Chương 1: Những nhân vật lịch sử thời phong kiến
Trải qua hàng ngàn năm nằm dưới ách đô hộ của
phương bắc, sử sách ghi chép về miền đất phiên dậu Kỳ Anh thời kỳ cổ đại
không lưu lại được bao nhiêu do nhiều nguyên nhân.
Cho đến khi Lý Bí, sau khi đánh bại quân Lương, thoát khỏi
chính quyền trung ương Trung Hoa, lên ngôi Hoàng đế lấy niên hiệu Lý Nam
Đế, thành lập nhà nước Vạn Xuân năm 544, vùng đất biên cương tận cùng
Giao Châu này mới được nhắc đến lần đầu trong “Đại việt sử ký toàn thư”
(ngoại kỷ-quyển IV-Kỷ nhà Tiền Lý).
1 . Các vị vua-quan đầu triều từng có mặt ở Kỳ Anh
– Vua Lý Nam Đế (tức Lý Bí), vào Cửu Chân (Kỳ
Anh) năm 543, lên ngôi Hoàng đế năm 544, thành lập nhà nước Vạn Xuân.
Triều đại nhà Lý kết thúc năm 602 với vị vua sau cùng là Lý Phật tử, Vạn
Xuân rơi vào tay nhà Tùy-Trung Hoa.
– Vua Lê Đại Hành (tức Lê Hoàn), năm 981, sau khi
đánh thắng quân nhà Tống, cất quân vào đánh Chiêm Thành, giải phóng vùng
đất từ Nam Giới đến Hoành Sơn và đẩy lùi quân Chiêm Thành vào tận Quảng
Nam.
Lê Hoàn (941–18 tháng 4 năm 1005) là vị Hoàng đế
sáng lập nhà Tiền Lê nước Đại Cồ Việt, trị vì nước Đại Cồ Việt trong 24
năm. Ông là 1 trong 14 vị anh hùng tiêu biểu của dân tộc Việt Nam
– Quản Giáp Lý Thai Giai.
Vào năm Ất Sửu (1025), vua Lý Thái Tổ xuống chiếu lập trại Định
Phiên ở nam giới Châu Hoan, giao cho Quản Giáp Lý Thai Giai làm trại
chủ. (nam giới Châu Hoan tức Kỳ Anh ngày nay)
– Lý Nhật Quang húy là Lý Hoảng
Là con trai thứ 8 của vua Lý Thái Tổ, mẹ là Linh Hiển hoàng hậu
(theo các nhà nghiên cứu là con của Lê Đại Hành và Hoàng hậu Dương Vân
Nga),[2][3] hiệu là Bát lang Hoàng tử. Như vậy, ông là anh em cùng mẹ với vua Lý Thái Tông.
Lý Nhật Quang nổi tiếng thông minh, 8 tuổi biết làm thơ, 10 tuổi tìm hiểu kinh sử[4]. Ông được vua cha và hoàng tộc chăm lo dạy dỗ để sớm thành rường cột nước nhà.
Năm 1028, vua Lý Thái Tổ băng hà, anh cùng mẹ của Nhật Quang là Lý Phật Mã lên nối ngôi, tức là Lý Thái Tông.
Năm Càn Phù Hữu Đạo thứ nhất (1039), Uy Minh Hầu Lý Hoảng được Lý Thái
Tông cử vào châu Nghệ An lo việc thu thuế. Tại đây, Lý Nhật Quang làm
việc cần mẫn, thu đủ số thuế được giao và không như các vị tiền nhiệm hà
lạm thuế của dân nên được tiếng là thanh liêm, chính trực.
Năm 1041, xét thấy Lý Nhật Quang là người tin cẩn, Lý Thái Tông phong ông làm Tri châu Nghệ An – tước hiệu là Uy Minh hầu….
Ông qua đời vào ngày 17 tháng 8 năm 1057.
Lý Thái Tông phong Lý Nhật Quang từ tước Hầu lên Tước Vương. Nhân dân suy tôn Lý Nhật Quang là “Thượng thượng thượng Đẳng thần”.
Câu đối tại đền Quả khái quát được công trạng của ông:
Hiển hách thần linh, hương khói miếu đền lưu vạn đại,
Lừng danh tông tộc, núi sông ghi nhớ đến nghìn năm.
(Nguồn:Wikipedia)
– Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật. (1225-1330)
Được biết qua tước hiệu Chiêu Văn vương hay Chiêu Văn đại vương là một
nhà chính trị, quân sự Đại Việtthời Trần. Ông là con trai thứ sáu của
Trần Thái Tông và là một danh tướng của vương triều nhà Trần trong lịch
sử Việt Nam. Ông là người có công trong cuộc kháng chiến chống quân
Nguyên Mông lần thứ hai và thứ ba, đặc biệt là trận Hàm Tử.
Sau khi ông qua đời, nhiều nơi đã lập đền thờ để tưởng nhớ ông. Cuộc đời
ông được biết đến qua các bộ chính sử Việt Nam, sớm nhất là Đại Việt sử
ký toàn thư – Kỷ nhà Trần. Ngày nay tại Việt Nam đang có những con
đường, phố và ngôi trường mang tên ông.
Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật sinh vào tháng 4 năm Ất Mão (1225), là
con trai thứ sáu của Trần Thái Tông, người đời ấy thường gọi là Ông
hoàng Sáu hoặc Hoàng lục tử
Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên-Mông lần thứ hai (1285) vua
Trần đề phòng giặc từ Chiêm Thành đánh ra nên sai Chiêu Văn Vương Trần
Nhật Duật vào trấn giữ Nghệ An. Lần thứ hai là vào tháng 2-1285 Trần
Nhật Duật đưa quân từ Phú Thọ vào đánh quân Chiêm Thành lúc này tiến ra
tận cửa quan Nghệ An (tức Đèo Ngang), vào tận nơi thì gặp quân Nguyên và
đánh nhau tại Đèo Ngang (trận này lực lượng tiếp viện chưa vào kịp, nên
phải rút lui)
– Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải. (1241-1294)
Thừa tướng Chiêu Minh Đại vương Trần Quang Khải là một nhà chính trị,
quân sự, tôn thất hoàng gia Đại Việt thời Trần. Ông làm đến chức Thừa
tướng đời Trần Thánh Tông, trần Nhân Tông và Trần Anh Tông, coi cả mọi
việc trong nước.
sách Lịch trình hiến chương loại chí của Phan Huy Chú ghi nhận: “Công lao thu phục được nước, ông đứng thứ nhất”.
Sau khi Trần Nhật Duật vào trấn giữ Nghệ An, theo lời của Hưng Đạo Vương
Trần Quốc Tuấn, nhà vua lại cử thêm Thượng tướng Chiêu Minh Vương Trần
Quang Khải vào tăng viện.
Lần thứ hai Trần Quang Khải cũng xuất quân từ ngày 5-3-1285 vào chi viện
cho Trần Nhật Duật nhưng chưa vào kịp nên Trần Nhật Duật phải rút lui.
– Vua Trần Duệ Tông.
Tháng chạp năm Bính Thìn 1376 , vua Trần Duệ Tông đi đánh Chiêm
Thành, lần đầu tiên đoàn thuyền chiến của nhà vua đi qua kênh Kinh Hạ
ra cửa Khẩu. Đây cũng là lần xuất quân đánh Chiêm Thành thất bại dưới
tay Chế Bồng Nga và chuyến xuất hành này liên quan đến truyền thuyết
Nguyễn Thị Bích Châu và đền bà Hải ở cử Khẩu.
– Vua Hồ Qúy Ly.
Sử chép, tháng giêng năm Qúy Hợi 1383, Hồ Quý Ly đem thủy quân
đi đánh Chiêm Thành, bấy giờ có đóng thuyền lớn, thuyền đi đến vùng Lại
bộ nương loan và Ô Tôn bị sóng gió hư hỏng phải trở về (Lại bộ nương
loan tức Cửa Khẩu ).
– Vua Lê Thánh Tông.
Năm 1470, 1471 vua Lê Thánh Tông hai lần thân chinh đưa quân đi
đánh Chiêm Thành, đều qua đất Kỳ Anh, và để lại nhiều bài thơ ghi chép ở
Kỳ Anh trong tập “Chinh Tây kỷ hành”
– Vua Triều Tây Sơn Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và các quan tướng đầu triều như Vũ hầu Võ Văn Dũng, Tả quân Vũ Văn Nhậm, Nguyễn Hữu Chỉnh…cũng từng đi qua Kỳ Anh, nhưng không trú đóng lâu dài.
– Các vị vua dưới triều Nguyễn như Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức…đều đã đi qua Kỳ Anh nhưng không lưu lại gì đáng kể, ngoài các bài thơ về Đào Ngang.
2. Dinh Cầu và các quan trấn thủ thời Lê-Trịnh
Từ các triều Lý, Trần đến đầu triều Lê (thế kỷ XV, XVI), vùng
đất Hà Trung (Kỳ Anh) luôn luôn là binh đồn trọng yếu bảo vệ biên giới
phía nam. Trong cuộc chiến tranh Trịnh-Nguyễn, khi thì quân Lê-Trịnh,
khi thì quân nhà Mạc đồn trú ở đây.
Năm 1631(đầu thời Lê trung hưng), triều đình Lê-Trịnh quyết định thành lập thêm trấn lỵ thứ hai ở phía nam, đóng ở làng Biểu Duệ, xã Hà Trung, nên thường được gọi là dinh Hà Trung, hay Dinh Cầu do Tây quận công Trịnh Tạc trấn giữ. Dinh thứ nhất từ trước đặt ở Lam Thành (Vinh-Nghệ An).
Từ đây Dinh Cầu luôn được các võ tướng cao cấp, tâm phúc, trong đó có những người là đại khoa và văn nhân có tiếng tăm trấn thủ:
– Tây quận công Trịnh Tạc 1631, là người đầu tiên.
– Đào Quang Nhiên -1660
– Hào quân công Lê Thì Hiến – 1672
– Yên quận công Trịnh Liệu
– Luân quận công Trịnh Huyên
– Trung quận công Lê Thời Liêu
– Tạo quận công Lê Quang Hiểu
– Thêm quận công Trương Nhưng
– Siêu quận công Nguyễn Minh Châu
– Hải quận công Phạm Đình Trọng
– Đoan quận công Võ Tá Đoan
– Đoan quận công Bùi Thế Đạt
– Việp quận công Hoàng Ngũ Phúc
– Huy quận công Hoàng Đình Bảo
– Thường trung hầu Bùi Thế Thường
– Dao trung hầu Võ Tá Dao
– Đang trung hầu Bùi Thế Toại. là người cuối cùng
Trong đó có các đại khoa bảng Phạm Đình Trọng, Tiến sĩ Lê Hữu Kiều (làm đốc thị), Tiến sĩ Trần Danh Lâm, Hoàng giáp Phạm Nguyễn Du (làm đốc đồng), Bãng nhãn Lê Qúy Đôn, Hoàng giáp Bùi Huy Bích (đều làm Hiệp trấn), Hương tiến Ngô Thì Sĩ (làm tham chính). Nhiều người như Bùi Huy Bích, Trần Danh Lam…đều có thơ viết về Dinh Cầu và các vùng đất ở Kỳ Anh.
* Hào quân công Lê Thì Hiến, Hải quận công Phạm Đình Trọng mất tại Kỳ Anh và được nhân dân lập đền thờ
Cuối tháng 5 năm Bính Ngọ-1768, quân Tây Sơn kéo ra Bắc diệt họ Trịnh, Trấn thủ Bùi Thế Toại chống không nổi, đành đốt Dinh Cầu bỏ trống. Chấm dứt 131 năm tồn tại Dinh Cầu.
- Các quan Tri huyện dưới thời nhà Nguyễn
Cuộc chiến giữa nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn cho đến khi kết thúc đều không xảy ra ác liệt ở đất Kỳ Anh. Dưới triều Tây Sơn, Dinh Cầu đã hoang tàn, không còn là trấn lỵ mà chỉ là một đồn binh.
Sau khi Tiêu diệt nhà nhà Tây Sơn, lên ngôi Hoàng đế, năm 1802 vua Gia Long ra Bắc, đi qua Hà Trung (Kỳ Anh) sai đắp lại phủ thành Kỳ Hoa ở thôn Nhân Canh (Kỳ Châu). Bắt đầu triều đại nhà Nguyễn, kéo dài 143 năm với 13 đời vua.
– Tri huyện Nguyễn Đình Toản
Quê Kẻ Tuy, Tuy Lộc, Quảng Bình có lẽ là Tri huyện đầu tiên
của triều Nguyễn, và để lại tiếng tốt ở Kỳ Anh. Ông hai lần đỗ thi
hương.
– Tri huyện Lã Xuân Oai.
Ông sinh năm 1836, quê làng Thượng Đồng, huyện Phong Doanh, tỉnh Nam
Định (nay thuộc xã Yên Tiến, huyện Ý Yên , tỉnh Nam Hà), đỗ Phó bảng năm
Bính Thìn (1856), không ghi rõ làm tri huyện Kỳ Anh từ năm nào. Khi
quân Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ hai năm 1884, ông làm Tuần Phủ Lạng
Sơn, Cao Bằng, chủ trương chống Pháp, nhưng thất bại, ông sang Trung
Quốc, rồi sau về dạy học ở Ninh Bình. Năm 1889 làng Thượng Đồng quê ông
khởi nghĩa, ông tham gia giúp đỡ các sĩ phu và học trò, bị Pháp bắt đày
ra Côn Đảo và mất tại đó ngày 23 tháng 10 năm Tân Mão (24 tháng 11 năm 1891
– Năm 1896 Pháp mới chính thức thiết lập Chính quyển bảo hộ ở Kỳ Anh. Đơn vị hành chính vẫn do chính quyền triều đình Huế trực tiếp cai trị, đứng đầu vẫn là tri huyện.
– Tri huyện Lê Đức Trinh 1930
– Tri huyện Nguyễn Hòa Phẩm 1945 (Tri huyện cuối cùng)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét