1. Tình hình kinh tế xã hội trước 1945
Kỳ anh xưa nay là một huyên nông nghiệp, ruộng đất không ít,
trước năm 1945 bình quân đầu người là 6 sào Trung bộ, nhưng đất đai hẹp
và kém màu mỡ. Vùng đồi núi ruộng bậc thang bị xói mòn nghiêm trọng,
ruộng trong các thung lũng nhỏ thì dễ bị ngập mưa, vùng dưới gần biển
thì đất bạc màu, chua mặn. Nông dân nhiều đời nay có thói quen quảng
canh. Lại thường xuyên bị thiên tai, bão tố, mưa lụt, hạn hán…nên sản
xuất nông nghiệp bị thiệt hại rất nặng nề, đói kém, mất mùa liên miên..
Hầu như năm nào cũng bị nạn đói. Sử sách các đời Lê- Nguyễn còn chép
những trận đói ở xứ Nghệ An, trong đó có Kỳ Anh “Người chết đói đầy
đường…”, “đổi một mẫu ruộng chỉ được mấy bát gạo”, “…người ta ăn cả lá
cây, rễ cây, thịt chuột…thậm chí ăn thịt lẫn nhau”, “người ăn xin kéo
từng đàn từng lũ, nhiều thôn xóm bị phiêu tán…”. Đầu thế kỷ XIX ở phủ Hà
Hoa các thôn Bạo Tuyền, Thi Hạ, Hải Khẩu và trang Hội An dân phiêu bạt
hết.
“Đất Kỳ La vua tha thuế”. Hiện không có những số liệu thống kê cụ thể về ruộng đất, sản lượng và năng suất cây trồng từ nhiều thế kỷ trước, nhưng chắc chắn là rất thấp kém.
Đầu thế kỷ XX, những năm từ 1920-1925, diện tích trồng lúa trong toàn huyện hàng năm chỉ khoảng 8.800ha (trong đó có khoảng 5.500 ha lúa vụ hè và 3.300ha lúa vụ đông), tổng sản lượng khoảng 12.150 tấn (9.300 tần vụ hè và 2.850 tấn vụ đông). Ngoài ra còn có 250 ha lúa bát ngoạt (350 tấn), 150 ha lúa nếp vụ hè và vụ đông đạt khoảng 180 tấn.
Hoa màu có 250ha khoai lang (đạt 750 tấn củ), 50 ha đậu (20 tấn hạt), 30 ha ngô (27 tấn hạt), 40 ha vùng (40 tấn hạt)(1)…
Từ những năm 1930-1941, diện tích cấy lúa hàng năm khoảng 9100 ha, và tổng sản lượng cũng chỉ đạt khoảng 12.300 tấn(2). Nặng suất lúa chỉ đạt từ 350-400 kg/ ha/năm, năm cao nhất cũng chỉ đạt 600kg/ ha.
Khoảng 1/5 ruộng đất tập trung vào trên 100 hộ gia đình địa chủ lớn, nhỏ. Như Trần Hứa ở Quy Hòa chiếm 200 mẫu Trung bộ (100ha), Bùi Ân ở Xuân Cẩm 100 mẫu (50ha), nhất là Nguyễn Tiến Sô ở Hữu Lạc chiếm tối 2000 mẫu (1000ha) ở Kỳ Anh và Cẩm Xuyên.
(1) Theo cuốn “Tỉnh Hà Tĩnh”(Le Provinca De Hatinh)của Roland Bulateau) 1925, Bùi Đình Thiện dịch
(2) Theo tài liệu của Tòa khâm sứ Pháp năm 1942, Đặng Văn Thị dịch
Ở Kỳ Anh còn có các đồn điền, trại cày của người Pháp, người Việt: đồn điền Cu-đúc (Coudoux) ở Đại Hào-Thần Đầu 1395 ha, trong đó có 257 ha cấy lúa và 735 ha là đồng cỏ chăn nuôi trâu bò, đồn điền Thiên Lý (Kỳ Long) của Jira lập từ 1906, đồn điền Ký Huệ ở Đèo Ngang (Kỳ Nam) có 100 mẫu, và đồn điền Nguyễn Thiện Hoan ở Trại Cày (Kỳ Hoa) 40 mẫu…Thực chất đây là những “trại cày”. Các đồn điền, phần lớn ruộng đất đều phát canh thu tô, chỉ có một phần thuê công nhân làm.(1)
Chăn nuôi ngành có truyền thống của Kỳ Anh, nhất là chăn nuôi trâu bò. Những năm 1915-1925, riêng đàn trâu bò ở Kỳ Anh đã có 12.000 con, ít hơn Thạch Hà (14.200 con) nhưng cao hơn cả hai huyện miền núi Hương Sơn (8.200 con) và Hương Khê (11.500 con)(1). Đây chính là nguồn cung cấp sức kéo, giống và thịt cho cả tỉnh và một phần cho các tỉnh bạn. Ở Vọng Liệu (Kỳ Lâm, Kỳ Sơn Kỳ Thượng) những đàn trâu bò năm sáu chục con không phải là hiếm và các đồn cũng coi chăn nuôi là ngành quan trọng. Riêng đồn điền Coudoux có tới 735 ha đồng cỏ, nuôi 720 con trâu bò, trại của Nguyễn Thiện Hoan có tới 540 trâu, 60 con bò sữa…
Khai thác và trồng rừng cũng là một nghề quan trọng.
(1). Theo “Tỉnh Hà Tĩnh”, cuốn “Thiên nhiên Việt Nam”.SĐD
Đầu thế kỷ XX, Kỳ Anh vẫn thường xuất các loại gỗ vào Quảng Bình. Vọng Liệu tuy ở vào nơi hẻo lánh miền tây nam Hà Tĩnh, nhưng cũng không kém phần phát đạt và đông đúc dân cư, chủ yếu là nhờ buôn bán và khai thác gỗ, đồng thời là nơi tập kết các loại gỗ trước khi chở vào Quảng Bình.
Vào những năm 1930-1945, chính quyền Pháp đã quy hoạch vùng Hoành Sơn quan thuộc phân khu kiểm lâm Trạm Treo vào vùng ươm rừng dự trữ 5.600 ha.
Dưới thời Pháp thuộc, chính quyền bảo hộ cũng đã cho xây dựng nhiều công trình dân sinh trên địa bàn Kỳ Anh.
Làm đường quan lộ thành đường quốc lộ số 1, mở rộng rãi đá 57 km qua địa phận Kỳ Anh. Làm sân bay dã chiến Hỏa Hiệu (Kỳ Trinh) tuy không dùng đến. Đặt ba trạm bưu chính (Voi, huyện lỵ và Thần Đầu), còn có một trạm điện báo ở huyện lỵ.
Năm 1936, một số công trình thủy lợi nhỏ được xây dựng:
– Đập Quang Ích làm xong tháng 10-1936, tưới được 50 ha
– Đập Mạc Khê làm xong tháng 2-1936, tưới được 400 ha
– Đập Văn Yên làm xong tháng 2-1936, tưới được 60 ha
– Đập Đông Hải-Quy Hòa xong 2-1936, tưới được 60 ha
– Đê Đan Du và Văn Tràng xong 16-5-1936, tưới 500 ha
Năm 1940 làm thêm đê Dụ Lộc (10-1940) tưới cho 121 ha.
Người Pháp cũng đã có dự án thiết kế hai công trình thủy lợi tương đối lớn ở Kỳ Anh là đập Trại Cày với diện tích lưu lượng hồ nước 4.800 ha, trữ lượng nước trong hồ khoảng 15 triệu m3, tưới cho 4.000 ha, và đập Cấp Dẫn tưới cho 3850 ha, các dự án này chưa đượ thực hiện.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét