Từ thời cổ đại và trãi nghìn năm bắc thuộc, sử sách ghi chép rất ít về vùng đất này, cho đến đầu Tiền Lý (thời vua Lý Nam Đế-543) mới được nhắc đến trong “Đại Việt sử ký toàn thư”,
Mãi đến thời Tiền Lê, khi Phụ quốc Ngô Tử An mở ra con đường xuyên Việt qua đèo Ngang (năm 992) vùng đất Kỳ Anh vẫn thuộc vùng biên viễn xa xôi, ít người biết đến, đời sống vật chất, tinh thần đều lạc hậu, lại thường xuyên bị giặc giã quấy nhiễu. Thơ văn thời kỳ này chưa tìm thấy trong các lưu bản, sách vở.
Phải đến đời Lý, năm Ất Sửu (1025) vua Lý Thái Tổ xuống chiếu lập trại Định Phiên ở nam giới của Châu Hoan tức vùng Kỳ Anh bây giờ để bảo vệ biên giới phía nam đất nước.
Và tiếp theo là đời Trần…vùng đất Kỳ Anh mới thật sự được quan tâm, chú ý nhiều hơn…
Mở đầu cho dòng thơ ca viết về mảnh đất Kỳ Anh, ngoài một vài câu ca dao, truyền miệng không đáng kể, có lẽ bài thơ: “Chiều hôm đậu thuyền ở cửa Thần Đầu” của Thân Công Quốc nhập nội đại hành khiển Nguyễn Trung Ngạn (1289-1370) là bài đầu tiên được ghi chép cho đến ngày nay.
Thần Đầu cảng Khẩu vãn bạc
Ba đao nhật cước tán hà hồng
Vô hạn ngư gia lạc chiếu trung
Nhất thủy bạch tòng thiên thượng lạc
Quần sơn thanh đáo hải môn không.
Long qui động khẩu tình sinh vụ
Kình phún triều đầu mộ khởi phong
Độc phiếm lan châu quan hạo đãng
Hốt nghi thân tại lạn ngân cung.
(Trích Hoàng Việt thi văn tuyển của Bùi Huy Bích sưu tầm, biên dịch, NXB Văn hòa Hà Nội-1957, tấp 1, trang 69)
Dịch nghĩa:
Chiều hôm đậu thuyền cửa Thần Đầu
Sóng lay chân mặt trời, tỏa thành ráng đỏ
Vô số nhà chài lẫn trong bóng chiều
Một dòng nước trắng tựa trên trời rơi xuống
Mấy ngọn non xanh, đến cửa biển nhạt màu.
Rồng về cửa hang, trời tạnh hóa mù
Kình phun đầu sóng, chiều hôm nổi gió
Một mình cưỡi chiếc thuyền lan ngắm cảnh bát ngát
Ngỡ như thân ta ở chốn thần tiên.
Dịch thơ:
1.Chiều hôm đậu thuyền cửa Thần Đầu
Sóng lay nguồn nắng ráng hồng tươi
Bao cảnh chiều hôm phủ xóm chài
Ngọn nước lưng trời dòng trắng dội
Dẫy non đầu biển nét xanh phai.
Rồng về cửa động mù che khắp
Kình nổi ngoài khơi gió thổi hoài
Cưỡi chiếc thuyền nan trong bát ngát
Ngỡ mình như ở chốn Bồng lai.
(Không rõ người dịch)
2. Chiều hôm đậu thuyền cửa Thần Đầu
Sóng lay ráng đỏ tận chân trời
Làng chài thấp thoáng mái chơi vơi
Nước rẽ lưng trời tuôn trắng xóa
Núi xuôi gần biển nhạt màu tươi.
Rồng về cửa động trời sẫm tối
Cá vờn đầu sóng gió tung khơi
Trên thuyền ngắm cảnh chiều man mác
Nào khác thần tiên lạc cõi người..
(Xuân Lộc phỏng dịch)
Thơ vua Lê Thánh Tông viết ở Kỳ Anh
Tiểu dẫn: Lê Thánh Tông (1442-1497) tên tự là Tư Thành, là
con trai thứ tư, con út của vua Thái Tông. Mẹ là Ngô Thị Ngọc Giao,
người làng Động Bành, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Lê Thánh Tông lên
ngôi, trị vì 38 năm, là một ông vua tài năng và nhiệt huyết với nhiều
thành tịu nổi bật. Ông đã làm cho quốc gia Đại Việt phát triển rực rỡ về
mọi mặt. Lê Thánh Tông còn là một nhà thơ lớn. Ông tự lập ra Hội Tao
Đàn, gồm 28 tiến sĩ giỏi thơ văn nhất đất nước thời đó, gọi là “Tao Đàn
nhị thập bát cú” do chính ông làm nguyên soái. Khối lượng sáng tác của
ông và hội Tao Đàn có vị trí rất đặc biệt trong nền văn học nước nhà.
Tác phẩm “Hồng Đức quốc âm thi tập”, văn Nôm có: “Thập giới cô
hồn quốc ngữ văn”, thơ Hán có: “Chinh Tây kỷ hành”, “Minh Lương cẩm tú”,
“Văn minh cổ xúy”, “Cổ tâm bách vịnh”.
Ông có riêng 5 bài thơ chữ Hán và 1 bài chữ Nôm viết về Kỳ Anh (Hà Hoa xưa)
Bái 1: Hồng Đức nguyên niên thập nhị nguyệt thập nhất nhật
Tiểu tiểu bồng song để đỉnh miên
Lục sa trướng quyển bạc như thiền
Càn khôn dạ vũ tam canh mộng
Triều hải đông phong vạn lý thiên.
Diễu diễu ba đào cùng vọng mục
Thông thông thời tự tích lưu niên
Khước lân nê lộ cù lao sĩ
Phúc thủ nan vô mộc quách tiền.
(Thơ văn Lê Thánh Tông, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1986, trang 170-171)
Dịch nghĩa:
Hồng Đức năm thứ nhất ngày 11 tháng 12
Mui thuyền vắng lặng tựa đầu mà ngủ
Bức màn the xanh mỏng tựa cánh ve
Giữa trời đất đêm mưa canh ba mơ màng giấc mộng
Gió đông vù vù nơi sông nước, muôn dặm bát ngát trời xanh
Sóng nước mênh mông nhìn ngút tầm mắt
Quang âm thấm thoắt tiếc ngày tháng trôi
Luống thương binh sĩ dầm bùn vất vả
Ngã chết mà trong túi không tiền sắm áo quan.
Dịch thơ:
Ngày 11 tháng 12 năm Hồng Đức thứ nhất
Ngủ tựa đầu nhan, thuyền lạnh vắng
Rèm xanh mỏng tựa cánh ve xanh
Gió đông vỗ biển trời muôn dặm
Đêm tối tràn mưa mộng mấy canh.
Hun hút tầm xa nhòa sóng nước
Vèo trôi ngày tháng tiếc thời gian
Luống thương binh sỹ dầm chân đất
Chết thiếu tiền mua cỗ áo quan.
Ngô Linh Ngọc dịch
Bài 2: Tiến thoái cách
(Thập nhị nguyệt thập tam nhật, dạ tử canh, khai thuền hành
nhất tiểu giang. Thập tứ nhật tảo, nhập Sa Tắc cảng, phong hàn vũ chú,
thuyền bạc ngạn biên, lưỡng ngạn bình điền, mục cực thiên lý, nhân hy
địa quảng, my lộc thành quần. Tự Trường Lang cảng dị tiền, dung thỉ dân
sổ vạn gia hỷ.Ngẫu thành nhất luật vân):
Uyên yên đà cổ thủy biên qua
Phong ngoại lâu thuyền lược ngạn qua
Tiếp dã tri dư thiên vạn khoảnh
Chẩm giang ly lạc lưỡng tam gia
Hải nhai lỗ viễn thần quang mại
Đầu thượng thiên đê vũ ý đa.
Trịnh trọng thanh hanh hiểu hơn sắc
Tự năng tương tống quá Hà Hoa.
Dịch nghĩa:
Thể tiến thoái
(Canh tư, đêm mười ba tháng 12, rời thuyền bơi vào một dòng
sông nhỏ. Sáng 14 vào cảng Sa Tắc, mưa to gió lạnh, thuyền dừng lại sát
bờ. Hai bên bờ ruộng phẳng bát ngát muôn dặm nhìn ngút tầm mắt, đất rộng
người thưa, hươu nai từng đàn. Từ cảng Trường Lang trở về phía trước có
thể di dân chừng mấy vạn gia đình. Ta ngẫu hứng thành một bài thơ
rằng):
Thùng thùng tiếng trống vang lừng bên sông
Thuyền lầu lướt gió chạy sát ven bờ
Bát ngát liền bờ ruộng muôn ngàn khoảnh
Lác đác kề sông dăm ba nóc nhà.
Góc bể đường xa chan hòa nắng sớm
Trên đầu trời thấp, lộ rõ vẻ mưa
Sắc núi sớm xanh ngắt một cách trịnh trọng
Dường như tiễn ta qua cửa Hà Hoa.
(Sách đã dẫn trang 172)
Dịch thơ:
Thế tiến lui
Rộn rịp bên sông tiếng trống đà
Thuyền lầu lướt gió dọc bờ qua
Ruộng đồng liên tiếp ngàn muôn khoảnh
Làng mạc lưa thưa mấy túp nhà
Góc bể lờ mờ khi rạng sáng
Bầu trời u ám cảnh mưa sa
Núi non trịnh trọng màu xanh biếc
Trước cửa Hà Hoa tống tiễn ta.
(Theo bản dịch HVTVT)
Bài thứ 3: Trú Hoành Sơn dịch
(Thập nhị nguyệt, thập tứ nhật trú Hoành Sơn dịch thị. Dạ tứ
canh nhiên đăng lãm quyển, xuất lệnh chư quân nhục thực, minh nhật khai
thuyền, dĩ nhi chuyển thâu Tắc Giang, cụ mộc chẩm thủy nải lệnh tiền khu
tả dực phạt mộc thông chu. Tắc Giang chư thuyền , nhất thời bạt khứ.
Thập ngũ nhật Mùi thời phát hành, thư nhất luật vân):
Cô thôn nguyệt lạc nhất văn kê
Văn ngoại tinh hà ảnh tiệm đê
Tiểu trí nhất thời quy phụ thố
Đại canh thiên cổ bất điều tê.
Sóc phong quyển địa mai hoa sấu
Hiểu vụ mãn thiên thiết mã tê
Quốc sự viễn lai vô khả vấn
Thương lương hành sắc dạ ô đề.
(Sách đã dẫn trang 174)
Dịch nghĩa:
Nghỉ ở trạm Hoàng Sơn
(Ngày 14 thang 12 đóng quân ở trạm Hoàng Sơn. Canh tư đêm ấy
đốt đèn đọc sách, hạ lệnh cho ba quân ăn cơm từ sớm, sáng ra rời thuyền
tiến vào Tắc Giang, gặp cây to chắn giữa đường, bèn ra lệnh cho cánh
quân tiền khu tả dực chặt cây thông thuyền. Đoàn thuyền trên sông Tắc
Giang một lát qua được ngay. Giờ Mùi ngày 15 lại khởi hành, ta bèn viết
một bài thơ luật rằng):
Thôn vắng trăng lặn, chợt nghe tiếng gà gáy
Sông Ngân ngoài lớp mây, bóng đã thấp dần
Chí mọn nhất thời ôm cây đợi thỏ
Canh ngọt muôn thủa gia vị chẳng cần.
Gió bấc cuốn đất, hoa mai gầy guộc
Mù sớm mịt mùng ngựa sắt hí vang
Việc nước xa xôi không thể hỏi được
Chỉ có trời xanh lạnh ngắt với tiếng quạ kêu đêm.
Dịch thơ:
Nghỉ ở trạm Hoàng Sơn
Xóm vắng trăng lu vẳng tiếng gà
Chân mây dần thấp dải Ngân Hà
Một thời hiểu ít cây ôm hảo
Ngàn thủa canh ngon vị chẳng pha.
Gầy võ cánh mai cơn gió bấc
Hí vang ngựa sắt sớm mù sa
Mịt mùng việc nước khôn giò hỏi
Lạnh ngắt trời khuya tiếng quạ xa,
(Ngô Linh Ngọc dịch)
Bài thứ 4: Hà Hoa hải môn lữ thứ
Hà Hoa đáo xứ vũ trùng siêu
Hoàn hải mang nhiên tứ vọng dao
Xúc thạch du du vân luyến tụ
Bài nham húng húng lãng tùy triều.
Thủy tiên đàm thượng yên hà cổ
Chế Thắng từ trung thảo mộc kiều
Túy ỷ bồng song ngâm hứng phát
Thi hoài khách tứ kết vô liêu.
(Sách đã dẫn trang 188)
Dịch nghĩa:
Nghỉ lại ở cửa biển Hà Hoa
Khắp vùng Hà Hoa mưa suốt buổi sáng
Xa xa nhìn bốn phía vũ trụ mênh mang
Vách núi xanh mướt, mây quấn quít quanh đỉnh
Đỉnh núi nhấp nhô, sóng thủy triều vỗ ầm ầm
Trên đầm Thủy Tiên vẫn mây khói xưa
Quanh đền Chế Thắng cỏ cây xanh tốt
Say rượu, ngồi tựa cửa thuyền, hứng thơ chứa chan
Thơ mang nỗi niềm người khách xa nhà, càng thêm vời vợi.
Dịch thơ:
Nghỉ lại ở cửa biển Hà Hoa
Mưa mai mù mịt bến Hà Hoa
Ngắm bể mênh mang bốn phía xa
Mây mến đầu non lơ lửng đứng
Sóng theo con nước rập rờn qua.
Thủy Tiên đầm nọ đầy sương sáng
Chế Thắng đền kia rực cỏ hoa
Say tựa bên mui càng nảy hứng
Lòng thơ dạ khách khó khuây khoa.
(Đỗ Ngọc Toại dịch)
Bài 5: Xích Lỗ hải môn lữ thứ
Xích Lỗ giang trung phiếm khách thuyền
Lữ hoài hương tứ cộng mang nhiên
Đào đầu hải thú hà vi bảo
Ngạn chủy nhân gia lại tác duyên.
Mạo vũ phàm quy ngư tử quốc
Duyên lưu triều trướng lạc hầu điền
Thắng hoài thặng nghĩ hy tiền triết
Khóa lãng thừa phong khoái trứ tiên.
(Sách đã dẫn trang 190)
Dịch nghĩa:
Nghỉ lại ở cửa biển Xích Lỗ
Chiếc thuyền khách lướt trên sông Xích Lỗ
Nỗi xa nhà nhớ quê khiến ta man mác
Phòng thủ bờ biển nơi đầu bãi lấy sông làm lũy
Nhà dân gốc bờ sông lấy tre làm kèo nhà.
Cánh buồm đội mưa trở về vùng cá nước
Ven sông thủy triều lên ngập ruộng Lạc hầu
Nhớ mãi tới các vị hiền triết đời trước
Ta bèn đưa con thuyền lưỡi sóng lướt vun vút.
Dịch thơ:
Nghỉ lại ở cửa biển Xích Lỗ
Lênh đênh Xích Lỗ mơ màng
Non xanh nước biếc xốn xang nhớ nhà
Chòi canh dựng giữa phong ba
Chênh chênh bến nước bóng nhà nghiêng nghiêng
Mưa giông gõ nhịp mạn thuyền
Triều dâng ruộng Lạc chung chiêng mé đồi
Mơ màng hiền triết xa xôi
Rẽ mây cưỡi gió băng vời vút lên
(Võ Minh Châu dịch)
Bài thư 6 : Qua Đèo Ngang
Bãi thẳm ngàn xa cảnh vắng teo
Đèo Ngang lợi bể nước trong veo
Thà là cúi xuống cây đòi sụt
Xô xát xông lên sóng muốn trèo.
Lảnh chảnh đầu mầm chim vững tổ
Lanh đanh cuối vụng cá ngong triều
Cuộc cờ kim cổ chừng bao nả
Non nước trông qua vẫn bấy nhiêu.
(Văn đàn bảo giám, NXB Văn học 1998, Trần Trung Viên sưu tập, trang 19)
Bài thứ 7: Đề đền Chế Thắng phu nhân
Một vị hiền nhân cửa điện trần
Hy sinh vì nước dám liều thân
Đào hoa chìm nổi cơn giông tố
Mộng điệp mơ màng giấc mộng xuân.
Dòng nước vô tình chôn Sở phụ
Hương hồn nào chỗ viếng Tương quân
Than ôi! Trăm vạn binh hùng mạnh
Lại kém thư sinh một hịch quân.
(Lê Thánh Tông-1470 niên hiệu Hồng Đúc)
Bùi Huy Bích
Bùi Huy Bích (1744-1802) tự Hy Chương, hiệu Tồn Am. Nhà
thơ, nhà văn Việt Nam. Quê ở huyện Thanh Trì, trấn Sơn Nam, nay thuộc Hà
Nội. Đỗ hoàng giáp năm 1769, làm quan đến chức hành tham tụng ở phủ
Chúa Trịnh.
Tác phẩm của ông có các tập Bích Câu thi tập, Nghệ An thi tập, Thoái
Hiên thi tập gồm nhiều bài phản ánh tình hình nhân dân đói khổ vì thiên
tai, thuế khoá, binh dịch; nhiều bài tả cảnh đẹp thiên nhiên nơi Bùi Huy
Bích làm quan hoặc ở quê hương. Thời Tây Sơn, Bùi Huy Bích ẩn náu ở Sơn
Tây và viết cuốn Lữ trung tạp thuyết (1789) chép tản mạn những suy nghĩ
về triết học, văn học, lịch sử, giống như một cuốn tuỳ bút. Bùi Huy
Bích còn soạn bộ Hoàng Việt thi tuyển, chọn thơ các đời cho đến đời Cảnh
Hưng (cuối Lê), trong đó có phụ thêm thơ của ông; bộ Hoàng Việt văn
tuyển gồm phú, ký, minh, văn tế, chiếu, chế, sách, biểu, công văn, sắp
xếp theo thể loại.
Những bài thơ ông viết viết miền phiên dậu kỳ Anh có nhiều. Trong bài thơ “Vịnh núi Cao Vọng” có hai câu:
“Trương Phụ lai thời thanh thạch lão
Hán Thương khứ hậu bạch vân lưu”
(Đá cũng bạc đầu, Trương Phụ đến
Mây còn trắng núi, Hán Thương đi)
(Thái Kim Đỉnh dịch.)
Trong Nghệ An ký (NAK), bài “Phú Nghĩa Sơn hành vũ trung” của Bùi Huy Bích được đưa vào mục từ “Hoành Sơn”, tiết Núi, chương Địa chí, với lời dẫn: “Hoành Sơn “tức Đèo Ngang) ở xã Hoằng Lễ, Kỳ Hoa, (nay thuộc xã Kỳ Nam, Kỳ Anh) là dãy núi trấn giữ biên cương thuở trước, trên đất Kỳ Hoa. Một nhánh từ phía Tây vượt tới biển chặn ngang, cây cối um tùm xanh tốt. Xưa, đây là nơi xung yếu ngăn cách hai miền Giao Châu và Chiêm Thành. Thành dài, lũy ngắn hiểm trở, vững chắc đủ để cầm giữ. Ông Bùi Chấp Chính (BHB), người Thanh Trì, đi qua núi Phú Nghĩa trong mưa có thơ:
- Phú Nghĩa Sơn hành vũ trung
“Thủy tín Hoan nam biên ái tráng
Bất tri khống địa, kỷ trùng quan
Liên không thương mãng hồn lâm tụ
Bạt địa tha nga tận thạch sơn
U điểu sầu viên thùy phục quản
Độc khê nguy đặng chỉ như nhàn
Vũ trung cảnh tượng nan miêu xứ
Noãn kiệu kê ngang vân vũ gian”
Dịch nghĩa:
Qua núi Phú Nghĩa đi trong mưa
Mới tin miền biên ải phía nam Hoan Châu hùng tráng vững chắc.
Nơi chắn giữ này (khống địa) có biết bao lớp cửa dày đặc
Rừng cây xanh rậm tận chân trời
Đá núi cao vút nâng thế đất
Chim hận vượn sầu khó quản.
Nước khe độc dốc nguy hiểm, chỉ thoáng rầy (như nhàn)
Cảnh tượng nơi đây ngày mưa (vũ thiên) ai đến vẽ
(Ngồi trong) kiệu ấm lên (đèo) xuống (dốc) giữa mây mưa
Dịch thơ:
Qua núi Phú Nghĩa đi trong mưa
Mới tin biên ải Hoan Nam vững
Chẳng biết bao nhiêu lớp cửa dày
Xanh rậm chân trời, rừng bịt kín
Vút cao thế đất, đá ken đầy
Vượn sầu chim hận không hề quản
Khe độc dốc nguy chỉ thoáng rầy
Cảnh tượng ngày mưa ai đến vẽ
Nhấp nhô kiệu ấm giữa mưa mây
(Bùi Văn Chất dịch)
Nặng lòng với trầm tích lịch sử và cảnh sắc thiên nhiên Kỳ Anh, ông
để lại trong “Nghệ An thi tập” một chùm thơ/ riêng của vùng này: 1,
Phó Trấn thành ; 2, Trấn Thành trung thu dạ ; 3, Trấn thành thu vũ ; 4,
Thu tình Trấn thành dạ trung, tác ; 5, Ngoạn Việt Sơn tuyền; 6,Hiểu quá
Lạc Xuyên sơn tức sự ; 7, Trùng chước Việt Sơn tuyền ; 8, Phú Nghĩa Sơn
hành vũ trung, tác; 9, Quá Liên Sơn tự; 10, Cao Vọng Sơn ; 11, Mộc Miên
khê; 12, Vọng Bàn Độ Sơn; 13, Vọng Thiên Cầm sơn …
( Trích trong bài: Kỳ hoa – Miền biên ải Hoan Nam trong thơ Bùi Huy Bích của Bùi Văn Chất – Tạp chí Văn hóa Nghệ An
- Trấn Thành Trung thu dạ
Tịch mịch sơn thành vũ vị lan
Nguyệt hoa ưng thị chiếu Trường An
Bình sở liên không dạ khí hàn
Vụ ám trùng quan thời trích lậu
Đăng minh cô quán dộc bằng lan
Số bôi đạm mính thù giai tiết
Trân trọng tướng quân nhất quả bàn
Dịch nghĩa:
Đêm Trung thu ở Trấn thành
Vắng vẻ Sơn thành mưa chưa tan
Hoa trăng đang dọi chốn Tràng An
Hoa lau tàn vây quanh ẩn tiếng thu
Bụi gai phẳng liền trời đêm gió lạnh
Sương mù dăng dày cửa ải nhỏ giọt lách tách
Ngọn đèn chong quán vắng ngồi dựa lan can
Vài chén trà nhạt đón mừng tết Trung thu
Trân trọng dâng tướng quân một mâm hoa qủa
Dịch thơ:
Đêm Trung thu ở Trấn thành
Vắng vẻ Sơn thành mưa chửa tan
Hoa trăng đang dọi chốn Trường An
Lau tàn rạp đất hơi thu lặng
Bụi rậm liền trời đêm gió lan
Ải trĩu sương dày treo ngọn cỏ
Đèn chong quán vắng tựa lan can
Chén trà nhạt đón Trung Thu đến
Trân trọng mâm quà dâng tướng quân
(Bài Văn Chất dịch)
- Ngoạn Việt Sơn truyền
Nhất đái bình cương thúy điệu liên
Xuyên lâm lạc thạch tiện sàn viên
Ốc tào cấp lựu hà vô vũ
Nham khiếu phi thoan cái hữu tiên
Cấp ngạnh đông tây phân viễn kính
Thi nang tằng phủ bạn phương tuyền
Thanh trà số oản lương âm hạ
Tương phủ Hoành Sơn bích tiếu thiên
(Chữ “phủ” trong câu 8 bài này ở NAK là chữ “đối”)
Dịch nghĩa:
Ngắm cảnh suối Việt Sơn
Một dải gò bằng rừng cây xanh thẳm
Xuyên rừng luồn đá suối nước ngon tuôn trào
Máng nước luôn đầy, dù trời không mưa
Hang đá lại phun, nhờ tiên thánh chỉ bảo
Đó đây nhờ gàu tát đưa nước lên lối nhỏ
Bầu bạn cùng túi thơ có suối thơm đây
Vài chén chè xanh nghỉ ngơi hóng mát
Ngắm Đèo Ngang xanh thấm tận trời
Dịch thơ :
Ngắm cảnh suối Việt Sơn
Một gò cây cối xanh xanh
Hang đá rải rác xuyên rừng xuyên khe
Không mưa máng nước chảy ra,
Bay từ hang đá như là dáng tiên
Xa xa gàu tát nước lên
Túi thơ làm bạn với miền suối thơm
Tựa cây uống bát chè ngon
Núi Hoành trước mặt, biếc tuôn đầy trời
(Mai Xuân Hải dịch)
(Nguyễn Thị Thảo, Nxb KHXH, Hà Nội: 2004, trang 201)
- “Quá Liên Sơn tự” Kỳ Hoa huyện
“Truyền văn cựu hữu Liên Sơn tự
Nhận đắc đài bi cổ thú trung
Bại ốc bán gian dư vận đạc
Tằng loan thiên điệp chỉ phương tùng
Lụy môn thế thạch trùng trùng đặng
Khê thủy băng nhai dực dực phong
Tưởng kiến vân quan vô sự cửu
Thú lâu triệt tận, tự hoàn không”
Dịch nghĩa:
Qua chùa Liên Sơn huyện Kỳ Hoa
Nghe truyền rằng (ở đây) xưa có chùa Liên Sơn
(Nay còn) nhận rõ được tấm bia rêu phủ trong “đồn thú” cổ
Nhà nát nửa gian còn dư âm tiếng mõ
Núi cao nghìn tầng chỉ toàn là rừng thơm
Cửa lụy xếp thềm tầng tầng đá dựng
Nước khe xói bờ lớp lớp gió lay
Cứ nghĩ chốn quan ải trên mây không có chuyện cũ
“Lầu canh” triệt hết, chùa cũng không còn.
Dịch thơ:
Qua chùa Liên Sơn huyện Kỳ Hoa
Truyền rằng xưa có Liên Sơn tự
Còn đó bia rêu giữa điếm hoang
Nghìn lớp non cao rừng mãi thắm
Nửa gian nhà nát, mõ còn vang
Xếp thềm cửa lụy tầng tầng dựng
Xói vách dòng khe lớp lớp loang
Quan ải trong mây đâu chuyện cũ
Lầu canh triệt tận, góc chùa hoang.
- Kỳ Hoa đạo trung vọng Thiên Cầm sơn
Hải Thượng đê mê thảo thụ âm
Quý Ly hà xứ hốt hành cầm
Khả liên tặc tử mưu thiên quốc
Bất ngộ Hoàng thiên sát phụ tâm.
Khẩu thực vạn niên nhân thỏa mạ
Sơn quang nhất phiến khách trầm ngâm
Kỳ La đông vọng phù lam x
Thiên ức Hồ Vương thính ngọc cầm.
Dịch nghĩa:
Giữa đường Kỳ Hoa trông núi Thiên Cầm tức sự
Trên bờ biển mịt mùng cỏ cây rậm rạp
Quý Ly bỗng bị bắt ở nơi nào đây
Đáng thương tặc tử mưu dời nước
Không biết Hoàng thiên giết kẻ phụ tâm
Bia miệng muôn năm người đời chửi rủa
Trước quang cảnh núi khắc lòng khách trầm ngâm
Kỳ La hơi núi từ phương đông tới
Riêng (Ta) nhớ Hồ Vương nghe tiếng ngọc cầm.
Dịch thơ:
Giữa đường Kỳ Hoa trông núi Thiên Cầm tức sự
Bờ biển mịt mùng cây với cỏ
Nơi đâu Hồ Quý bị giam cầm
Đáng thương giặc tính mưu dời nước
Chẳng biết trời hành kẻ phụ tâm
Bia miệng muôn năm đời chửi rủa
Trời quang một khoảnh khách trầm ngâm
Phương đông hơi núi Kỳ La nổi
Riêng nhớ Hồ Vương thưởng ngọc cầm.
(Còn tiếp…chúng tôi chỉ post lên một số bài đầu trang tượng trưng, mời bạn đọc trong sách )