10.1.22

Chương 2: Những quan chức Kỳ Anh qua các thời kỳ

Lịch sử thời cổ đại đến đầu thế kỷ XV không thấy để lại tên tuổi nào.
Đến cuối thế kỷ XV dưới thời đầu Lê-Mạc mới xuất hiện những nhà khoa bảng và tướng lĩnh:
 

1. Những nhân vật lịch sử và khoa bảng Kỳ Anh

– Bãng nhãn Lê Quảng Chí (1451-1533)?

Người làng Sơn Đầu (về sau là Thần Đầu) nay là xã Kỳ Phương. Lúc nhỏ nhà nghèo, ông cùng em là Lê Quảng Ý đi ở cho nhà giàu, nhờ chăm chỉ và sáng dạ nên được chủ thương mến cho đi học. Lớn lên vẫn vừa làm thuê vừa cố gắng đèn sách và thi đỗ, vinh quy bái tổ về làng.

Lê Quảng Chí đỗ Đình nguyên, nhất giáp tiến sĩ đệ nhị danh (Bãng nhãn) khoa thi Mậu Tuất niên hiệu Hồng Đức thứ 9 (1468) đời Lê Thánh Tông. (Khoa thi đó không lấy trạng Nguyên)

Làm quan đến chức Tả thị lang bộ Lễ, kiêm Đông các đại học sĩ. Năm 60 tuổi ông nghỉ, về quê mở trường dạy học, lấy hiệu Lãm sơn tiên sinh (có sách chép Hoành Sơn tiên sinh).

Ông mất năm 82 tuổi, được tặng Thượng thư, dân làng và học trò đặt mộ ông dưới chân núi Hoành Sơn và lập đền thờ.

Lê Quảng Chí cũng là một nhà trước tác, được vua Lê Thánh Tông coi ngang với Thân Nhân Trung, Đào Cử…Tác phẩm của ông hiện còn lưu 5 bài thơ chép trong “Toàn Việt thi lục”. Ông còn phụng chỉ soạn bài văn bia mộ Quang Thục hoàng Thái hậu (mẹ vua Lê Thánh Tông, tên là Ngô Thị Ngọc Dao, ở huyện Thư Trì, Thái Bình bây giờ.)

– Đồng tiến sĩ Lê Quảng Ý (1453-1626)
Ông là em ruột Bãng nhãn Lê Quảng Chí, cũng như anh, ông cũng trải qua tuổi thơ nghèo khó và vất vả, nhưng cũng sáng dạ và chăm chỉ học hành. Sau khi người anh đỗ, làm quan ông mới có điều kiện tiếp tục học và đến năm 46 tuổi mới đỗ Đồng tiến sĩ khoa Kỷ Vị, niên hiệu Cảnh Thống thứ 2 đời Lê Hiến Tông (1499)

Làm quan đến Hàn lâm viện thị chế, đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Hiến sứ kiêm Đề lĩnh tứ thành quân vụ, tước Bảng quận công.

Ông mất năm 73 tuổi, mộ táng bên cạnh mộ Lê Quảng Chí. Dân làng cũng lập đền thờ ông ở quê Thần Đầu, gọi là “Đền Bảng Quận công”

– Đồng tiến sĩ Phùng Trí Tri. hay Dương Trí Tri(1528-..?)
Người làng Liệt Thượng, tổng Cấp Dẫn, nay là xã Kỳ Giang. Theo thần phả ở đền Liệt Thượng và sách “Kỳ Anh phong thổ ký” thì ông đỗ nhị giáp khoa Đinh Vị, niên hiệu Vĩnh Định, năm đầu Mạc Phúc Nguyên (1547) lúc 19 tuổi. Vua nhà Mạc gả công chúa cho nhưng ông từ chối. Sau ngày vinh quy ông được vua ban “Triều hiến1”, truyền phải tự tử. Sau khi ông chết, dân làng thương tiếc lập bàn thờ. Tương truyền ông hiển linh, đời vua Tự Đức thường giáng loan cứu giúp nhân dân…?

Các triều đều có sắc phong thần, và thần hiệu được phong đến “Đại vương”

Nhưng sách “ Đăng khoa bị khảo” của Phan Huy Ôn lại chép ông họ Dương, “người làng Duy Liệt huyện Kỳ Hoa, đỗ Đồng tiến sĩ khoa Đinh Vị niên hiệu Vĩnh Định (1547). Ông làm đến Hàn lâm. Chưa rõ sách nào chép đúng.

“1”. “Triều hiến” hay “tam ban triều bảo” là ba thứ: Thanh gươm, giải lụa, chén thuốc độc. Người bị buộc tự sát được chọn 1 trong ba thứ đó.
“2”. Khoa Đinh Vị 1547, theo sử ký thì Dương Phúc Tư, Phạm Du, Nguyễn Tế đỗ tiến sĩ cập đệ, và 8 tiến sĩ xuất thân, 19 đồng tiến sĩ xuất thân, trong đó có Phùng Trí Tri.

– Lan quận công Lê Thát
Quê ở Hữu Lệ (đền thờ hiện nay: làng Trung Phong xã Kỳ Phong). là một võ tướng thời Lê-Trịnh, đánh nhà Mạc có công, được phong Lan quận công.

Lan Quận công Lê Thát là người quê hương được Nhân dân thờ từ lâu đời. Đền thờ Ngài đã được Nhà nước xếp hạng di tích LS – VH.

– Thọ quận công Phạm Tiêm
Quê ở Hưng Nhân. Phạm Tiêm (Đại Nam nhất thống chí chép Phạm Công Sám do phiên âm khác nhau) là con trưởng Thái phó Quảng quận công Phạm Đốc (1512-1558).
Nguyên quán: quê gốc ở xã Thần Khê, huyện Vĩnh Lại, phủ Ninh Nhân tỉnh Hải Dương (không rõ ông sinh năm nào), là một võ tướng thời Lê-Trịnh, đánh nhà Mạc có công, được phong tước Thọ quận công. Lúc làm trấn thủ Nghệ An, đóng ở Dinh Cầu, ông lập ấp ở tổng Đậu Chữ, sau vào ở thôn Hưng Nhân, xã Phú Nghĩa. Ông tổ chức khai hoang, mở ra cánh đồng xứ Đồng Nại (nay là xã Kỳ Hà) và đắp đê ngăn mặn, mở thêm 30 mẫu ruộng, lại đào con mương dưới chân núi Cao Vọng cho nước thông ra biển, tránh được lụt lội cho cả vùng. Ở Kỳ Anh đến nay vẫn còn truyền câu “Lấp cửa Lỗ, trổ Eo Bù”, nhắc lại việc này.
Phạm Tiêm chết tại trấn, được nhân dân lập đền thờ. Hàng năm ở đền có lễ giỗ Thánh tổ vào ngày 12 tháng Mười âm lịch.
Đền Phạm Tiêm ở Hưng Nhân đã dời đến một địa điểm mới. Đền thờ và mộ Phạm Tiêm được công nhận là di tích Lịch sử – Văn hóa cấp tỉnh vào tháng 8 năm 2005.

– Điện quận công Phạm Hoành
Là cháu bốn đời của Phạm Tiêm.
Điện Quận công Phạm Hoành là một quan võ thời Lê – Mạc. Ông sinh trưởng trong dòng họ Phạm – một dòng họ có gốc từ Hải Dương, đã có nhiều người học hành thành đạt và làm quan phục vụ dưới triều đại phong kiến.

Phạm Hoành là con trai của Khuê quận công Phạm Định, cháu 4 đời của Thọ quận công Phạm Tiêm. Gia đình ông có bốn anh em, Phạm Hoành là con trai cả. Vốn xuất thân từ gia đình dòng võ tộc, có nhiều người học hành đỗ đạt làm quan nên từ nhỏ ông đã tỏ ra là một người thông minh, ham luyện cung tên, võ nghệ. Lớn lên trong hoàn cảnh đất nước bị loạn giặc, với tài sử dụng binh khí, võ nghệ điêu luyện, ông đã trở thành một vị tướng lĩnh trung thành, giúp triều đình nhà Lê dẹp Mạc.

Trong trận chiến với nhà Mạc ở Hoan Châu (Nghệ An), sau khi giao tranh ông đang truy kích bị địch đánh tập hậu, ông bị thương, sau trận này ông đã định ra khỏi đất Châu Hoan, ông về quê điều trị rồi từ trần vào mùa xuân năm Quý Tỵ (1593) vào ngày mồng 6 tháng giêng.

Được tin ông mất, nhà vua rất thương tiếc bèn phong sắc cho ông là Điện quận công Hổ oai Đại tướng quân Thần võ liên tiên đại vương Phạm Hoành, cho lập đền thờ tại làng Sơn Triệu (tức làng Tân Thọ – xã Kỳ Thọ ngày nay). Hàng năm đến ngày giỗ, các hàng quan văn, võ đều về đền dâng hương, cúng tế. Đền được công nhận là di tích Lịch sử – Văn hóa cấp tỉnh vào tháng 7 năm 2004.

Tương truyền, lúc làm trấn thủ Nghệ An (?) ông đóng quân ở Đá Bạc(1) ra trận bị chém đứt đầu, phi ngựa về đến làng Sơn Triều thì ngã xuống. Dân làng Sơn Triều và làng Hưng Nhân cùng lập đền thờ ông dưới động Chào (nay là xã Kỳ Thọ), thường gọi là đền Chào hay “Đền Thánh Tiên”. Trong đền có bức tượng bằng đồng đen (?). Hàng năm ở đây có lễ giỗ Thánh Tiên vào ngày 6 tháng Giêng âm lịch.

“Đền Thánh Tiên” (đền Chào) xưa đứng bên đường quốc lộ, cảnh rất đẹp. Ngô Thì Nhậm (1746-1803) trong bài “Dinh Cầu hữu cảm” có câu nói về cảnh đền này: “Tế liễu lục thùy Tiên thánh miếu” (Cây liễu buông mành biếc trước miếu Tiên thánh). Đền Phạm Hoành ở Sơn Triều đã bị đổ nát nay mới được sửa sang lại

– Phó bảng Lê Đức (sinh…?)
Quê làng Mỹ Lũ, xã Hà Trung, nay là xã Kỳ Văn. Ông đỗ cử nhân năm Tân Sửu (1841), đỗ Phó bảng khoa Nhâm Dần niên hiệu Thiệu Trị thứ hai (1842). Làm quan đến Hàn lâm kiểm thảo. Lê Đức là em cử nhân Lê Doãn (làm huấn đạo Cẩm Xuyên), là anh của Hoàng giáp Lê Tuấn và bác cử nhân Lê Nhất Hoàn.
(Hồ sơ số H62A /1, Quốc triều đăng khoa lục, quyển 01, mặt khắc 15)

– Hoàng giáp Lê Tuấn (1817-1874)
Lê Tuấn là em Phó bảng Lê Đức ở làng Mỹ Lũ, dòng dõi võ tướng đời Lê gốc quê Đình Bảng, Kinh Bắc (Từ Sơn ngày nay). Tổ tiên ông vào làm quan rồi ở lại Kỳ Hoa, về sau gia đình sa sút, lấy nghề nông lập nghiệp.

Lúc trẻ ông rất chăm học và rất thành thạo nghề nông.Ông đi thi 5 khoa liền chỉ đỗ tú tài, đến năm Canh Tuất (1850) ngoài 30 tuổi mới đỗ cử nhân. Tiếp đó ông đỗ nhị giáp tiến sĩ (Hoàng giáp) khoa Qúy Sửu, niên hiệu Tự Đức thứ 6 (1853), năm 36 tuổi. Hiện ở nhà thờ ông còn lưu giữ tấm biển “Tiến sĩ” và biển “Ân tứ vinh quy”

Lê Tuấn là người có đức độ và công bình, được vua Tự Đức rất mến trọng, nên chỉ trong thời gian 10 năm, từ chức Tri phủ ông được cất nhắc lên Thượng thư bộ Hình.

Ông từng được cử làm Chánh sứ đoàn sứ bộ tuế cống nhà Thanh. Năm Tự Đức 24 (1871) ông làm Khâm sai thị tứ Bắc kỳ, cùng Hoàng Kế Viêm dẹp các cuộc khởi nghĩa của Tô Tứ, Hoàng Tề, rồi sau đó đi thương thuyết với Pháp về việc thông thương trên sông Hồng.

Năm Tự Đức thừ 26 (1873) ông được cử đi Pháp thương thuyết về việc chuộc 3 tỉnh tây Nam kỳ, nhưng vừa vào đến Gia Định thì bị bệnh rồi mất ở đó năm 1874. (Trong hồ sơ lưu trữ ở Paris-Pháp vẫn còn 1 tấm ảnh của Chánh sứ Lê Tuấn – được ông Xuân Thủy sưu tầm gửi cho gia đình.)

Triều đình cho đưa linh cữu của ông về an táng ở quê nhà, khi đi qua kinh thành Huế, vua Tự Đức sai làm lễ dụ tế và có bài văn điếu, câu cuối như sau: “Trẫm đặc chuyết tương tri chi tình, vi sổ ngôn, điện sổ trản, dĩ tận quân thần thủy chung chi nghĩa” (Trẫm nghĩ đến mối tình tương tri, viết vài lời, rót mấy chén, để tỏ cái nghĩa vua tôi có trước có sau.1

Ông được tặng hàm Hiệp biện đại học sĩ, và được thờ ở đền Hiền Lương (Huế)

Lê Tuấn còn để lại 2 trước tác là “Yên thiều bút lục”(văn) và “Như Thanh nhật ký” (sử, văn – A-112) khi đi sứ tại nhà Thanh.

“1”- Lúc ông đi sứ nhà Thanh và khi sửa soạn đi Pháp ông đều được Tự Đức có thơ ban tặng.(Chép trong sách “Quốc triều khoa bảng lục” của Cao Xuân Dục)
(Hồ sơ số H62A /2, Quốc triều đăng khoa lục, quyển 02, mặt khắc 12)

– Phó bảng Nguyễn Tiến Kiêm (1874 -?)
Nguyễn Tiến Kiêm (tức Nguyễn Tiến Kỷ), người làng Tuần Tượng, nay là xã Kỳ Phong.

Đỗ tiến sĩ khoa Kỷ Dậu (1909), rồi đỗ Phó bảng năm Canh Tuất, niên hiệu Duy Tân thứ 4 (1910), là Hành tẩu bộ Học.
(Hồ sơ số H62A /4, Quốc triều đăng khoa lục, quyển 04, mặt khắc 16)

Phó bảng Kiêm (Ký) rất mê và có tài hát ví, là bạn hát ví với O Nhẫn ở Đan Du, để lại nhiều giai thoại thú vị.

– Trần Công Thưởng, hiệu Quy Phong (1841 – 1914)*
Cụ Trần Công Thưởng quê ở làng Long Trì, tổng Đậu Chữ, nay thuộc xã Kỳ Phú, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Năm Tự Đức thứ 26 ( 1873 ) cụ Thưởng  thi đậu cử nhân. Năm 1875 được bổ làm Hậu bộ ở tỉnh Phú Yên. Năm 1877 làm Huấn đạo huyện Tuy Hòa. Sau được thăng hàm Đông tư và quyền Tri phủ ở Phú Yên. Năm 1880 được bổ làm Tri huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Năm 1884 làm Giáo thụ phủ Hà Thanh (Hà Tĩnh). Ông làm quan rất thanh liêm, bản tính yêu thương dân nghèo, không xu nịnh kẻ làm quan vì danh lợi, nhất là quan thân Pháp. Bởi vậy ông được nhân dân yêu mến, quý trọng. Năm 1885, vua Hàm Nghi bô bá ra Sơn Phòng, Hà Tĩnh, hạ chiếu Cần Vương kêu gọi nhân dân chống thực dân Pháp xâm lược. Hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, cụ Thưởng đã cùng một số sĩ phu ở Kỳ Anh tham gia kháng Pháp.

Cụ Trần Công Thưởng là người cầm đầu phái bộ Kỳ Anh lên gặp vua Hàm Nghi ở Sơn Phòng, Hương Khê, Hà Tĩnh. Lúc lên Sơn Phòng, đoàn Kỳ Anh có mang theo một số sản phẩm địa phương và chiếc áo “long ngũ trảo” (áo vóc thêu rồng năm móng). Đến Sơn Phòng, phái đoàn không gặp được vua Hàm Nghi mà chỉ được tiếp kiến cụ Tôn Thất Thuyết. Sau khi nghe nguyện vọng và ý chí Cần Vương của đoàn, cụ Tôn Thất Thuyết bảo rằng: “các thầy và các chú hãy trở về mà lo liệu gấp, chứ rồi đây, trừ bọn giặc ra, không ai có một tấc đất mà ở”. Vâng lời Tôn Thất Thuyết, cụ Trần Công Thưởng cùng các sĩ phu và những người yêu nước ở Kỳ Anh tham gia Cần Vương rất tích cực. Phong trào này ở Kỳ Anh sôi nổi được vài năm rồi thoái trào.

Thời gian cụ Trần Công Thưởng làm Tri huyện Đông Sơn, Thanh Hóa có yêu và lấy bà thiếp tên là Lương Thị Uyển ở làng Hạc Oa, tổng Thọ Hạc.

Khi cụ Thưởng về Kỳ Anh thì bà Uyển cũng về làng Long Trì. Năm 1886 hai ông bà sinh được người con trai đầu tên là Trần Công Tư. Một thời gian sau bà Uyển lại có thai. Lúc đang mang thai thì bà xin về quê ngoại ở Đông Sơn,Thanh Hóa. Thời điểm này phong trào Cần Vương dưới sự lãnh đạo của cụ Trần Công Thưởng ở Kỳ Anh lên mạnh, tình hình không yên ổn nên bà Uyển ở luôn bên ngoại. Tại gia đình bên ngoại, bà Uyển sinh người con thứ 2 đặt tên là Cung. Vì người anh ruột bên mẹ đẻ ra bà Uyển hiếm con trai nên nhận cậu Cung về nuôi và đặt tên là Nguyễn Cung (theo họ người nuôi).

Một thời gian sau, người con Trần Công Tư có dịp ra thi ở Vinh. Thi xong, ông Tư ra quê ngoại đón mẹ là bà Uyển về lại Long Trì. Lúc ra về, bà Uyển không hề cho ai biết bà để lại một người con trai ở làng Hạc Oa – Đông Sơn, Thanh Hóa.

Lớn lên, ông Cung đã nghe người làng  bảo cho biết quê quán và tên  cụ thân sinh là Trần Công Thưởng. Lúc vào lính đóng ở Vinh, ông đã bắt được liên lạc với họ Trần Công. Năm 1934, ông Cung cùng với vợ là Mai Thị Đoan (quê Đức Thọ, Hà Tĩnh) và con gái về thăm mẹ là bà Uyển và bái yết nhà thờ, gặp gỡ bà con ruột thịt họ Trần Công ở Long Trì. Từ đó trở đi gia đình ông Cung liên lạc với bà con, anh em dòng họ Trần Công ở Long Trì thường xuyên.

Ông Cung vào lính khố Xanh năm 1926. Một thời gian sau được thăng suất Đội.

Trong thời gian ở lính, ông Cung đã chứng kiến nỗi khổ của nhân dân và nỗi nhục làm lính bảo hộ. Thâm tâm ông đã âm ỉ tinh thần yêu nước, căm thù Thực dân Pháp xâm lược và vua quan Nam triều bán nước.

Hiện nay phần mộ ông Trần Công Thưởng và bà Lương Thị Uyển đều ở làng Long Trì, xã Kỳ Phú. Ngày 5/ 1/ 2017 UBND tỉnh Hà Tỉnh đã có Quyết định công nhận phần Mộ và nhà Thờ ông Trần Công Thưởng là Di tích lịch sử,văn hóa cấp tỉnh

 ĐỘI CUNG *
Tên húy, tên gọi khác: Trần Công Cung – Quê quán: Kỳ Anh, Hà Tĩnh – Niên đại: – 1885 – Chức nghiệp: Thủ lĩnh một cuộc binh biến tại Nghệ An chống lại thực dân Pháp. – Công trạng: Ông là một sĩ quan người Việt giữ chức đội trưởng lính Khố xanh trong quân đội Pháp, nên gọi là Đội Cung. Ông đã vận động binh lính Khố xanh mưu đồ khởi nghĩa chống Pháp. Tháng 01/1941, ông tổ chức đánh chiếm đồn Rạng (ở Đô Lương), sau đó kéo sang chiếm đồn Đô Lương (Anh Sơn), giết bọn Tây đoan, rồi kéo lực lượng về thành phố Vinh chiếm tỉnh lị Nghệ An. Nhưng giặc Pháp đã kịp đề phòng đồng thời tổ chức phản công, dồn lính đàn áp dập tắt cuộc binh biến. Cuộc khởi nghĩa thất bại, ông bị bắt và xử bắn.

Ngày 8/1/1941, ông được điều lên làm Đồn trưởng đồn Chợ Rạng (Thanh Chương, Nghệ An). Từ đây ông đã cùng anh em binh lính vào lúc 20 giờ 30 phút  ngày 13/1/1941 nổi dậy cướp đồn Chợ Rạng và đồn Đô Lương rồi cùng nhau  tiến về Vinh để đánh chiếm Trại giám binh thành Nghệ An, mưu nghiệp lớn. Pháp đã cho lính đàn áp cuộc khởi nghĩa. Ông bị Thực dân Pháp bắt và bị chúng hành hình ngày 23/2/1941 tại Vinh. Tuy cuộc khởi nghĩa nhanh chóng bị dập tắt, nhưng “đã có tác dụng kích thích tinh thần ái quốc của đồng bào ta, làm cho đế quốc Pháp bối rối” (Báo “Cởi ách” của Tỉnh ủy Đảng cộng sản Đông Dương Nghệ An). Để ghi nhớ công lao của Đội Cung, Nhà nước đã cấp Bằng Tổ quốc ghi công, và cho lập Tượng đài ở huyện Đô Lương để tưởng niệm và ghi công các liệt sí nổi dậy kháng Pháp ngày 13/ 1/ 1941.
* Theo tài liệu sưu tầm của thầy Nguyễn Tiến Chưởng

2. Những quan chức Kỳ Anh thời đại mới
Ngay sau cuộc khời nghĩa dành chính quyền ở huyện Kỳ Anh thành công, kết thúc giao nhận ấn tín của chính quyền cũ chiều ngày 18-9-1945. Ngay tối hôm đó các thành viên trong Ban lảnh đảo cuộc khởi nghĩa đã họp phân công bộ máy lảnh mới đạo trong chính quyền cách mạng:

2.1. Những quan chức đứng đầu huyện

Ông Nguyễn Trọng Nhã được phân công làm chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng. Có thể coi là vị chủ tịch huyện đầu tiên của huyện Kỳ Anh.

Ông Nguyễn Duy Khiêm được cấp ủy Việt Minh phân công thư ký cấp ủy-tức bí thư sau này.

DANH SÁCH BÍ THƯ HUYỆN ỦY QUA CÁC THỜI KỲ

Họ tên Quê quán Thời kỳ
Nguyễn Tiến Liên Kỳ Bắc 1930
Lê Bính Kỳ Văn 1946
Nguyễn Mân Kỳ Thư 1947
Nguyễn Duy Khiêm Kỳ Thư 1948
Lê Tư Sính Kỳ Văn 1949
Nguyễn Thắng Kỳ Sơn 1950-1951
Dương Quát Kỳ Phong 1952-1953
Lê Thúc Khang Kỳ Văn 1954-1955
Dương Vấn Kỳ Phong 1956-1961
Lê thể Kỳ Ninh 1962-1963
Dương Vấn Kỳ Phong 1963-1967
Thiều Y Kỳ Khang 1967-1977
Nguyễn Ngọc Dinh Kỳ Phú 1977-1986
Nguyễn Ký Kỳ Khang 1986-1989
Nguyễn Din Kỳ Thu 1989-1998
Thiều Đình Duy Kỳ Khang 1998-2005
Tăng Nghĩa Kỳ Tân 2005-2007
Phan Bình Minh Kỳ Văn 2007-2011
Lê Trọng Bính Đức Thọ (huyện) 2011-1015

DANH SÁCH CHỦ TỊCH  HUYỆN QUA CÁC THỜI KỲ

Họ tên Quê quán Thời kỳ
Nguyễn Trọng Nhạ Can Lộc 1945
Hoàng Thành Kỳ Phong 1946
Lê Tư Sính Kỳ Văn 1947-1950
Bùi Chân Kỳ Châu 1950-1956
Nguyễn Thanh Kỳ Hải 1956-1958
Lê Thể Kỳ Ninh 1958-1959
Thiều Y Kỳ Khang 1960-1965
Nguyễn Toát Kỳ Trinh 1965-1975
Nguyễn Ký Kỳ Khang 1975
Lê Minh Tham Kỳ Trinh 1975-1976
Lê Thể Kỳ Ninh 1976-1979
Nguyễn Đình Nhu Kỳ Tây 1980-1981
Nguyễn Din Kỳ Thư 1981-1990
Phan Công Trân Kỳ Châu 1990-1996
Mai Tùng Lâm Kỳ Lợi 1997-2001
Nguyễn Văn Trị Cẩm Xuyên 2002-2006
Trần Bá Sung Kỳ Thư 2006-2012
Nguyễn Văn BổngKỳ Châu2012-2015

2.2 Những quan chức Kỳ Anh đứng đầu tỉnh

- Bí thư tỉnh ủy Nguyễn Tiến Chương
Sinh ngày 10-3-1920. Quê Kỳ Phong, Kỳ Anh. Tốt nghiệp Thành chung ( diplome).
Chức vụ cao nhất: Bí thư tỉnh ủy tỉnh Hà Tĩnh, đại biểu quốc hội Khóa 6.

Qúa trình công tác:

1947-1946: Đội trưởng thnh niên, tự vệ thành, đội trưởng truyên truyền xung phong, cán bộ dân vận tỉnh Khánh Hòa.Tham gia cướp chính quyền ở Nha Trang ngày 19-8-1945
1947-1949: Chính trị viên đại đội thường trực huyện, Huyện đội trưởng, Huyện ủy viên, ủy viên quân sự kháng chiến huyện Kỳ Anh.
1950-1953: Tỉnh đội phó, Tỉnh đội trưởng, Tỉnh ủy viên, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh
1954-1956: Tham mưu phó, trưởng phòng dân quân, Bí thư liên chi bộ tham mưu, dân quân Bộ tư lệnh Quân khu 4.
1956-1972: Thường vụ tỉnh ủy trực Đảng (1956-1961), Phó bí thư trực Đảng (961-1966), Phó bí thư-Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh (1967-1971), Bí thư tỉnh ủy Hà Tĩnh ( 1972-1975)
1976-1981: Phó bí thư trực Tỉnh ủy Nghệ Tĩnh, Phó chủ tịch Uỷ ban mặt trận Tổ quốc tỉnh, đại biểu
Quốc hội Khóa 6.
Chổ ở hiện nay: số 2, ngõ số 31, đường Phùng Chí Kiên, khối Trung Hòa, Hà Huy Tập,TP. Vinh, Nghệ An.

- Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Ký
Sinh ngày 25-12-1940. Quê quán: Kỳ Khang.
Chức vụ: Phó bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, Phó trưởng ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ.

Qúa trình công tác:
Thường vụ Huyện đoàn Kỳ Anh, Bí thư Đảng ủy xã Kỳ Khang, Uỷ viên thường vụ Huyện ủy-Trưởng ban Tuyên giáo Huyện ủy Kỳ Anh, Trưởng trạm vận tải R3 thuộc Binh trạm 25, ủy viên thường vụ, trực Đảng huyện Kỳ Anh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Kỳ Anh, Bí thư huyện ủy huyện Kỳ Anh, Bí thư Đảng ủy cơ quan-Phó văn phòng Tỉnh ủy Nghệ Tĩnh, ủy viên Ban thường vụ tỉnh ủy tỉnh Nghệ Tĩnh, Phó chủ tịch UBND tỉnh Nghệ Tĩnh, Phó bí thư Tỉnh ủy-Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, Phó trưởng ban nghiên cứu của Thủ tướng chính phủ.

Chổ ở hiện nay: số 4, ngõ 198, Hà Huy Tập, Hà Tĩnh.

 


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét