Lịch sử thời cổ đại đến đầu thế kỷ XV không thấy để lại tên tuổi nào.
Đến cuối thế kỷ XV dưới thời đầu Lê-Mạc mới xuất hiện những nhà khoa bảng và tướng lĩnh:
1. Những nhân vật lịch sử và khoa bảng Kỳ Anh
– Bãng nhãn Lê Quảng Chí (1451-1533)?
Lê Quảng Chí đỗ Đình nguyên, nhất giáp tiến sĩ đệ nhị danh (Bãng nhãn) khoa thi Mậu Tuất niên hiệu Hồng Đức thứ 9 (1468) đời Lê Thánh Tông. (Khoa thi đó không lấy trạng Nguyên)
Làm quan đến chức Tả thị lang bộ Lễ, kiêm Đông các đại học sĩ. Năm 60 tuổi ông nghỉ, về quê mở trường dạy học, lấy hiệu Lãm sơn tiên sinh (có sách chép Hoành Sơn tiên sinh).
Ông mất năm 82 tuổi, được tặng Thượng thư, dân làng và học trò đặt mộ ông dưới chân núi Hoành Sơn và lập đền thờ.
Lê Quảng Chí cũng là một nhà trước tác, được vua Lê Thánh Tông coi ngang với Thân Nhân Trung, Đào Cử…Tác phẩm của ông hiện còn lưu 5 bài thơ chép trong “Toàn Việt thi lục”. Ông còn phụng chỉ soạn bài văn bia mộ Quang Thục hoàng Thái hậu (mẹ vua Lê Thánh Tông, tên là Ngô Thị Ngọc Dao, ở huyện Thư Trì, Thái Bình bây giờ.)
Làm quan đến Hàn lâm viện thị chế, đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Hiến sứ kiêm Đề lĩnh tứ thành quân vụ, tước Bảng quận công.
Ông mất năm 73 tuổi, mộ táng bên cạnh mộ Lê Quảng Chí. Dân làng cũng lập đền thờ ông ở quê Thần Đầu, gọi là “Đền Bảng Quận công”
Các triều đều có sắc phong thần, và thần hiệu được phong đến “Đại vương”
Nhưng sách “ Đăng khoa bị khảo” của Phan Huy Ôn lại chép ông họ Dương, “người làng Duy Liệt huyện Kỳ Hoa, đỗ Đồng tiến sĩ khoa Đinh Vị niên hiệu Vĩnh Định (1547). Ông làm đến Hàn lâm. Chưa rõ sách nào chép đúng.
Lan Quận công Lê Thát là người quê hương được Nhân dân thờ từ lâu đời. Đền thờ Ngài đã được Nhà nước xếp hạng di tích LS – VH.
Phạm Hoành là con trai của Khuê quận công Phạm Định, cháu 4 đời của Thọ quận công Phạm Tiêm. Gia đình ông có bốn anh em, Phạm Hoành là con trai cả. Vốn xuất thân từ gia đình dòng võ tộc, có nhiều người học hành đỗ đạt làm quan nên từ nhỏ ông đã tỏ ra là một người thông minh, ham luyện cung tên, võ nghệ. Lớn lên trong hoàn cảnh đất nước bị loạn giặc, với tài sử dụng binh khí, võ nghệ điêu luyện, ông đã trở thành một vị tướng lĩnh trung thành, giúp triều đình nhà Lê dẹp Mạc.
Trong trận chiến với nhà Mạc ở Hoan Châu (Nghệ An), sau khi giao tranh ông đang truy kích bị địch đánh tập hậu, ông bị thương, sau trận này ông đã định ra khỏi đất Châu Hoan, ông về quê điều trị rồi từ trần vào mùa xuân năm Quý Tỵ (1593) vào ngày mồng 6 tháng giêng.
Được tin ông mất, nhà vua rất thương tiếc bèn phong sắc cho ông là Điện quận công Hổ oai Đại tướng quân Thần võ liên tiên đại vương Phạm Hoành, cho lập đền thờ tại làng Sơn Triệu (tức làng Tân Thọ – xã Kỳ Thọ ngày nay). Hàng năm đến ngày giỗ, các hàng quan văn, võ đều về đền dâng hương, cúng tế. Đền được công nhận là di tích Lịch sử – Văn hóa cấp tỉnh vào tháng 7 năm 2004.
Lúc trẻ ông rất chăm học và rất thành thạo nghề nông.Ông đi thi 5 khoa liền chỉ đỗ tú tài, đến năm Canh Tuất (1850) ngoài 30 tuổi mới đỗ cử nhân. Tiếp đó ông đỗ nhị giáp tiến sĩ (Hoàng giáp) khoa Qúy Sửu, niên hiệu Tự Đức thứ 6 (1853), năm 36 tuổi. Hiện ở nhà thờ ông còn lưu giữ tấm biển “Tiến sĩ” và biển “Ân tứ vinh quy”
Lê Tuấn là người có đức độ và công bình, được vua Tự Đức rất mến trọng, nên chỉ trong thời gian 10 năm, từ chức Tri phủ ông được cất nhắc lên Thượng thư bộ Hình.
Ông từng được cử làm Chánh sứ đoàn sứ bộ tuế cống nhà Thanh. Năm Tự Đức 24 (1871) ông làm Khâm sai thị tứ Bắc kỳ, cùng Hoàng Kế Viêm dẹp các cuộc khởi nghĩa của Tô Tứ, Hoàng Tề, rồi sau đó đi thương thuyết với Pháp về việc thông thương trên sông Hồng.
Năm Tự Đức thừ 26 (1873) ông được cử đi Pháp thương thuyết về việc chuộc 3 tỉnh tây Nam kỳ, nhưng vừa vào đến Gia Định thì bị bệnh rồi mất ở đó năm 1874. (Trong hồ sơ lưu trữ ở Paris-Pháp vẫn còn 1 tấm ảnh của Chánh sứ Lê Tuấn – được ông Xuân Thủy sưu tầm gửi cho gia đình.)
Triều đình cho đưa linh cữu của ông về an táng ở quê nhà, khi đi qua kinh thành Huế, vua Tự Đức sai làm lễ dụ tế và có bài văn điếu, câu cuối như sau: “Trẫm đặc chuyết tương tri chi tình, vi sổ ngôn, điện sổ trản, dĩ tận quân thần thủy chung chi nghĩa” (Trẫm nghĩ đến mối tình tương tri, viết vài lời, rót mấy chén, để tỏ cái nghĩa vua tôi có trước có sau.1
Ông được tặng hàm Hiệp biện đại học sĩ, và được thờ ở đền Hiền Lương (Huế)
Lê Tuấn còn để lại 2 trước tác là “Yên thiều bút lục”(văn) và “Như Thanh nhật ký” (sử, văn – A-112) khi đi sứ tại nhà Thanh.
Phó bảng Kiêm (Ký) rất mê và có tài hát ví, là bạn hát ví với O Nhẫn ở Đan Du, để lại nhiều giai thoại thú vị.
Cụ Trần Công Thưởng là người cầm đầu phái bộ Kỳ Anh lên gặp vua Hàm Nghi ở Sơn Phòng, Hương Khê, Hà Tĩnh. Lúc lên Sơn Phòng, đoàn Kỳ Anh có mang theo một số sản phẩm địa phương và chiếc áo “long ngũ trảo” (áo vóc thêu rồng năm móng). Đến Sơn Phòng, phái đoàn không gặp được vua Hàm Nghi mà chỉ được tiếp kiến cụ Tôn Thất Thuyết. Sau khi nghe nguyện vọng và ý chí Cần Vương của đoàn, cụ Tôn Thất Thuyết bảo rằng: “các thầy và các chú hãy trở về mà lo liệu gấp, chứ rồi đây, trừ bọn giặc ra, không ai có một tấc đất mà ở”. Vâng lời Tôn Thất Thuyết, cụ Trần Công Thưởng cùng các sĩ phu và những người yêu nước ở Kỳ Anh tham gia Cần Vương rất tích cực. Phong trào này ở Kỳ Anh sôi nổi được vài năm rồi thoái trào.
Thời gian cụ Trần Công Thưởng làm Tri huyện Đông Sơn, Thanh Hóa có yêu và lấy bà thiếp tên là Lương Thị Uyển ở làng Hạc Oa, tổng Thọ Hạc.
Khi cụ Thưởng về Kỳ Anh thì bà Uyển cũng về làng Long Trì. Năm 1886 hai ông bà sinh được người con trai đầu tên là Trần Công Tư. Một thời gian sau bà Uyển lại có thai. Lúc đang mang thai thì bà xin về quê ngoại ở Đông Sơn,Thanh Hóa. Thời điểm này phong trào Cần Vương dưới sự lãnh đạo của cụ Trần Công Thưởng ở Kỳ Anh lên mạnh, tình hình không yên ổn nên bà Uyển ở luôn bên ngoại. Tại gia đình bên ngoại, bà Uyển sinh người con thứ 2 đặt tên là Cung. Vì người anh ruột bên mẹ đẻ ra bà Uyển hiếm con trai nên nhận cậu Cung về nuôi và đặt tên là Nguyễn Cung (theo họ người nuôi).
Một thời gian sau, người con Trần Công Tư có dịp ra thi ở Vinh. Thi xong, ông Tư ra quê ngoại đón mẹ là bà Uyển về lại Long Trì. Lúc ra về, bà Uyển không hề cho ai biết bà để lại một người con trai ở làng Hạc Oa – Đông Sơn, Thanh Hóa.
Lớn lên, ông Cung đã nghe người làng bảo cho biết quê quán và tên cụ thân sinh là Trần Công Thưởng. Lúc vào lính đóng ở Vinh, ông đã bắt được liên lạc với họ Trần Công. Năm 1934, ông Cung cùng với vợ là Mai Thị Đoan (quê Đức Thọ, Hà Tĩnh) và con gái về thăm mẹ là bà Uyển và bái yết nhà thờ, gặp gỡ bà con ruột thịt họ Trần Công ở Long Trì. Từ đó trở đi gia đình ông Cung liên lạc với bà con, anh em dòng họ Trần Công ở Long Trì thường xuyên.
Ông Cung vào lính khố Xanh năm 1926. Một thời gian sau được thăng suất Đội.
Trong thời gian ở lính, ông Cung đã chứng kiến nỗi khổ của nhân dân và nỗi nhục làm lính bảo hộ. Thâm tâm ông đã âm ỉ tinh thần yêu nước, căm thù Thực dân Pháp xâm lược và vua quan Nam triều bán nước.
Hiện nay phần mộ ông Trần Công Thưởng và bà Lương Thị Uyển đều ở làng Long Trì, xã Kỳ Phú. Ngày 5/ 1/ 2017 UBND tỉnh Hà Tỉnh đã có Quyết định công nhận phần Mộ và nhà Thờ ông Trần Công Thưởng là Di tích lịch sử,văn hóa cấp tỉnh
– Ông Nguyễn Trọng Nhã được phân công làm chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng. Có thể coi là vị chủ tịch huyện đầu tiên của huyện Kỳ Anh.
– Ông Nguyễn Duy Khiêm được cấp ủy Việt Minh phân công thư ký cấp ủy-tức bí thư sau này.
DANH SÁCH BÍ THƯ HUYỆN ỦY QUA CÁC THỜI KỲ
| Họ tên | Quê quán | Thời kỳ |
| Nguyễn Tiến Liên | Kỳ Bắc | 1930 |
| Lê Bính | Kỳ Văn | 1946 |
| Nguyễn Mân | Kỳ Thư | 1947 |
| Nguyễn Duy Khiêm | Kỳ Thư | 1948 |
| Lê Tư Sính | Kỳ Văn | 1949 |
| Nguyễn Thắng | Kỳ Sơn | 1950-1951 |
| Dương Quát | Kỳ Phong | 1952-1953 |
| Lê Thúc Khang | Kỳ Văn | 1954-1955 |
| Dương Vấn | Kỳ Phong | 1956-1961 |
| Lê thể | Kỳ Ninh | 1962-1963 |
| Dương Vấn | Kỳ Phong | 1963-1967 |
| Thiều Y | Kỳ Khang | 1967-1977 |
| Nguyễn Ngọc Dinh | Kỳ Phú | 1977-1986 |
| Nguyễn Ký | Kỳ Khang | 1986-1989 |
| Nguyễn Din | Kỳ Thu | 1989-1998 |
| Thiều Đình Duy | Kỳ Khang | 1998-2005 |
| Tăng Nghĩa | Kỳ Tân | 2005-2007 |
| Phan Bình Minh | Kỳ Văn | 2007-2011 |
| Lê Trọng Bính | Đức Thọ (huyện) | 2011-1015 |
DANH SÁCH CHỦ TỊCH HUYỆN QUA CÁC THỜI KỲ
| Họ tên | Quê quán | Thời kỳ |
| Nguyễn Trọng Nhạ | Can Lộc | 1945 |
| Hoàng Thành | Kỳ Phong | 1946 |
| Lê Tư Sính | Kỳ Văn | 1947-1950 |
| Bùi Chân | Kỳ Châu | 1950-1956 |
| Nguyễn Thanh | Kỳ Hải | 1956-1958 |
| Lê Thể | Kỳ Ninh | 1958-1959 |
| Thiều Y | Kỳ Khang | 1960-1965 |
| Nguyễn Toát | Kỳ Trinh | 1965-1975 |
| Nguyễn Ký | Kỳ Khang | 1975 |
| Lê Minh Tham | Kỳ Trinh | 1975-1976 |
| Lê Thể | Kỳ Ninh | 1976-1979 |
| Nguyễn Đình Nhu | Kỳ Tây | 1980-1981 |
| Nguyễn Din | Kỳ Thư | 1981-1990 |
| Phan Công Trân | Kỳ Châu | 1990-1996 |
| Mai Tùng Lâm | Kỳ Lợi | 1997-2001 |
| Nguyễn Văn Trị | Cẩm Xuyên | 2002-2006 |
| Trần Bá Sung | Kỳ Thư | 2006-2012 |
| Nguyễn Văn Bổng | Kỳ Châu | 2012-2015 |
2.2 Những quan chức Kỳ Anh đứng đầu tỉnh
- Bí thư tỉnh ủy Nguyễn Tiến
Chương
Sinh ngày
10-3-1920. Quê Kỳ Phong, Kỳ Anh. Tốt nghiệp Thành chung ( diplome).
Chức
vụ cao nhất: Bí thư tỉnh ủy tỉnh Hà Tĩnh, đại biểu quốc hội Khóa 6.
Qúa trình công tác:
1947-1946: Đội trưởng thnh niên, tự vệ thành, đội trưởng truyên truyền xung
phong, cán bộ dân vận tỉnh Khánh Hòa.Tham gia cướp chính quyền ở Nha Trang ngày
19-8-1945
1947-1949:
Chính trị viên đại đội thường trực huyện, Huyện đội trưởng, Huyện ủy viên, ủy
viên quân sự kháng chiến huyện Kỳ Anh.
1950-1953:
Tỉnh đội phó, Tỉnh đội trưởng, Tỉnh ủy viên, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh
1954-1956:
Tham mưu phó, trưởng phòng dân quân, Bí thư liên chi bộ tham mưu, dân quân Bộ
tư lệnh Quân khu 4.
1956-1972:
Thường vụ tỉnh ủy trực Đảng (1956-1961), Phó bí thư trực Đảng (961-1966), Phó
bí thư-Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh (1967-1971), Bí thư tỉnh ủy Hà Tĩnh (
1972-1975)
1976-1981:
Phó bí thư trực Tỉnh ủy Nghệ Tĩnh, Phó chủ tịch Uỷ ban mặt trận Tổ quốc tỉnh,
đại biểu
Quốc
hội Khóa 6.
Chổ
ở hiện nay: số 2, ngõ số 31, đường Phùng Chí Kiên, khối Trung Hòa, Hà Huy
Tập,TP. Vinh, Nghệ An.
- Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Ký
Sinh
ngày 25-12-1940. Quê quán: Kỳ Khang.
Chức vụ: Phó bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, Phó trưởng ban
nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ.
Qúa
trình công tác:
Thường
vụ Huyện đoàn Kỳ Anh, Bí thư Đảng ủy xã Kỳ Khang, Uỷ viên thường vụ Huyện
ủy-Trưởng ban Tuyên giáo Huyện ủy Kỳ Anh, Trưởng trạm vận tải R3 thuộc Binh
trạm 25, ủy viên thường vụ, trực Đảng huyện Kỳ Anh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân
huyện Kỳ Anh, Bí thư huyện ủy huyện Kỳ Anh, Bí thư Đảng ủy cơ quan-Phó văn
phòng Tỉnh ủy Nghệ Tĩnh, ủy viên Ban thường vụ tỉnh ủy tỉnh Nghệ Tĩnh, Phó chủ
tịch UBND tỉnh Nghệ Tĩnh, Phó bí thư Tỉnh ủy-Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Hà
Tĩnh, Phó trưởng ban nghiên cứu của Thủ tướng chính phủ.
Chổ
ở hiện nay: số 4, ngõ 198, Hà Huy Tập, Hà Tĩnh.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét