1. Phong tục, tín ngưỡng, tôn giáo ở Kỳ Anh
1.1. Phong tục tập quán:
Theo “Kỳ Anh phong thổ ký” viết 1930: “Dân trong hạt vốn có tính chất
thuần phác, đôn hậu, chăm nghề ruộng nương, buôn bán mà ít ham học hành,
tính cầu an, thủ cựu, không thích canh cải. Mức tiến hóa văn minh so
với các nơi khác thì còn chậm. Việc hôn nhân thì không bàn đến của cải.
Việc tang lễ thì theo lệ cũ. Ở đình chung thì trọng kẻ chức tước, quý
người có tuổi tác. Các bậc văn nhân, khoa bảng cũng được trọng vọng.
Miếu mạo, văn chỉ, đền chùa nơi nào cũng có. Trong dân, qua xuân thu, lễ
tiết, vui mừng, việc qua lại rất là đôn hậu. Đại để phong tục tập quán
so với các hạt trong miền Nghệ Tĩnh gần gần giống nhau…”
Kỳ Anh, vùng núi non ở biên viễn xưa, cho đến thế kỷ XV, XVI vẫn là nơi tụ lại của dòng người từ phía bắc vào. Sống trong môi trường gần như khép kín, thiên nhiên khắc nhiệt, chiến tranh liên miên, sản xuất lạc hậu, con người chịu nghèo nàn, cực khổ lâu đời, trở nên hẹp hòi, thủ cựu…là điều dễ hiểu. Tuy nhiên điều kiện sống như vậy cũng tạo cho con người những đặc tính có phần đậm nét hơn những nơi khác. Người dân ở đây chân thật đến mộc mạc, có ý thức cộng đồng làng xã cao, tự khép mình vào kỷ luật nghiêm ngặt, có lúc rất khắt khe, không dễ dàng tiếp nhận, tin theo những cái từ bên ngoài du nhập vào, do đó cũng không cuồng tín.
Ngày xưa ở đây có câu: “Thần Đầu vô lưu nha chi án; Cấp Dẫn vô tả đạo chi dân”. Ở Thần Đầu mọi người giữ luật lệ rất nghiêm và buộc người nơi xa đến đây cũng phải làm như vậy, họ tuyệt đối phục tùng những người đứng đầu làng, hạt. Họ cùng nhau bàn bạc, giải quyết mọi việc ở địa phương, không bao giờ phải thưa kiện lên quan trên. Còn dân ở Cấp Dẫn thì không theo đạo, và ở các nơi khác giáo dân cũng không là ngoan đạo lắm.
Những đặc điểm trên vừa có cái hay nhưng cũng là sự cản trở trên con đường tiến hóa của xã hội văn minh.
Người dân Kỳ Anh có sức chịu đựng gian khổ bền bỉ không giới hạn, giàu nghị lực khắc phục, vượt qua khó khăn, khí khái, quật cường. Sống tình nghĩa, thủy chung, mọi người gắn bó với nhau, tình làng, nghĩa xóm tắm thiết. Người ta ít khi muốn rời khỏi làng và người đi xa thường muốn trở về quê. Tình cảm này tuy có trở ngại cho sự tiến thủ, nhưng cũng là những hành vi tốt đẹp, những hy sinh cao cả vì quê hương.
Tuy nhiên cũng có nhiều người dân Kỳ Anh sẵn sàng xa quê để học hành, lập chí thành danh rồi mới trở về. Như hai anh em Lê Quảng Chí, Lê Quảng Ý ở Thần Đầu đã là đại quan triều đình nhưng khi già vẫn về quê mở trường dạy học để khai sáng quê hương. Trước cách mạng cũng có rất nhiều người rời quê hương vào phía nam, vùng Nam Kỳ lục tỉnh tìm việc, làm ăn, buôn bán rồi cuối năm lại về…
Hà Tĩnh, Nghệ An nói chung phong tục, tập quán đại để là giống nhau, nhưng mỗi vùng, mỗi huyện cũng có một số tập quán riêng, dễ nhận. Kỳ Anh là huyện địa đầu nên có một số điểm gần giống với Quảng Bình phía nam, như việc giả gạo thường gỉa bằng tay đôi, tay tư, vừa giả vừa hát hò vui vẻ theo nhịp chày chứ ít giả bằng cối như các nơi khác.
Cũng có thể vùng quê này còn chịu ít nhiều từ văn hóa Chàm xa xưa nữa, nên ngày hội, ngày tết thường có đu tiên. Theo nhà nghiên cứu Bờ-rơ-tông (H.Le Breton) thì đu tiên là một hình thức tế lễ mang tính chất tôn giáo của người Chàm, du nhập từ Ấn Độ. Ở Kỳ Anh ngày trước còn có giếng vuông, bốn bờ ghép ván, người ta nói đó là kiểu giếng Chàm.
Mặc dù gần rừng, nhiều gỗ nhưng dân nghèo và nhiều bão tố nên nhà cửa ngày trước thường nhỏ và thấp, lâu đời hình thành một quan điểm nhà phải “Vô bái nhà, ra bái ngõ”, nghĩa là nhà phải thấp để vô ra đều phải cúi đầu, để khỏi va chạm.
Về ăn mặc thì người Kỳ Anh cũng giống các nơi khác trong tỉnh Hà Tĩnh. Dân giả thì dùng vải Đồng Môn khổ hẹp, nhuộm nâu hoặc đen, quan điểm về cái đẹp hình thể là sự khỏe khoắn: “Đàn ông đóng khố đuôi lươn – Đàn bà mặc ướm hở sườn mới xinh”.
Ta có thể hình dung ngày trước đàn ông thường đóng khố, ở trần hay mặc áo ngắn năm thân, bốn tứ (áo tứ thân)-áo khách-quần dài quá gối. Lễ, Tết, hội hè, đình đám thì mặc áo dài (năm thân), vải thâm hoặc nhuộm nâu bầm, quần trắng, khăn vấn thủ rìu hay vấn vành, đi guốc quai mây hoặc chân đất.
Đàn bà mặc áo cánh nâu, yếm nâu (hoặc trắng), váy đen (thường là nhuộm nâu bầm hoặc nhúng bùn đen), khăn thâm hoặc nâu non. Khá hơn thì có cái áo dài nâu non mặc ngoài thắt qua ra phía sau.
Người giàu có, chức dịch, nho sĩ…thì ngày thường cũng mặc như kiểu dân dã, chỉ khác loại hàng tấm và dôi dài hơn. Thường áo quần nái hay lụa để trắng hoặc nhuộm nâu da bài, ngoài là áo dài the, lương đen (rất sang mới mặc gấm, xa tanh), quần trắng, dây lưng nái hoặc lụa, vấn khăn nhiễu hoặc đội khăn đóng, đi guốc kiểu Xà goòng (Sài Gòn) hoặc giày hạ…Đàn bà mặc áo vải trúc bâu nhuộm nâu non, hay áo lụa, áo cát bá trắng, yếm đào hoặc trắng, váy vải sồi hay lụa, dây lưng sồi, khăn nhiễu hay sa-tanh, thường đi chân đất, mặc áo ngoài có áo dài the hoặc vải nhuộm nâu non, sang hơn nữa thì có bộ áo “mớ ba”-(áo dài của phụ nữ xưa bằng the lụa mỏng, một bộ ba chiếc: ngoài củng áo màu tím sẫm, trong là áo màu ngói rồi màu hồng), đi guốc hoặc giày mỏ cong.
Từ năm 1930 đến trước cách mạng 1945, thanh niên, học sinh, trí thức dần thay đổi cách ăn mặc. Con trai đội mũ két, có người mặc đồ Âu (thường là quần cụt-Short). Một số thiếu nữ mặc áo dài tân thời (Lơ muya-Le Mur), quần cẩm cuốn, đi guốc cao gót…
Đội đầu thì người Kỳ Anh xưa chỉ có cái mũ đan bằng tre, hoặc cái lịp lá kiểu nón Thượng (Đức Thọ), về sau mới dùng nón lá Ba Đồn (Quảng Bình), nón Kinh. Giàu sang thì đàn ông đội nón Gò Găng, đi ô, đàn bà đội nón bằng, quai thao (nón Hạ).
Kỳ Anh vốn ruộng xấu, năng suất thấp, ngày trước thường xuyên thiếu gạo, ăn khoai, sắn thay cơm là chính. Có khi lấy gốc cây chuối ri, thái nhỏ trộn với tép, moi hoặc gia vị làm món nộm (nham), rất ngon. Khi có dịp nhân dân vẫn thích ăn đồ ăn cao cấp như cá gỏi, thịt thui, chim cu kỳ, tôm hùm, cua, ghẹ…
Phường săn bắt có lệ chia phần thịt cho tất cả những ai có mặt trong lúc đuổi bắt con mồi. Dân gian còn có tục đi ăn giỗ, ăn cưới…chỉ dùng đồ nước, còn thức ăn khô thì chia phần mang về cho người già, trẻ nhỏ ở nhà…
Lễ tang, lễ cưới thì không có gì khác với các nơi khác trong tỉnh. Duy một số vùng phía nam huyện có lệ khi gả con gái phải có “ruộng hoa nữ), một kiểu hồi môn, thường gọi là “ruộng nhà trai” (khi nhà trai đến nạp tài thì trao giấy chuyển ruộng luôn). Vài nơi có tục “đón đường”, khi đám rước dâu đi qua. Họ nhà gái phải mời trầu và tặng một ít tiền, mới tiếp tục đi. Đưa dâu có người đón là điềm tốt đẹp.
Nhiều nơi hàng năm có lệ “hạ thọ” mừng các cụ già lên lão. Có nơi lại có tục khi người mẹ sinh con thì trong tuần đầu, bà con chòm xóm thay nhau đến “ngủ đêm”, sau đó đều đến chúc mừng.
Các làng cũng có những tục lệ riêng. Vùng Thần Đầu làm lễ hạ điền vào ngày đông chí. Làng chọn một lão nông có “ông mụ song tuyền, con cháu đông đúc” xuống cấy trước, sau đó mọi người mới được cấy, ai cấy trước bị làng phạt bằng năm quan tiền. Có làng cứ 27 Tết thì nhà nào cũng quét bánh dĩ (bánh dầy) để cúng tất niên. Làng Đại Hào vào dịp mồng năm tháng năm hoặc mồng mười tháng mười, mọi nhà đều dọn cỗ bánh chưng và mật mía đưa lên cúng thần Thành hoàng. Làng Ngưu Sơn có lễ làm “ruộng sãi”. Ai đến tuổi 50 thì được nhận ruộng cấy. Thu hoạch xong , đến rằm tháng tám phải biện 10 cỗ chay (xôi chè) đưa đến cúng ở miếu Liễu Hạnh…Ai làm “ruộng sãi” thì năm đó được miển tạp dịch…Những lệ làng này sau cách mạng đều bị xóa bỏ.
1.2. Tín ngưỡng
Đến nay, có thể nói ở Kỳ Anh chưa tìm thấy dấu vết của tín
ngưỡng nguyên thủy và ảnh hưởng của Chăm-pa trong thờ cúng. Cũng như
các nơi khác trong tỉnh, thờ cúng tổ tiên là chính, ngoài ra có tín
ngưỡng thành hoàng. Làng nào cũng có đền thờ thành hoàng và miếu thờ sơn
linh (ở miệt núi), thờ thần bốn phương nam bắc tây đông, thờ thần cá
voi…(ở miệt biển)
Đáng chú ý là ở Kỳ Anh cũng như Hà Tĩnh, truyền thuyết về bà chúa Liễu Hạnh rất đậm, Đèo Ngang được coi là một trong những nơi phát tích câu chuyện bà chúa Liễu., đến nay dưới chân núi vẫn còn miếu thờ bà.
Nhiều nơi khác như Mỹ Sơn, Đan Du, Thanh Sơn, Đạo Nguyên-Trạch Hậu…đều có đền thờ tam tòa (thờ Liễu Hạnh công chúa).
Ở Rú Đọ còn có đền Thánh Mẫu Càn Vương (tức Thái hậu họ Dương đời Tống ở Trung Quốc xưa được thờ đầu tiên ở đền Cửa Còn-Càn Hải-, Quỳnh Lưu, Nghệ An.)
Ở Hải Khẩu, Ao Bạch có đền thờ Chế Thắng phu nhân, cũng được gọi là đền thờ Thánh Mẫu.
Cùng với việc thờ Thánh Mẫu, tục thờ sơn thần, ngư thần cũng tương đối phổ biến.
Ở vùng Vọng Liệu, vùng Rú Đọ…có đền thờ các sơn thần “Cao các nhạc sơn” hay “mạc sơn”, “Bát vạn sơn tinh công chúa” (có thể là cách gọi khác về công chúa Liễu Hạnh).
Ở vùng ven núi đều có các miếu “cửa núi” thờ sơn linh.
Vùng biển cầu thần “Độc cước”, thờ thần Cá voi (Cá ông) ở Thuận Định (Kỳ Ninh), Kẻ Dỏ, Long Trì (Kỳ Phú), Hải Phong (Kỳ Lợi)…ở gần miếu thờ thường có mộ Ông Cá, do chết tạt vào được dân làng mai táng…
Các làng có đình làng và miếu nhỏ thờ “ông bụt”…
Đặc biệt Thành hoàng làng ở Kỳ Anh phần lớn là nhân thần. Đó là những con người cụ thể, có công với làng, với một vùng quê. Như Trần Rô, người lập ra làng Đan Du, Phạm Tiêm, người “lấp cửa Lỗ, trổ eo Bù” ngăn lụt và mở vùng Đồng Nại, tướng quân Võ Thắng ở Xuân Sơn, tổ sư nghề thợ bạc ở phường Ngân Tượng, tổ sư nghề làm gốm ở Nhân Canh, ba ông họ chu đào sông ở Rú Vong…
Đó là những văn thần, võ tướng người địa phương, như Lê Quảng Chí, Lê Quảng Ý ở Thần Đầu, Phùng Trí Tri ở Liệt Thượng, Phan Nhàn ở Sơn Luật, Lê Tuấn ở Mỹ Lũ, Lan quận công Lê Thát ở Hữu Lệ, Thọ quận công Phạm Tiêm ở Hưng Nhân, Điện quận công Phạm Hoành ở Sơn Triều, Thái giám Võ Vương, và hai quận công ở Thanh Sơn, Sùng lễ hầu họ Nguyễn ở Thần Đầu…
Đó là những nhân vật lịch sử mà hành trạng có quan hệ với vùng đất Kỳ Anh như Chế Thắng phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu ở Hải Khẩu, tướng quân Võ Thắng ở Xuân Sơn,
Sát hải tướng quân Hoàng Tả Thốn (miếu ở núi Cao Vọng, Kỳ Lợi). các trấn tướng Nghệ An đời Lê làm quan và chết ở Dinh Cầu như: Hào quận công Lê Thì Hiến, Trung quận công Lê Thì Liêu, Tiến quận công Lê Quang Hiểu (đền ở núi Bạch Thạch, Quyền Hành), Hải quận công Phạm Đình Trọng (đền ở núi Càn Hương)…
Và một số đền chưa rõ thờ vị thần nào như: đền Chính Tiền, đền Mỹ Sơn, đền Mỹ Lý, đền Phú Thượng, đền Long Hoa, miếu Vạn Kỳ (Kỳ Châu), miếu Rỏi (Kỳ Văn), đền Phương Giai (Kỳ Bắc), Đình Vua (Kỳ Lạc)…
Việc nhân thần được thờ nhiều hơn thiên thần và thần tự nhiên chứng tỏ lớp cư dân gốc gác bản địa xa xưa không nhiều, thậm chí rất hiếm. Đối với họ Thành hoàng làng là những người có tên tuổi, có sự tích và công cán rõ ràng, chứ không phải hoàn toàn do con người tưởng tượng ra.
1.3. Tôn giáo
1.3.1 Nho giáo
Nho giáo tồn tại từ rất sớm ở nước ta từ thời bắc thuộc, nhưng ở
Kỳ Anh cũng phải đến thế kỷ XV, đời Lê mới xuất hiện những người đỗ
đạt, đến thời Nguyễn mới phát triển. Giới nho sĩ Kỳ Anh lúc đầu chỉ thờ
Văn Thánh (Khổng tử) ở Văn miếu Phương Cần (Mỹ Duệ) cùng với hai huyện
Thạch Hà và Cẩm Xuyên.
Đến giữa đời Nguyễn mới dựng nhà Văn miếu ở Biểu Duệ (Kỳ Tân), nay vẫn còn ngôi cổng. Một số làng, xã thịnh nho học cũng dựng nhà Văn thánh làng. Lễ tế Văn thánh tiến hành hàng năm vào ngày “thượng đinh” (ngày đinh tháng hai âm lịch), do giới tử văn chủ trì.
1.3.2. Phật giáo
Đạo Phật xuất hiện ở Kỳ Anh cũng rất muộn. Chùa chiền đều mới
được thành lập từ cuối triều Lê, đầu triều Nguyễn, chùa có sớm nhất cũng
sau chiến tranh Trịnh-Nguyễn (thế kỷ XVII)
Sách “Đại Nam nhất thống chí” viết đời Tự Đức chỉ chép 3 ngôi chùa ở Kỳ Anh là chùa Bàn Độ, “ở sườn núi Bàn Độ, thôn Phú Duyệt”, chùa Phú Dẫn “Trước chùa có núi đá đứng sững như hình rộng phượng, bên cạnh có khe nước trong mát…” và chùa Lý Nhân “ở trên gò đất thôn Lý Nhân, chùa rất anh linh, thề nguyền thường ứng nghiệm”.
Một số làng, xã khác cũng có chùa nhưng nhỏ, không có giá trị gì về lịch sử và kiến trúc như: chùa Biểu Duệ (Kỳ Tân), chùa Đan Du (Kỳ Thư), chùa Đông Hải (Trảo Nha, Kỳ Khang), chùa Mỹ Lý (Vọng Liệu), chùa Vịnh Lộc (Kỳ Ninh), chùa Phú Thượng (Kỳ Phú), chùa Thanh Sơn (Kỳ Văn), chùa Ngưu Sơn (Kỳ Nam)…các chùa đều đã mất hoặc hư hỏng, chỉ còn một số rất ít, như chùa Dền (chùa Phúc Toàn) ở Kỳ Châu còn giữ được đến ngày nay.
Các chùa ở Kỳ Anh rất hiếm chùa có sư trụ trì, việc thờ phụng chủ yếu do sải chùa cùng lý dịch trong làng sắp đặt vào các dịp thượng nguyên, trung nguyên…Dân làng không phải chính danh là tín đồ Phật giáo, mặc dầu họ vẫn kính trọng Đức Phật cũng như kính trọng Thành hoàng.
1.3.3. Thiên Chúa giáo
Đạo Thiên Chúa đã du nhập vào Kỳ Anh ít ra là vào cuối thế kỷ
thứ XVIII. Năm 1812 ở Nghệ Tĩnh đã có 45.680 người theo đạo. Ngày
27-3-1846 “Địa phận truyền giáo phía Nam xứ Bắc Kỳ (địa phận xã Đoài
ngày nay) được thành lập, với phạm vi hoạt động từ Nghệ An đến bắc Quảng
Bình. Giáo chủ Ngô-Gia -Hậu (Gautier) được bổ nhiệm cai quản (ông nhận
chức vào tháng 2 -1847). Cùng giữa năm 1846, một linh mục người Pháp là
“Cố Châu” được cử đến Dụ Lộc (Kỳ Trinh), năm 1863 cụ Xuân (người Việt)
đến xứ Quy Hà (Kỳ Hà ngày nay), năm 1921 cụ Chế (người Việt) đến xứ Dụ
Thành (Kỳ Khang), năm 1930 cụ Vinh (người Việt) đến xứ Đông Yên (Kỳ Lợi)
và cố Khanh (Père Kerbao) đên xứ Châu Long (Kỳ Châu), sau đó cố Mỵ
(Père Roucin) đến thay cố Khanh.
Sau năm 1945 Thiên Chúa giáo cùng đồng hành và phát triển với cả nước trong chế độ mới
Năm 1996 Kỳ Anh có khoảng 6000 giáo dân ở 10 xã : Kỳ Hà, Kỳ Châu, Kỳ Lợi, Kỳ Long, Kỳ Trinh, Kỳ Khang, Kỳ Hòa, Kỳ Lạc, Kỳ Sơn, có 4 linh mục và 8 nhà thờ ở :Đông Yên, Tây Yên, Tây Hà, Bắc Hà, Kỳ Lạc, Châu Long, Long Giang, Liên Giang.
Trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, đồng bào giáo dân luôn là những người kính Chúa, yêu nước.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét