1989 thầy Dương Ngô được nghỉ theo chế độ, thầy giáo Nguyễn Tiến Chưởng Hiệu trưởng nhà trường… Rồi lần nữa thầy trò lại chuyển trường đến địa điểm để đáp ứng nhu cầu học tập và yêu cầu của xã hội.

Ngày 05 tháng 9 năm 1993 ngày khai giảng đầu tiên của trường ở vị trí mới tại trung tâm thị tứ Voi bây giờ, bao vất vã bộn bề thầy trò phải gồng mình lên để gắng theo kịp đàn chị đàn anh về mọi mặt.

Đến nay trường gần trọn 40 năm, gần 20 năm ở mảnh đất này, dưới chân núi Tượng Lĩnh (núi Voi) trường đã làm nên một địa chỉ tin cậy cho bao thế hệ học trò, phụ huynh Bắc Kỳ Anh và Nam Cẩm Xuyên. Từ mái trường này, bao lớp học trò đã trưởng thành và ra đi, vào các trường đại học, Trung tâm đào tạo...cống hiến cho quê hương, đất nước những nhà khoa học và chuyên gia trong nhiều lĩnh vực.                                                                       

Hiệu trưởng Trường cấp 3 Nguyễn Huệ đến 2015

- Thầy Trần Mậu Chước:          1972 – 1973
- Thầy  Dương Ngô:                  1973 – 1989
- Thầy Nguyễn Tiến Chưởng:   1989 – 

Ngoài hai trường cấp III (THPT) đầu đàn trên, hiện nay Kỳ Anh đã có thêm hai trường THPT mới thành lập là:

- Trường THPT Lê Quảng Chí ở Kỳ Long, thành lập năm 2004 và
- Trường THPT Kỳ Lâm, ở xã Kỳ Lâm, thành lập năm 2008

3. Những tấm gương thành đạt từ các trường Kỳ Anh sau 1945

Sau cách mạng tháng tám thành công, nhất là sau khi Trường cấp III Kỳ Anh và Trường cấp III Nguyễn Huệ được thành lập, hai ngôi trường này đã trở thành cái nôi, ươm mầm cho hàng ngàn con em Kỳ Anh trong thời đại mới bước chân vào các trường đại học, các Trung tâm đào tạo nổi tiếng trong nước và thế giới và nhiều người thành danh, cống hiến cho đất nước những tinh hoa trong mọi lĩnh vực: Khoa học, giáo dục, y tế, kinh tế, quốc phòng, văn học nghệ thuật....

Nổi bật trong đó, đến nay phải kể đến:

- GS.TS  Đường Hồng Đật,

Quê Kỳ Phong - Nguyên thứ trưởng bộ nông nghiệp

- GS.TS Phan Thế Việt,

 Quê Kỳ Văn-cán bộ Viện KHVN

- Họa sĩ-nhà thơ Trần Hữu Chất (Hồng Chinh Hiền),

Sinh 10-7-1933. Đại học mỹ thuật Việt nam. Quê Kỳ Châu, chổ ở hiện nay:số nhà 270, tổ 21, Phường Phương Liên, quận Đống Đa, Hà Nội

- Dịch giả Lê Xuân Giang, quê Kỳ Xuân

- Nhà báo Dương Xuân Nam (Dương Kỳ Anh),

Quê Kỳ Xuân-TBT báo Tiền Phong, chổ ở hiện nay: Hà Nộiw

- PGS.TS Lê Quốc Hán,

Sinh ngày 16-4-1949. Quê Kỳ Châu - Giảng viên đại học, Trưởng bộ môn Đại số & Lý thuyết số, khoa toán, trường Đại học Vinh.
Bảo vệ tiến sỹ tại Đại học Vinh, chuyên ngành toán-lý năm 1996. Được công nhận chức danh Phó giáo sư năm 2003
Chổ ở hiện nay: Khối 6, Bến Thủy-TP.Vinh-Nghệ An.

- Đại tá.TS Trần Văn Ấn,

Sinh 1949. Quê Kỳ Bắc-GĐKT sân bay quân sự A 42, TGĐ Cty LD sữa chữa máy bay Việt- Nga, chổ ở hiện nay: Quận Bình Thạnh, TP.HCM

- PGS.TS Lê Khánh Tuấn
Sinh 8-8-1957. Quê Kỳ Hưng - phó vụ trưởng Vụ kế hoạch-Tài chính- Bộ GDĐT.
Chuyên ngành Lý luận và lịch sử Sư phạm học-Trường Đại học sư phạm Hà Nội, cấp bằng 2005, được công nhận chức danh Phó giáo sư năm 2010.
Chổ ở hiện nay: Số 7, khu quy hoạc Liên cơ quan, Mỹ Đình, Từ Liêm,Hà Nội, (Quận 7-TP.HCM)

- TS Nguyễn Thị Thanh Minh
Sinh   . Quê Kỳ Trinh-Gv Đại học SP Hà Nội

- PGS.TS Lê Công Sự
Sinh 1959. Quê Kỳ Phương, Kỳ Anh – Gv cao cấp Đại học Hà Nội. Tốt nghiệp cử nhân Triết học-Đại học Tổng hợp quốc gia Leningrad-Cộng hòa Liên bang Nga năm 1985, Tốt nghiệp Thạc sĩ triết học năm 1996, Tiến sĩ năm 2004, được phong hàm Phó giáo sư năm 2014.
Chổ ở hiện nay: Quân Hoàng Mai-Hà Nội

- PSS.TS .BS Trần Đình Hà
Quê Kỳ Châu-

 

- PGS.TS Nguyễn Thị Hương
Sinh ngày 5-2-1958. Quê Kỳ Bắc. Phó viện trưởng Viện văn hóa và phát triễn, Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia. Bảo vệ tiến sỹ chuyên ngành Triết học năm 2001, công nhận chức danh Phó giáo sư năm 2010
Chổ ở hiện nay: số nhà 12, ngõ 76, đường trần Tử Bình, P. Nghĩa Tân, Q. Cầu Giấy-Hà Nội

- PGS.TS Nguyễn Thị Thương Huyền
Sinh ngày 22-5-1963.Quê Kỳ Tiến – Trưởng khoa thuế, trưởng bộ môn nghiệp vụ hải quan, Học viện Tài Chính tài chính Hà Nội. Bảo vệ tiến sĩ chuyên ngành Luật học 2003.Công nhận chức danh Phó giáo sư 2009.rr
Chổ ở hiện nay: 11/121 ngõ Thái Thịnh 1, phường Thịnh Quang, Quận Đống Đa-Hà Nội

 - TS Bùi Thanh Bình
Sinh ngày 2-2-1954.Quê Kỳ Tiến, Chủ nhiệm khoa, học viện lục quân Đà lạt, Bảo vệ luận án chuyên ngành quân sự, cấp bằng 1994, công nhận Phó giáo sư 2002
Chổ ở hiện nay: Số 30 Lý Thường kiệt, phường 9, TP. Đà Lạt, Lâm Đồng. 

- GS. TS luật Trần Ngọc Đường
Sinh 25-7-1945, quê Kỳ Tân. Chuyên gia cao cấp Văn phòng quốc hội. Học chuyên ngành Luật học, tại Viện hàn lâm Khoa học xã hội, trực thuộc Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản liên Xô , cấp bằng 1988. Công nhận chức danh giáo sư 2005
Chổ ở hiện nay: ngõ 217 đường Đê La Thành, Quận Đống Đa-Hà Nội

- PGS.TS Lê Văn Giáo
Sinh ngày 30-8-1955, Trưởng khoa, chuyên nghành vật lý, Đại học sư phạm, Đại học Huế. Bảo vệ tiến sỹ tại Đại học Vinh, cấp bằng 2001. Công nhận Phó giáo sư 2006
Chổ ở hiện nay: số 16 Bến Nghé, P. Phú Hội, TP. Huế

- PGS.TS Trần Thị Thu Hương
Sinh 2-11-1957. Quê xã Kỳ Phong. Phó viện trưởng Viện lịch sử Đảng. Tổng biên tập Tạp chí lịch sử đảng, Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh. Bảo vệ tiến sĩ chuyên ngành lịch sử năm 2000. Được công nhận chức danh Phó giáo sư năm 2005
Chổ ở hiện nay: C4, TT 14, Đô thị Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội.

- PGS.TS Dương Xuân Sơn
Sinh ngày 27-12-1954. Quê Kỳ Hưng. Phó chủ nhiệm khoa Báo chí và Truyền thông, Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn-Đại học quốc gia Hà Nội. Tốt nghiệp chuyên ngành báo chí, trường Đại học tổng hợp Minxco-Belarutxia.(thuộc Liên Xô)1989, được công nhận chức danh Phó giáo sư năm 2003
Chổ ở hiện nay: số 84, Khương Trung, quận Thanh Xuân-Hà Nội

- PGS.TS Hoàng Minh Thảo
Sinh ngày 5-5-1958. Quê quán: Kỳ Bắc. Đại tá, Chủ nhiệm bộ môn lịch sử các học thuyết kinh tế, Cục khoa học Công nghệ và Môi trường, Bộ quốc phòng.
Bảo vệ chuyên nghành kinh tế-Học viện chính trị 20013, được công nhận chức danh Phó giáo sư năm 2007.
Chổ ở hiện nay: số 16,B4, ngõ 8, đường Ngô Quyền, Quang Trung, Hà Đông- Hà Nội.

- PGS.TS Lê Thị Dục Tú
Sinh ngày 27-11-1958, Quê quán: Kỳ Văn. Nghiên cứu viên chính tại Viện Văn học. Bảo vệ bằng ts năm 1994,tại Viện văn học-Bộ GDĐT 1994, được công nhận chức danh Phó giáo sư năm 2007.
Chổ ở hiện nay: số 39 Lý Thường Kiệt-Hà Nội. 

 - PGS.TS Nguyễn Thanh Tuyền
Sinh ngày 15-11-1942. Quê quán: Kỳ Sơn-Kỳ Anh. Chuyên gia công nghệ chọn tạo giống lúa, nguyên Phó trưởng Bộ môn sinh lý sinh hóa và chất lượng nông sản-Viện khoa học nông nghiệp Việt Nam. Năm cấp bằng ts 1995, công nhận Phó giáo sư năm 2003.
Chổ ở hiện nay: nhà A3, phòng 310, phường Thanh Xuân Bắc,quận Thanh Xuân-Hà Nội.

- Thiếu tướng Nguyễn Hồng Sinh
Sinh ngày 15-9-1953. Quê quán: Kỳ Thịnh. Phó cục trưởng, Cục quân huấn, Bộ quốc phòng.
Trình độ chuyên môn: Cừ nhân, chuyên ngành quân sự, đơn vị công tác: Cục quân huấn.
Chổ ở hiện nay: số 31-172/7, Lạc Long Quân, Tây Hồ, Hà Nội.

- Nguyễn Trọng Hiệu

- Hoàng Việt

- Vũ Xuân Tâm

-Phạm Hoàng Giang

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét