2.1. Kinh tế Nông nghiệp
Sau cách mạng tháng tám thành công, diện tích trồng trọt và năng suất cây trồng có tăng nhanh nhưng cũng không đáng kể.
Trong 10 năm (1955-1964), năm thấp nhất (1955, 1957) là 15.549
tấn-15.610 tấn, năm trung bình đạt 17.753 tấn-19.568 tấn, những năm cao
nhất cũng chỉ 23.673 – 25.283 tấn. Trong những năm 1970, năm cao nhất
cũng chỉ đạt 26.000 tấn lương thực, bình quân đầu người chỉ đạt 200kg
lương thực/năm. Đời sống của 70-80% dân thường gặp khó khăn, có khi rất
đói khổ. Lương thực vẫn là mối lo lắng hàng đầu của chính quyền và người
dân.
Những năm 1980, tình hình có khá dần lên. Từ năm 1981-1985, năm năm liên tục bị thiên tai, ba năm (1983-1985) lúa mất ba vụ liền, nhưng tổng sản lượng vẫn đạt từ 26.000 tấn đến 32.000 tấn, tăng 10% so với năm 1980, 15% so với năm 1976 và gấn gấp 3 lần so với năm 1942. Có được điều này là do năng suất được tăng lên đáng kể, từ 1,2 tấn/ha lên 1,47 tấn/ha. Bình quân đầu người đạt 216kg thóc/năm. Mức huy động lương thực từ 2.700 tấn (1981) tăng lên 6.100 tấn (1985). Lần đầu tiên Kỳ Anh có lương thực hàng hóa điều cho tỉnh, (năm 1983 là 800 tấn, năm 1985 là 1.825 tấn).
Cuối những năm 1980 (1987-1989) Kỳ Anh liên tục bị thiên tai, bão lụt và hạn hán nên sản lượng lương thực lại giảm sút.
Đầu những năm 1990 sản lượng có lên nhưng chưa đạt được 32.000 tấn/năm (1991 đạt 23.239 tấn, 1992 đạt 24.632 tấn, 1993 đạt 29.777 tấn…(1)
Cùng cây lương thực, Kỳ Anh cũng phát triển thêm cây lạc, cây chè, hồ tiêu nhưng diện tích còn ít và sản lượng chưa cao.
– Từ 1981-1984 mới có 200 – 250 ha trồng lạc, năm 1985 lên 719 ha, năm 1991 lên 1.213 ha, năm 1993 lên 2.082 ha. Năng suất mới đạt 8-10 tạ / ha và sản lượng mới có 1.316 tấn (1991) đến 1.671 tấn (1993).
– Có 512 ha trồng chè ở ở các vùng Thần Đầu, Vọng Liệu và chủ yếu là chè xanh, cung cấp cho nhu cầu trong huyện.
– Hồ tiêu mới chỉ có khoảng 50.000 gốc.
- 2 Chăn nuôi gia súc
Đàn gia súc cũng phát triển hơn so với trước. Năm 1960 có 19.000 con trâu bò, các năm 1968-1970 có giảm sút một ít, năm 1972 tăng lên 20.205 con (trâu 11.822 con, bò 8.383 con), từ năm 1981-1985 tăng hàng năm từ 2000-2500 con.
(1) Theo tài liệu thống kê của UBHC và Huyện ủy Kỳ Anh
Năm 1985 tổng đàn trâu bò lên tới 32.500 con, (tăng 80% so với 1976).
Theo thống kê mới nhất thì năm 1991 có 7834 con trâu và 23.324 con bò,
năm 1992 có 8.744 trâu và 24.144 bò, năm 1993 có 8.000 trâu và 24.300
bò.
Đàn lợn năm 1972 có 21.951 con, năm 1985 tắng lên gấp 2 lần, gần đây
sút giảm xuống, năm 1991 có 31.100 con, năm 1992 có 35.729 con, năm 1993
có 34.000 con.
Đàn vịt có khoảng 15.300- 30.000 con.
2.3. Lâm nghiệp
Việc trồng rừng cũng được đầy mạnh hơn trước, nhất là những năm
sau chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Năm 1968-1970 hàng năm trồng được
khoảng 3-4 triệu cây con, năm 1972 trồng được 940 ha đồi trọc.
Từ năm 1981-1985, nghề trồng rừng được xác định là ngành kinh tế quan trọng. Mô hình nông-lâm kết hợp, giao đất, giao rừng được hình thành. Hàng năm trồng 350 ha rừng tập trung và 800.000 – 1000.000 cây phân tán.
Năm 1983 toàn huyện có 48 vườn ươm cây thì năm 1985 có 128 vườn, đến 1989 toàn huyện có 722 ha rừng tập trung, trong đó có 553 ha thông nhựa, 132 ha bạch đàn, 32 ha phi lao chắn cát biển.
Theo số liệu thống kê gần đây, năm 1991 có 60 ha rừng tập trung, 1,25 triệu cây phân tán, năm 1992 trồng 121 ha và 1,3 triệu cây, nắm 1993 trồng 470 ha và 1,5 triệu cây.
Tổng diện tích đã giao (đất và rừng) năm 1991 là 1.121 ha (900 ha rừng tự nhiên, 61 ha rừng trồng, 160 ha đồi trọc), năm 1992 là 2.083 ha (1.484 ha rừng tự nhiên, 306 ha rừng trồng, 309 ha đồi trọc, năm 1993 là 2.427 ha (1100 ha rừng tự nhiên, 1.124 ha rừng trồng, 203 ha đồi trọc)
Sản lượng nghề rừng hàng năm khá cao. Những năm 1968-1970 hàng năm khai thác từ 7.000-8.000m3 gỗ các loại. Từ năm 1989 hàng năm có khoảng 2.000 m3 gỗ tròn, 3.000 xiter củi, 5 tấn nhựa thông, 20 tấn song mây, 100 tấn nâu, 40 tấn đót bông, 5.000 kiện lá nón. Sản phẩm gỗ có 1.500 m3 gỗ xẻ, 70 m3 gỗ làm đồ mộc dân dụng, 350m3 gổ đồ mộc xuất khẩu…(1).
Ngoài ra rừng ở Kỳ Anh còn có các loại dược liệu quý, mật ong, chim thú….
2.4. Kinh tế biển
Biển Kỳ Anh cũng có nhiều loại hải sản có giá trị, với trữ lượng cao. Trước kia có năm đánh bắt tới 2.300 tấn cá.
Năm 1972 các xã ven biển thu hoạch được 1.963 tấn cá, nhưng đầu những năm 1980 thì sụt giảm, năm 1983 còn 440 tấn, năm 1985 là 850 tấn, sau mới tăng dần lên.
Năm 1991 đạt 2.264 tấn, năm 1992 đạt 2.422 tấn, năm 1993 đạt 2.450 tấn…
Phương tiện đánh bắt, năm 1993 có tới 1.093 chiếc thuyền (có 862 thuyền gắn máy với tổng công suất 7.760 CV và với vốn đầu tư 3.000.000.000 đồng.
(1) Theo tài liệu của gs Đường Hồng Dật-nguyên thứ trưởng bộ NN
Diện tích nuôi trồng thủy sản cũng từ 113 ha năm 1991 tăng lên 158 ha năm 1993, trong đó diện tích nuôi tôm cua 1993 là 86 ha, rau câu là 30 ha, tổng vốn đầu tư 670.000.000 đồng.
Bảy xã ven biển, ngoài nghề cá còn có nghề làm muối. Ngày trước đồng muối Đại Láng rất nổi tiếng, hàng năm có thể sản xuất từ 3.000 đến 4.000 tấn. Các thôn Văn Yên, Đồng Nại, Quy Hòa (Kỳ Hải, Kỳ Hà), Hải Khẩu (Kỳ Ninh) là nơi sản xuất muối, và đó là nghề chính nuôi gia đình.
Năm 1972, chiến tranh ác liệt, các đồng muối cũng sản xuất được 2.700 tấn, những năm 1981-1985 sản lượng đạt từ 6.000-10.000 tấn/năm.
Nghề chế biến hải sản, phơi muối cá khô, làm nước mắm…ở Đồng Nghĩa, Quy Hòa so với các huyện phía Bắc chưa phát triển bằng, nhưng những năm gần đây huyện đã có nhà máy đông lạnh, chế biến tôm, mực với công suất 10 tấn /ngày
2.5. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Nền công nghiệp, nói chung chưa phát triển nhiều ở Kỳ Anh xưa
đến nay. Ngoài nghề chế biến hải sản ra, người dân chủ yếu phát triển
một số nghề thủ công truyền thống hoặc mới du nhập. Như làm võng gai (ở
Như Nhật, Xuân Cẩm), dệt chiếu (Phương Đình, Hòa Lộc), chằm tơi (Sơn
Kim, Vĩnh Yên), đan lưới (Sơn Tịnh), đốt vôi (Trung Hạ), gạch ngói
(Hoàng Giang, Yên Hạ), đúc lưỡi cày (Văn Tràng), dệt vải tơ tằm (Kỳ Tân,
Kỳ Văn), nghề rèn (Kỳ Châu), nghề mộc, đóng thuyền, nghề gốm…cũng kém
so với các nơi khác.
Nghề thợ bạc vùng Dinh Cầu đã có tiếng từ đời Lê và tập trung thành một phường Ngân Tượng (nay thuộc thị trấn Kỳ Anh). Trong thời kỳ chiến tranh cũng giảm sút nhiều.
Nghề làm nón, chủ yếu ở Đan Du, do ông Võ Minh du nhập từ cuối năm 1920 đã trở thành nghề chính của hàng ngàn gia đình ở Kỳ Thư và nhiều xã khác. Cả huyện hiện có 4 vạn người biết làm nón, hàng năm xuất đi các tỉnh hơn 1 triệu chiếc, thu nhập một khoản tiền tương đương 1.200 tấn thóc.
Nghề chế biến thực phẩm ở Kỳ Anh, trước hết phải kể đến bánh tày Voi (Kỳ Phong), bún Phương Giai (Kỳ Bắc), giò lụa thị trấn Kỳ Anh, tôm hùm, cua bể, cửu khổng, cu kỳ…đểu là đặc sản được ưa thích ở vùng nam Hà Tĩnh.
Nói chung ngoài việc giữ gìn và phát huy những nghề thủ công truyền thống trên. Đến nay Kỳ Anh mới bắt đầu hình thành và phát triển một nền công nghiệp nhẹ. Như xí nghiệp mộc, xí nghiệp gạch ngói, xí nghiệp đông lạnh, xí nghiệp chè, xí nghiệp khai khoáng (ê-mê-nhít),
Những năm gần đây, tổng giá trị sản lượng hàng tiểu thủ công nghiệp mới đạt một con số khiêm tốn: 3.200 triệu đồng năm 1991, và 4.830 triệu năm 1992, và 4.520 triệu năm 1993.
2.6. Thương mại
Buôn bán không phải là sở trường của người dân Kỳ Anh trước
đây. Giữa thế kỷ XIX, sách chép chỉ có 4 chợ tương đối to là chợ Dinh
Cầu ở làng Hiệu Thuận, chợ Voi ở làng Tuần Tượng, chợ Chào ở Sơn Triều,
chợ Dừa ở Hoàng Lễ. Ngoài ra còn có một số quán dọc đường Thiên lý là
quán Voi, quán Chào, quán Hạ (Dị Nậu), quán Ngã Tư (Hà Trung), quán Hỏa
Hiệu (Phú Nghĩa).
Một tài liệu của người Pháp (tỉnh Hà Tĩnh- cuốn Thiên nhiên Việt Nam-SĐD) viết…”chợ Voi buôn bán gia súc, ngũ cốc và nhiều hàng hóa…”, “chợ Dinh Cầu nằm gần biên giới phía nam tỉnh”, “chợ Vọng Liệu chủ yếu khai thác và buôn bán gỗ…”, “Cửa Khẩu cho đến nay vẫn không có gì quan trọng cho kinh tế..”, “Đại Hào xưa kia là một làng nhỏ bé…dân cư ngày càng đông đúc và chợ búa mua bán tấp nập…”
Nhưng dần dần, các chợ dân sinh ngày càng phát triển, đến trước cách mạng toàn huyện đã có 15 chợ: Chợ Voi (Hữ Lạc), chợ Cầu (Hiệu Thuận), chợ Thượng (Phú Thượng), chợ Quan (Thanh Sơn), chợ Mới hay Mỵ (Mỹ Sơn), chợ Hôm (Nhân Canh), chợ Dợn (Phú Dẫn), chợ Que2n (Quyền Hành), chợ Ngâm (Thuận Định), chợ Huyện (Nhân Lý), chọ Da (Trạch Hậu), chợ Hà (Hoàng Hà), chợ Trạm (Hoàng Giang), chợ Điếm (Đan Du), chợ Chào (Sơn Triều). Ở Tuần Tượng, Hưng Nhân còn có chợ bán trâu bò.
Hầu hết các chợ ở nông thôn, hàng hóa chính là nông sản, thịt cá, một số ít lâm sản…có nhiều chợ họp theo phiên. Hàng hóa nhiều chủ yếu là ở hai chợ to: chợ Voi và chợ Cầu.
Chợ Cầu và huyện lỵ là tụ điểm buôn bán quan trọng của Kỳ Anh. Ngoài hàng hóa, vật dụng (nông, lâm, hải sản của địa phương) do dân bán lẻ, còn có hàng hóa chở ở Vinh, Hà Tĩnh và Ba Đồn về.
Trước đây cũng đã có những chủ buôn thuyền mành, chủ kinh doanh vận tải ô tô đường Kỳ Anh-Vinh…(như Trần Tối Lạc, Trần Ba Hân), chủ buôn trâu bò (như Liêm Kiềm), các chủ buôn bè, buôn lá nón và nón lá xuất ra ngoài tỉnh…
Ở Phú Thượng Hải Khẩu cũng có một số chủ buôn thuyền khá lớn. Ở Văn Tràng có Hội Thọ là nhà kinh doanh, sản xuất và buôn bán lưỡi cày.
Ở huyện lỵ cũng có nhiều nhà buôn của người Việt và người Hoa, Vọng Liệu là tụ điểm buôn bán gỗ….
Nói chung việc buôn bán ở Kỳ Anh cũng chỉ là buôn bán quy mô nhỏ, mang tính chất gia đình.
Trong các cuộc chiến tranh, việc buôn bán dân doanh đã có thời gian dài gián đoạn, chỉ có ngành thương nghiệp quốc doanh được hoạt động nhưng hàng hóa cũng khan hiếm. Sau năm 1986, thay đổi chính sách kinh tế, cho phép tư nhân được hoạt động. Từ năm 1991 lại nay nền thương mại mới khôi phục và phát triển tốt.
2.7 Giao thông công chánh
Tuy có lịch sử làm đường, đào sông lấp đê từ rất sớm, nhưng
mạng lưới giao thông, thủy lợi, cơ sở hạ tầng ở Kỳ Anh trước cách mạng
tháng tám dường như là chưa có gì ngoài con đường quốc lộ chạy qua, giao
thông chỉ là những con đường đất nhỏ hẹp đủ cho người đi bộ, đi ngựa
hay cáng, qua những chiếc cầu nhỏ chênh vênh.
Sau cách mạng 1945, đường quốc lộ 1A được mở rộng, trải nhựa. Đường quốc lộ 22 qua sơn phận Kỳ Anh dài khoảng 32 km được rải đá. Hai đường huyện lộ, một đường từ thị trấn huyện lỵ xuống cửa Khẩu (Kỳ Ninh) dài 6km và đường từ thị trấn đi Mỹ Sơn dài 27 km được mở rộng rải đá. Một số đường liên xã có tầm quan trọng kinh tế, quốc phòng được mở rộng, nâng cấp, bảo đảm xe cơ giới qua lại.
Đường chợ Voi (Kỳ Phong) đến Kỳ Khang 21 km, đường Kỳ Phong lên nông trường Thầu Đâu 6 km rồi lên tới Kỳ Tây, Kỳ Thượng 18km, đường từ Kỳ Văn lên Kỳ Tây 18km, đường từ Kỳ Hưng qua Kỳ Thịnh đến Kỳ Lợi, đường từ Trại Cày vào Rỏi (Quảng Bình), đường từ Kỳ Lâm qua Kỳ Lạc vào Ngư Hóa (Quảng Bình)…đều được mở rộng nâng cấp.
Do có nhiều khe, suối nên đường Kỳ Anh cũng có rất nhiều cầu, cống. Riêng mấy trục đường chính trong huyện đã có tới 35 cầu cống.
Sau năm 1975, nhất là thời gian gần đây phong trào làm đường liên hương, đường nông thôn được uốn thẳng mở rộng. Hệ thống giao thông nông thôn đã tương đối hoàn chỉnh, đã được bê tông hóa tới từng làng quê.
Hệ thống thủy nông cũng đã được chú ý phát triển mạnh sau năm 1945. Những hệ thống thủy nông trước đây do Pháp xây dựng đã không còn phát huy tác dụng nhiều, việc sửa chữa, mở rộng chẳng được bao nhiêu.
Năm 1960 xây dựng công trình đập sông Trí tưới cho 500 ha lúa đông xuân, 250 ha lúa mùa, 200 ha lúa hè thu cho 5 xã: Kỳ Hoa, Kỳ Châu, Kỳ Thư, Kỳ Hải, kỳ Hà. Trận lũ 1987 đã phá hủy con đập, năm 1989 với sự giúp đỡ của tổ chức OXFAM (Vương quốc Bỉ) đập được xây dựng lại cao và kiên cố hơn, bên cạnh lại có trạm thủy điện với công suất 80KW.
Cuối năm 1990 hồ chứa nước Kim Sơn được xây dựng hoàn thành, đó là công trình có tầm cở đầu tiên của Kỳ Anh.
Cho đến 1970 cả huyện mới chỉ có 25.000 m đê ngăn mặn ở dạng bờ bao, cao từ 1,5-1,8m. Từ 1970-1986 hệ thống đê mặn được bồi trúc với chiều dài 63.000m, cao 1,8-2,2m, có nơi cao tới 3,7m và 33 cống quai đê.
Sau các trận bão, lụt 1987, 1988 đê mặn bị phá hoại nặng nề. Trong những năm 1989,1990,1991 nhân dân đã đắp sửa lại toàn bộ 8 hệ thống đê 63km đã có và hoàn thành việc tôn đê Hà –Hải-Thư 17km lên độ tiêu chuẩn, an toàn, bền vững.
Công trình thủy lợi sông Rác được khởi công từ ngày 17-7-1987 nhưng do thiếu vốn, đến năm 1995 mới được hoàn thành, với tổng vốn đầu tư 125 tỷ đồng, chứa 125 triệu m3 nước, 18km kênh chính, 17km kênh N1, 12km kênh N2 và N3, tưới cho 83.250 ha ruộng và 500 ha đồng cỏ xanh của nam Cẩm Xuyên và 16 xã bắc Kỳ Anh.
Công trình sông Rác về cơ bản nước tưới cho đồng ruộng Kỳ Anh đã được giải quyết.
Tuy nhiên đến năm 1995, nhìn chung cơ sở hạ tầng của Kỳ Anh vẫn còn yếu kém, đường sá còn hẹp và xấu, nhất là vùng núi, điện tuy đã có đường dây 35KW đi qua những chưa bao phủ hết các xã vùng sâu vùng xa. Điều nay ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế, xã hội trong huyện.
2.8. Nhìn tổng quát
Cơ bản Kỳ Anh vẫn đang là một huyện nghèo, trong đó có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan.
Một tài liệu của chính quyền thực dân Pháp có nhận xét về nguyên nhân đói nghèo của dân Hà Tĩnh, cũng là của Kỳ Anh thì: 1. Đất đai trồng trọt nhỏ bé, , ít ỏi, 2. Chất lượng đất xấu, không có màu mỡ, 3. Khí hậu không bình thường, 4. Dân sinh đẻ dày và nhiều, mật độ dân cư quá đông, 5. Không có một nền công nghiệp và thiếu hẳn một ngành ngoại thương và thủ công nghiệp, 6. Tình thủ cựu, đa nghi, và vô kỷ luật của dân cư, trở ngại cho việc cải tiến phương thức sản xuất để tăng năng suất… Kết quả của nghèo đói dẫn đến tình trạng thức ăn thiếu chất dinh dưỡng kéo dài, liên miên, trở nên nghiêm trọng, nhất là ở nông thôn.
Nạn đói 1945, toàn tỉnh có 50.000 người chết đói trong vòng 3 tháng thì Kỳ Anh chiếm tới 5.000 người. tức 1/10 và cũng là 1/10 dân số của huyện lúc ấy. Riêng các làng thuộ xã Kỳ Phú bây giờ có khoảng 600 người, các làng thuộc xã Kỳ Văn khoảng 530 người, các làng thuộc xã Kỳ Trinh khoảng 297 người và 126 người mất tích. Có nhiều gia đình chết không còn một ai, nhiều làng xóm tiêu điều, vắng vẻ.
Sau cách mạng, tiếp theo là 30 năm chiến tranh, cuộc sống có phần thay đổi nhưng cũng chưa hết khó khăn, nghèo khổ.
Trước 1993, toàn huyện có 36.421 hộ thì 16.236 hộ nghèo (14kg thóc/người/năm), 7.277 hộ đói (8kg thóc/người/năm, 7.000 trẻ em chưa có nhà trẻ, 3.500 em chưa được vào học lớp mẫu giáo, 2.800 em bỏ dở lớp học PTCS (theo Báo tiền phong số 43, ngày 26/10/1993).
Theo một tài liệu của Chủ tịch UBND huyện, thì năm 1990 có 102.000 / 150.000 người thuộc diện nghèo đói, năm 1991 có 80.000 người, năm 1992 có 50.000 người, năm 1993 có 30.000 người, năm 1994 vẫn còn 25.000 người, 54% trẻ em suy sinh dưỡng nghiêm trọng.
Năm 1989 có 21.000 người có ký sinh trùng sốt rét, (63 người chết), năm 1990 có 15.000 người có 15.000 người (38 người chết), năm 1991 có 10.000 người (18 người chết), năm 1992 có 5.000 người (13 người chết)…
Thu nhập bình quân của nông dân là 146.000 đồng/người/năm, trong đó phải chi phí 42,9% cho việc xây dựng, sửa chữa nhà ở do thiên tai phá hủy, 28,8% chi phí chữa bệnh, ốm đau, 3,3% cho việc học tập của con cái. Như vậy dân chỉ đủ mức duy trì sự sống. Dân phải đi làm thuê ở các tỉnh, thành phố khác lên tới 8.000 người trong năm 1991 và 4.000 người trong năm 1992….
Trước tình hình khó khăn đó, đảng, chính quyền đã cố gắng rất lớn, cùng với sự giúp đỡ của nhà nước và các tổ chức quốc tế, từng bước cơ sở hạ tấng được xây dựng thêm, đời sống nhân dân cũng được cải thiện, một bộ phận được nâng cao hơn trước.
Cuối những năm 1980 huyện đã điều phối 4.900 lao động chính với 10.621 nhân khẩu đi xây dựng các vùng kinh tế mới ở Gia Lai, Đắc Lắc, Kon Tum, giảm được phần nào áp lực khó khăn trong huyện. 1.500 lao động, 6.000 nhân khẩu được điều chỉnh vùng cư trú, sản xuất trong huyện.
Trong 8 năm đã chi 23 tỷ 400 triệu đồng cho việc xóa đói giảm nghèo, trong đó 500 phụ nữ được vay vốn chăn nuôi gia súc, phát triển kinh tế gia đình…
Các chương trình của các tổ chức quốc tế về chống bão, lụt, xây dựng đê ngăn mặn, trồng cây ngập mặn, nuôi ong, trồng rừng, bảo vệ động vật quý hiếm, tôn tạo các di tích văn hóa…đã được thực hiện có hiệu quả.
Kinh tế xã hội khôi phục dần và đang trên đà phát triển.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét