Lê Văn Huân
Lê Văn Huân (?-1929) hiệu là Lâm Ngu, quê làng Trung Lễ, huyện Đức Thọ-
Hà Tĩnh, đậu giải nguyên năm 1906, nên gọi là giải Huân. Lê Văn Huân
tham gia phong trào Duy Tân, năm 1908 bị bắt và đày Côn Đảo, năm 1917
được tha về, tiếp tục hoạt động và thành lập Hội Phục Việt ở Nghệ Tĩnh.
Năm 1927 gia nhập đảng Tân Việt. Năm 1929 bị bắt giam và mất tại nhà lao
Hà Tĩnh.
Lại qua Đèo Ngang
Lại lần này nữa tới Đèo Ngang
Mặt nước xanh xanh đá mọc hàng
Mắt mỏi gió mây càng quạnh quẽ
Thân cùng non nước hóa đa mang.
Lên cao thế phải ngồi trên đỉnh
Gánh nặng lòng đâu bỏ giữa đàng
Máy vẫn âm âm còi vẫn rúc
Bên đèo bổng chốc chuyến xe sang.
(thơ văn nhà nho xứ Nghệ, Ninh Viết giao sưu tầm, biên soạn, NXB Văn hóa thông tin 1995, trang 403)
Huỳnh Thúc Kháng
Huỳnh Thúc Kháng (1867-1947), quê làng Thạch Bình, tổng
Tiên Giang Thượng, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Sinh ra
trong một gia đình nông dân, nổi tiếng thông minh nhưng thi cử nhiều
phen lận đận. Năm 29 tuổi mới đậu tiến sỹ, từ đó bắt đầu học chữ Quốc
ngữ và phát động phong trào Duy Tân. Bị thực dân Pháp đày ra Côn Lôn đến
năm 46 tuổi mới được tự do. Năm 1945-1946 tham gia chính phủ cách mạng
lâm thời, giữ chức Bộ trưởng bộ Nội Vụ, làm quyền chủ tịch nước trong
thời gian Hồ Chí Minh sang Pháp đàm phán.
Mất ngày 21 tháng 4 năm 1947,
Tác phẩm: Có nhiều thơ văn chữ Hán và Quốc ngữ: “Thi tù tùng thoại”, “ Khả tác lục”, “Đê hải thi tập”.
Qua núi Hoành Sơn
Bắc Nam phân giới trước là đây
Tục gọi Đèo Ngang ấy chổ này
Ải cổ rã rời ba đống gạch
Non xanh mù mịt mấy tầng mây.
Một đường xe điện dừng không đứng
Hai cánh rừng cây dựng muốn bay
Thử hỏi nghìn năm hồn nước cũ
Hồng Lam danh tiếng vẫn xưa nay.
Khương Hữu Dụng
Sinh ngày 01/01/1907 tại phố cổ Hội An, trong một gia đình
Nho học nghèo, có truyền thống nhân nghĩa, yêu thơ và giỏi chữ Hán.
Khương Hữu Dụng học giỏi mà bị đánh hỏng tốt nghiệp vì hoạt động phong
trào yêu nước năm 1925-1926 nên đi dạy chỉ được bổ nhiệm “trợ giáo”, năm
1939 bị cách chức, ông chuyên tâm vào thơ phú. Trước 1945 phần lớn sáng
tác của ông là thơ đấu tranh, yêu nước. Ông cũng dịch rất nhiều từ thơ
Đường, Tống, thơ Đỗ Phủ, Lý Bạch…đến Nguyễn Trãi, Ngô Thì Nhậm , Nguyễn
Du…, ông mất tại Hà Nội.
Tác phẩm xuất bản:“Kinh nhật tụng củ nguời chiến sỹ”, “Từ đêm mười chín”, “Những tiếng thân yêu”,“Qủa nhỏ”…
Hoành Sơn hoài cổ
1.Đất dựng trời xây một dãy ngang
Thủa nay bao trải cuộc tang thương
Bia xưa còn đó rêu in chữ
Lũy cũ mòn đâu đá dựng hàng.
Mù mịt nước non mây khói phủ
Vào ra Nam Bắc ngựa xe tràn
Đoái nhìn cảnh cũ ngày xưa đó
Luống giận cho ai khéo mở đường.
2.
Cùng nhau đến viếng cảnh Đèo Ngang
Thấy cảnh tiêu sơ luống đoạn tràng
Tuyết nhuộm sương pha bia lợt chữ
Mưa dầm nắng dãi đá trơ gan.
Mây bay đầu ải: Cờ in bóng
Cây đứng sườn non: Lính sắp hàng
Thành quách phân đàn nay khác trước
Buồn trông phong cảnh chốn Hoành San.
3.
Dâu bể bao lần núi vẫn ngang
Trơ trơ đá nọ đứng giăng hàng
Bia xưa còn tỏ gương minh nguyệt
Ải cũ đà nghiêng bóng tịch dương.
Mỏ điểm: Sóng dồn khi biển động
Đèn canh: Soi rọi lúc đêm trường
Nhìn trông phong cảnh tiêu điều đó
Ai khách ưu thời khỏi cảm thương.
4.
Bắc Nam phân giới, giới lâu rồi
Kẻ lại người qua chẳng thấy thôi
Xe chạy quanh co đường dọc đất
Mây giăng chồng chập núi ngang trời.
Non sông như có nhiều đau đớn
Hoa cỏ chừng ra dáng hổ ngươi
Thôi nỏ buồn chi dâu bể ấy
Đã hay rày lở, hẳn mai bồi…
5.
Vừa đến Hoành Sơn bóng xế đèo
Tư bề nhìn lại vắng teo teo
Cổn vôi rời rã, tường ngiêng ngửa
Bia đá lờ mờ chữ mốc meo.
Núi chất thành sầu, đông dễ khóc
Sóng dồn bể khổ, hạ quên kêu
Đoái nhìn non nước, lòng riêng hỏi:
Hỏi gấm chờ ai để dệt thiêu?
6.
Tới đây nào biết hỏi ai đây
Nam Bắc phân chia phải chốn này?
Lấp bể không chìm bờ sẵn cát
Vá trời thiếu đá, núi phun mây.
Một đường xe chạy rồng như lượn
Mấy cánh buồm giương bướm tưởng bay
Thấy cảnh nhậm ngùi riêng với cảnh
Riêng mình, mình biết với mình hay.
(Khương Hữu Dụng, NXB Văn học Hà Nội 2004, trang 104-106)
Phan Công Bích
Phan Công Bích (1899-1973), quê làng Hiệu Thuận, nay là xã
Kỳ Châu. Tham gia đảng Tân Việt (1927), vào đảng cộng sản 1930, làm khá
nhiều thơ, nhiều bài được làm trong nhà lao Hà tĩnh.
Bị bắt
Trời bể ngang tàng trải mấy thâu
Gian nguy vì chút nợ mày râu
Nổi chìm đâu quản chi làn sóng
Qua lại ai hay mấy nhịp cầu.
Dâu bể trải qua tuôn giọt lệ
Tang bồng gẫm lại rỉ hàng châu
Cậy ai nhắn nhủ ông Bành Tổ
Thu xếp càn khôn lại một bầu.
Lê Bá Cảnh
Lê Bá Cảnh (1911-1941), quê xã Kỳ Văn, là con cháu
dòng dõi Hoàng giáp Lê Tuấn. Thông minh chính trực, tham gia hoạt động
cách mạng từ năm 1930, có uy tín lớn ở địa phương. Năm 1941 ông bị giết
hại cùng các chiến sỹ Nam Kỳ khởi nghĩa.
Khai bút
Một năm một tuồi một thêm trông
Trông hết gian truân kiếp chậu lồng
Trông dứt cạnh tranh trên thế giới
Trông tan áp bức giữa trần trung.
Trông cho thế giới đừng hai dạ
Trông khắp năm châu phải một lòng
Nghĩ lại ngồi trông chừng chẳng được
Thôi thì làm lấy chắc hơn trông.
Nguyễn Tiến Huệ
Nguyễn Tiến Huệ (1903-1958), quê xã Kỳ Bắc, đảng viên thời
kỳ (1930-1931). Khi đang bị giam ở nhà lao Hà Tĩnh, nghe tin Nguyễn
Trọng Bình bị giết, ông đã làm bài thơ này:
Sống chết như anh
Sống thác như anh trọn vẹn rồi
Sống cao thanh khí một con người
Sống ham tranh đấu rung trời đất
Thác để nêu gương sáng giống nòi.
Vững bước phất cao cờ xã hội
Phanh gan chửi đổng bọn nhơ đời
Tinh thần khí phách anh lưu mãi
Rực rỡ hình anh trong trí tôi.
Tính sao đây
Anh em ta phải tính sao đây
Cực khổ có đâu mãi thế này
Sưu thuế bần cùng đời kẻ khó
Cùm gông kìm hãm kiếp người cày.
Tham lam chúng nó già tay cướp
Cay đắng dân tình lắm nỗi gay
Chẳng lẽ ngồi nhìn đời thế mãi
Anh em ta phải tính sao đây.?
Võ Phát
Quê làng Đan Du, nay là Kỳ Thư-Kỳ Anh-Hà Tĩnh. Đỗ cử nhân
võ đời Tự Đức, tham gia phong trào Cần Vương 1885, giữ chức Bang biện
quân vụ, thường gọi là Bang nhu. Ô từng phụ trách quân thứ Kỳ Anh, sau
làm việc văn thư ở đồn Vũ Quang. Khi Tể chưởng vệ quân Cao Thắng hy
sinh, ông được Phan Đình Phùng sai làm văn tế.
Tế Chưởng vệ quan văn
Than rằng:
Thanh bảo kiếm mười năm sẵn có, đấng anh hùng mài dũa mãi không thôi,
Áng nhung trường một phút như không, con tạo hóa ghét ghen chi lắm thế.
Chữ đồng ưu tưởng đến luống đau lòng
Tình văn điếu ngẫm càng thêm giọt lệ.
Tôn linh xưa:
Trung chính ấy lòng;
Kinh luân là chí1
Vén mây nửa gánh giang sơn
Vổ cánh bốn phương hồ thỉ.
Gặp quốc bộ đang cơn binh bách, nghĩa Cần vương chung nỗi ân ưu;
Đem gia tình theo việc nhung đao, công thảo tặc riêng phần lao tụy.
Địa bộ muốn theo dòng Nhạc mục(2), thét nhung bào từng nhiều trận oai linh;
Thiên tài toan học chước Võ hầu(3), chế pháo đạn biết bao chừng cơ trí.
Ơn quân tướng, Đổng nhung vâng lệnh, cầm án quan phòng;
Tước triều đình, Chưởng vệ gia phong, mở cờ tân chế.
Chắc rằng những tam sinh hữu hạnh, hăm hở mài gươm chống đá, chí khuông phù không phụ với quân vương(4),
Nào ngờ hay nhất đán vô thường (5), mơ màng đạn lạc tên bay, trường chiến đấu biết đâu là số hệ.
Ôi thương ôi!
Trời chăng vay hay là mệnh chăng vay;
Người ra thế mà sao phần ra thế.
Trong ba kỷ xuân thu (6), tuy chửa mấy, yên ngựa đòi phen sấm sét, gánh cương thường cho tỏ mặt nam nhi;
Ngoài mười năm sự nghiệp biết chừng nào, dinh rồng bổng chốc sao sa, thu linh phách vội cướp công tráng sĩ.
Thà thác nữa luận tay địch khái (7), về theo tổ phụ cũng vinh;
Kìa sống như mấy mặt hàng di, ở với tinh chiên thêm bậy.
Núi Thiên Nhẫn phất phơ hơi gió thổi, nhớ người tiết nghĩa ngậm ngùi thay;
Nước Tam Soa thấp thoáng bóng trăng soi, tưởng kẻ trung trinh ngao ngán nhẽ.
Rày nhân:
Chung thất tới tuần,
Thúc sô dâng lễ(8)
Chén rượu thoảng bổng bay mùi chính khí, trước dinh đều đủ mặt quan liêu;
Triện hương thơm, nghi ngút khói bạch vân, dưới án khắp dàn hàng cơ vệ.
Đau đớn nhẽ huyên già tuổi tác, ấm lạnh cậy tay em nương tựa, nỗi tình thâm thấu xuống hoàng tuyền;
Xót xa thay chồi liễu thơ ngây, ân cần nhờ công vợ dạy nuôi, may di phúc sản ngành đan quế (9),
Linh phách dẫu mà tinh sảng, hộ phen này tướng mạnh quân bền;
U hồn mà có oan khiên, rồi ngày khác sắc phong điện tế.
Thôi, cửa tía suối vàng đành kẻ khuất, đem thân bách chiến, nổi tiếng thơm cho vẹn cuộc trần ai;
Nào súng đồng gươm bạc mặc người còn, truyền lệnh tam quân, thét hơi mạnh quyết xây nền bình trị.
…………………………………………………………………………………..
- Kinh luân: do chữ trong Kinh dịch “Quân tử di kinh luân”, nguời quân tử sắp đặt mọi việc. Nghĩa đen là việc kéo tơ, lấy từng mối tơ mà chia ra gọi là kinh, so những sợi tơ cùng một thứ mà hợp lại gọi là kinh. Nghĩa bóng là tài sắp xếp mọi việc.
- Nhạc Mục: tức là nhạc Vũ Mục, tên là Nhạc Phi, tướng nhà Nam Tống, quần quân đánh quân Kim, sau bị gian thần trần Cối giết hại.
- Võ Hầu: Túc Võ hương hầu Gia Cát Lượng, quân sư của Lưu Bị .
- Tam sinh hữu hạnh: Cuộc đời gặp may, khuông phù:giúp rập vua.
- Nhất đán vô thường: Một sớm không chừng
- Ba kỳ: Tức ba con giáp =36 năm.
- Địch khái: Tinh thần chống chọi với kẻ thù địch.
8. Thúc sô: Bó cỏ non, đặt trước mộ để viếng.
9.Đan quế: Cây quế đỏ. Ở đây chỉ con cái làm nên. Do câu:”Linh xuân nhất lão thu, đan quế ngũ chi hương” khen người con đỗ đạt.
Phan Công Lộc
Là con trai đầu xứ Phan Công Kế (1854-1920), quê làng Nhân
Lý, nay là xã kỳ Châu-Kỳ Anh-Hà Tĩnh. Ông là một nho sĩ tài hoa, tác giả
bài “Văn tế sống” thường gọi là “Văn cô Nhiễu”-một tác phẩm có giá trị
nghệ thuật cao.
Văn tế sống
(Văn cô Nhiễu)
Than rằng:
Vàng lộn cùng thau;
Ngọc lầm với đá.
Kén khách mà không gặp khách, nỗi vuông tròn thương phận gái thuyền quyên;
Trao tơ chẳng lựa múi tơ, nghĩ đôi lứa ngán cho người thiên hạ.
Phận đã đành song còn chút chưa đành;
Lặng cũng dở mà nói càng thêm dở.
Nhớ cô xưa:
Dự bậc nữ trung;
Vốn người lịch sự.
Lưng eo vú dảnh, ngọc thốt vàng trau.
Má phấn răng đen, miệng cười huê nở.
Mấy buổi chơi đình dạo chợ, nhởn nhơ dải đào yếm thắm, nét trai lơ nhìn hết mặt tài hoa;
Đòi phen đi chợ về quê, lân la điếu thuốc miếng trầu, điều ăn ở xiêu lòng người bạn lứa.
Ngoài phong lưu mọi vẻ đủ rồi.
Trong khuê khổn trăm bề giỏi cả.
Phụng dưỡng treo gương hiếu kính, nết trung trinh thay mặt nam nhi;
Cửi canh nẩy mực kiệm cần, đường công tắc1 ra tay thục nữ.
Gần xa náo nức chữ sắc chữ tài,
Ong bướm xôn xao làng Đon, làng Hạ2.
Nhà phú hữu ao liền ruộng cả, những mong mỏi duyên ưa phận đẹp, bảy năm tròn chờ đợi ước non sông;
Khách văn chương tai thánh mắt hiền, những ước ao gái sắc trai tài, mấy tháng chẵn đi về tin nhạn cá.
Dẫu lòng kia hay nghĩ hay suy;
Thời đó cũng là đôi là lứa.
Tốt phận nữa kết duyên người sĩ nhất, may mắn rồng gặp mây gặp hội, ắt chồng loan vợ phượng sum vầy;
Xấu duyên chăng chắp mối kẻ nông nhì, sớm khuya trâu ruộng cày bừa, cũng đụn ló (lúa) kho tiền chan chứa.
Sao cô chẳng biết đường toan liệu, chẳng nghĩ đũa so với phướn, những
chắc nào trướng gấm, nào màn the, nào võng điều, nào sáo vẽ, thấy vàng
son mà giục dạ mơ màng;
Vậy cô…3 luống những đợi chờ, quản bao dạ cạn như đèn, cũng có khi lên
huê, khi xuống nguyêt, khi trên Bộc, khi trong dâu4 , đem sắt đá để ghi
lòng cậu mợ.
Những tưởng ông tơ rèn cặp đó, bậc bố kinh5, dành lựa chốn trâm anh;
Nào ngờ con tạo ghét ghen chi, đưa thành thị xui về miền biển dã.
Giai tế hình dung xem cũng khá, tóc rễ tre, da đồng điếu, phỏng chừng trong một nước mấy người này.
Tân lang tuổi tác đã bao nhiêu, hạt cau giống, nước chè hâm, chừng đâu độ bốn tuần thêm lẻ nữa.
Nài mai ép trúc, nỗi căn duyên chếch mác bởi vì đâu;
Chê muống ôm dênh (dền), bể ân ái phụ phàng chi lắm rứa.
Duyên phận ngán thay duyên phận, trâm gài lược giắt, luống công trình chải chuốt bấy lâu;
Chồng con sao khéo chồng con, nón gọ quai mây, ngó hình dạng ra chiều buồn bã.
Đành bến nước mười hai là phận8, trong gia đạo chưa có người toan liệu,
sao cô chẳng kiếm nơi gần gũi, nỡ để mẹ thầy tuổi tác, lấy ai khi mưa
dầu nắng lửa, gió kép sương đơn;
Mà quả mai ba bảy đang vừa9, ngoài hương thôn cũng lắm kẻ yêu vì, sao cô
không nghĩ đến nguồn cơn, nỡ đem thân phận liễu bồ, gieo vào dòng nước
biếc non xanh, cát vùi sóng xỏa.
Hay là cô thử nếm mùi đời mặn lạt, nên chẳng quản đồng chua nước mặn, lối sinh nhai toan ngày thang đủ no;
Hay là cô muốn dò dạ thế cạn sâu, chỉn (chỉ) tham nơi chèo ngắn sào dài, câu thích chí được sớm trưa nghiêng ngã.
Hay là bởi mẹ thầy lộn quýt10, ham những thói mớ tôm mảng cá, qua lại ít
nhiều ngọng miệng, ép uổng duyên cô nông nỗi thế, nặng tiền tài mà nhẹ
gánh tình chung;
Hay là vì mối lái đèo bòng, chẳng nhằm khi vào lộng ra khơi, nói phô mật
rót vào tai, dỗ dành phận gái ngẫn ngơ tình, già nhân sự để non quyền
tạo hóa.
Duyên xích thằng11, ước trăm năm có lẻ, phỏng một ngày chi không nghĩ thiệt hơn;
Phận hồng nhan vừa hai mốt tuổi tròn, chi nên tội nỡ đưa thân nhan đày đọa.
Lúc vãng sính qua miền Cầu thị12, cám cảnh nỗi duyên nài phận ép, vật sầu nhân cây cỏ héo dàu dàu;
Buổi hồi môn về bến Vịnh giang13, ngao ngán thay vợ trẻ chống già, cảnh liêu khách cáy cua cười rả rả14.
Thôi thời thôi,
Hồng ngâm chuột vọc, liễu ủ đào phai;
Mình ngọc ngâu vầy, hoa tàn phấn rã.
Mây Hồng Lĩnh khi tan khi hợp, tủi thân cô lưu lạc nước non xa;
Nước thủy triều con ngược con xuôi, thương phận gái nổi chìm quê quán lạ.
Muốn lấy nhân duyên than dì gió, gió qua cửa bể, dáng phất phơ thêm dục cơn sầu;
Toan đem phận số trách bà trăng15, trăng giọi đầu non, chiều lơ láo không soi tấc dạ.
Những quyết lễ thời trả lễ, duyên phong nhã chẳng vuông tròn như trước, thời cũng đã câu vào miệng cá, khó đưa mối chỉ làm đôi;
Tính rằng duyên lại phụ duyên, tình chăn gối êm đềm như xưa, thời làm chi ván đã đóng thuyền, khôn cắt dải đồng16 chia lấy nửa.
“Hoa lưu động khẩu ứng trường tại”, phận hồng nhan bao quản bước truân chuyên;
“Thủy đáo nhân gian định bất hồi”17, của xuân tỏa tha hồ ai khép mở18.
Tơ một mối không vương bạch diện, nợ tình chi mà nói, nói nữa mà chi;
Giấy ba hàng đưa chị hồng nhan, đã thành lỡ thì thôi, thôi đành chịu lỡ.
Ai tai ! Thượng hưởng.
………………………………………………………………………………….
- Công, tắc: Nữ công là việc của đàn bà, phép tắc cư xử của đàn bà..
- Làng Đon (hay) Đôn là làng Hạ (Đan Du hoặc Đôn Tẩu) tồng Hà Trung
- Các bản đều ghi thiếu một chữ,
- Trên bộc trong dâu: tích Tàu.. trong bài này chỉ ý nói không giao tiếp với bạn trai
- Bố kinh:tức bố quần kinh thoa lá quần vải, thoa gai. mặc đơn giản
- Giai tế: Rể quý
- Tân lang: Chàng rể mới
- Bến nước mười hai: Câu mười hai bến nước, trong nhờ đục chịu
- Qủa mai ba bảy:Do chữ “Phiếu hữu mai” trong Kinh thi, chỉ người con gái nhỡ thì. Ba bảy đang vừa: vừa đến tuổi thành gia thất.
- Lộn quýt: Tiếng Nghệ nói về người tính quẩn, tác giả chơi chữ…
- Xích thằng: ta dịch là tơ hồng.Tích Vi Cố đời Đường, gặp một ông già ngồi dưới trăng đang xem quyển sổ trong đó có sợi chỉ đỏ.Hỏi thì ông lão cho biết sơi chỉ đỏ dùng để buộc đôi trai gái vào với nhau thành vợ chồng. Ta hay gôi Ông tơ hồng , ông tơ bà nguyệt.
- Vãng sính: Đi ăn hỏi, Cầu thị là chọ Cầu.
- Vịnh giang: Tức song Vịnh, con sông chảy ra cửa Khẩu
- Liêu khách: Triêu người
- Bà trăng: Tức bà Nguyệt lão
- Dải đồng: Tùy Đường đế sai người lấy lụa ngũ sắc kết thành nút gọi là “đồng tâm kết” ban cho vợ yêu của mình. Chỉ sự gắn bó giữa hai vợ chồng…
- Hoa luu động khẩu ung trường tại / Thủy đáo nhân gian định bất hôi: Hai câu thơ trong bài thơ:”Các nàng tiên đưa Lưu Nguyễn ra khỏi động” của Tào Đường đời Đường, nghĩa là: Hoa còn ở trên cửa động thì còn mãi, nước chảy về xuôi thì không quay lại nữa.
- Xuân toản (tỏa) khóa xuân. Ở đây ý nói đã lấy chồng thì như buồng xuân không khóa nữa.
19.Bạch diện: Mặt trắng, chỉ những người học trò, nhà nho. Ở đây tác giả tự xưng mình là học trò.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét