2.5.1. Kháng chiến chống Pháp 9 năm(1946-1954)
Chiều 18-8-1945, nhân dân Kỳ Anh, dưới sự lảnh đạo của Việt
Minh, đã cuớp chính quyền thắng lợi ở huyện. Ủy ban cách mạng lâm thởi
(sau này là Ủy ban nhân dân huyện) được thành lập ngay đêm ấy. Chủ tịch
đầu tiên là Nguyễn Trọng Nhạ, Phó chủ tịch là Lê Bính, Tổng thư ký là
Phan Ngọc Phiên. Một số ủy viên khác phụ trách tư pháp, tài chính, quân
sự, an ninh, giáo dục..
Chính quyền làng, xã cũng kịp thời được tổ chức. Nhân dân trong huyện vừa trải qua nạn đói khủng khiếp, đã náo nức bắt tay xây dựng xã hội mới.
Nhưng chưa được bao lâu, ngày 23-9-1945, quân Pháp đã núp sau lưng quân đội Anh gây hấn ở Nam Bộ.
Theo lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nước đã đứng lên kháng chiến, bảo vệ nền độc lập.
Trong các đoàn quân Nam tiến đầu tiên của Hà Tĩnh có không ít thanh niên là con em của Kỳ Anh. Kỳ Anh còn đưa một số quân lên biên giới Việt-Lào tham gia trận đánh ở Napê, chặn âm mưu quân Pháp từ phía tây tràn xuống đất Hà Tĩnh.
Một sự kiện quan trọng, đầu năm 1946 là đại hội Đảng bộ đảng cộng sản khóa I của huyện (họp ở xã Trung Châu?) để chủ trương lảnh đạo nhân dân tham gia kháng chiến.
Sau đại hội, dưới sự lảnh đạo của chi bộ đảng, mặt trận Việt Minh cùng với chính quyền đã vận động gần 100% số cử tri đi bỏ phiếu trong cuộc tổng tuyển cử đầu tiên 6-1-1946. Tiếp đó, ngày 24-2 toàn huyện đã hoàn thành thắng lợi cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân xã.
Các đoàn thể trong mặt trận đều phát triễn và hoạt động sôi nổi. Nhân dân nhiệt liệt hưởng ứng các cuộc vận động và các phong trào yêu nước: quyên góp 2,500kg vàng và bạc trong “Tuần lễ vàng”, hàng tháng toàn huyện thu được hàng tạ gạo bỏ vào “hũ tiết kiệm”, hàng nghìn người, trong đó có rất nhiều phụ lão, phụ nữ nô nức tham gia các lớp bình dân học vụ, tăng gia sản xuất…tạo không khí phấn khởi trong các làng xóm.
Tháng 12-1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Ủy ban kháng chiến huyện được thành lập, do ông Trần Quế làm chủ tịch.
Đầu năm 1947, tháng 3, mặt trận Huế vỡ, quân Pháp đánh chiếm Đồng Hới, Quảng Bình. Phía Nam Đèo Ngang trở thành vùng bị chiếm, Kỳ Anh bị uy hiếp từ phía Nam và phía biển.
Đảng bộ huyện khóa II, họp-tháng 3-1947-bàn kế hoạch lảnh đạo nhân dân thực hiện các chủ trương của trung ương và của tỉnh trong tình hình mới
Cuộc tiêu thổ kháng chiến được thực hiện triệt để. Thành huyện, thị trấn và quốc lộ 1A đều bị phá hủy. Khắp cả huyện thực hiện rào làng chiến đấu., xây đắp 856 ụ lô cốt dọc biển, đóng cọc ngăn lạch sông Trí, sông Quyền, phòng thủ mặt thủy, cắm chông ở bãi Cồn Mụ, Đại Đồng, chống địch đổ bộ đường không..
Các xã gấp rút thành lập dân quân du kích. Ở huyện có một trung đội du kích tập trung do Nguyễn Tiến Chương chỉ huy, được trang bị một số súng trường mútxcơtông, lựu đạn, kiếm, mã tấu…Về sau (3-1949) trung đội này phát triễn thành đại dội 311, có 130 người, trang bị 50 khẩu súng trường, 2 súng cối 60 ly, 2 trung liên, mìn và lựu đạn, do Nguyễn Trọng Bính chỉ huy.
Xưởng chế tạo vũ khí của huyện do Nguyễn Văn Cừ phụ trách, đặt ở xã Kỳ Tân, sản xuất được 300 khẩu súng kíp, hàng ngàn lựu đạn, mìn, bàn chông..Cuối năm 1949, xưởng này sáp nhập vào công binh xưởng của quân khu IV.
Phong trào du kích và các lực lượng chủ lực quân ở chiến trường Bình Trị Thiên đã ghìm chân quân Pháp, cho nên từ 1949-1953 chúng chỉ đổ bộ vào bờ biển Kỳ Anh 6 lần, lần đông nhất là hai trung đội với mục đích thăm giò, cướp phá.
Trân đầu tiên xảy ra ngày 7-7-1947 ở làng Tân Phước Thành (Kỳ Lợi). Địch có 2 tiểu đội. Dương Lão chỉ huy 20 du kích đánh trả. Vì chưa có kinh nghiệm nên lực lượng du kích hy sinh tới một nửa.
Trận thứ hai, 13 tên đổ bộ lên cửa Khẩu (Kỳ Ninh), du kích do Lê Thể chỉ huy, đã dùng mẹo nghi binh tiêu diệt một số địch, làm chúng phải tháo chạy, và bảo vệ được lực lượng.
Bốn trận khác xảy ra ở làng Hồng Hải và Thắng Lợi (Kỳ Phương) năm 1948, ở làng Trung Giáp (Kỳ Khang) tháng 6-1949, ở làng Hải Phong (Kỳ Lợi) năm 1951, và ở làng Đông Yên (Kỳ Lợi) 1953. Ba trận trên đều bị du kích đánh chặn. Riêng ở Hải Phong, địch vướng mìn của du kích , chết và bị thương mấy tên. Còn ở Đông Yên, địch có tới 2 trung đội, vào ở lâu trong làng đến ba bốn giờ. Lực lượng du kích ít, phải chờ chi viện, nhưng khi C311 xuống thì chúng đã rút đi.
Càng về sau, du kích nhiều nơi càng có kinh nghiệm, tiêu diệt được địch, bảo toàn lực lượng và bảo vệ được nhân dân. Phát huy nhiều sáng kiến hay, trong đó sáng kiến “Cột cờ Chu Nai được quân khu đánh giá cao.Tháng 12-1947, Ủy ban phòng thủ kháng chiến huyện, xã, được đổi tên thành huyện đội / xã đội. Huyện đội trưởng là ông Nguyễn Tiến Chương (từ 1950) là ông Trần Công Phương).
Tháng 2-1948, thống nhất Ủy ban kháng chiến và Ủy ban hành chính các cấp thành Ủy ban kháng chiến-Hành chính Kỳ Anh, do Lê Tư Sính[1] làm chủ tịch.
Tháng 12-1948, Đảng bộ lại họp đại biểu lần thứ ba, quyết định các chủ trương đẩy mạnh tăng gia sản xuất, xây dựng lực lượng vũ trang, phong trào bình dân học vụ, ủng hộ kháng chiến.
Các xã tiến hành chia công điền, công thổ cho nhân dân, vận đông khai hoang, phục hóa được hàng trăm mẫu ruộng, đắp đê ngăn mặn ở xã Trung Hải, Trung Sơn, phát động phong trào đổi công, tương trợ ở nông thôn.
Sản xuất lương thực được tăng tiến, nhân dân đỡ đói kém, càng phấn khởi tham gia công cuộc kháng chiến. Các ngành nghề: chằm nón, trồng dâu nuôi tằm, trồng bông dệt vải, dệt chiếu, cói, làm muối, đúc lưỡi cày, rèn công cụ…đều phát triển, có năm còn thừa bán ra huyện khác. Một bộ phận của xưởng vũ khí sản xuất giấy dó, dùng cho các cơ quan trong huyện. Thị trấn Kỳ Anh trở thành một điểm buôn bán đông đúc ở phía nam Hà Tĩnh.
Trung đội du kích huyện phát triển thành đại đội 311 bộ đội địa phương (5-1950, C311 bổ sung cho trung đoàn 103)
Đại đội địa phương 311 tổ chức một trại sản xuất ở Tân Cầu (Kỳ Tân) và tiếp nhận, quản lý trại sản xuất của huyện ở Bàu Nước. Trại này vừa là cơ sở sản xuất tự túc của bộ đội, vừa là an toàn khu của huyện[2].
Lúc này lương thực khan hiếm, dân chưa đủ no, hình thức “hủ gạo nuôi quân” là phù hợp và có hiệu quả to lớn. Bình quân mỗi xã tiết kiệm được 30-50 kg gạo, riêng xã Cấp Đình 90kg gạo hàng tháng.
Đồng bào cũng đã đóng góp, cung cấp cho bộ đội 3200 chiếc áo trấn thủ trong cuộc vận động “Mùa đông binh sĩ”. Các cuộc vận động “Bán gạo khao quân”, “Bán thóc định giá”, “Đỡ đầu dân quân”…đều được nhân dân hưởng ứng nhiệt liệt. Riêng “Thóc định giá” ở Kỳ Anh cũng mua được 35 tấn…
Là một huyện của vùng tự do Liên khu 4, tiếp giáp với chiến trường Bình Trị Thiên, Kỳ Anh ngày càng trở thành hậu cứ quan trọng theo đà tiến triển của cuộc kháng chiến.
Nhân dân vừa phải sẵn sàng chống các cuộc tập kích, đổ bộ đường biển, và làm hầm hào tránh bom đạn của máy bay địch, vừa dốc sức người, sức của cho tiền tuyến. Thanh niên nô nức đi bộ đội, đi thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến (Bình Trị Thiên, Trung Lào).
Riêng trong chiến dịch Trung Lào tháng 2-1953, Kỳ Anh đã cung cấp 1000 dân công, hàng trăm thanh niên xung phong, huy động hàng trăm thuyền vận tải.
Kỳ Anh là nơi xuất phát và trở về an dưỡng của các đơn vị quân chủ lực. Đồng bào đã tiếp đón hàng ngàn bộ đội, thương binh, bệnh binh về nghỉ ngơi, chữa bệnh. Huyện còn tổ chức các “Quán quân nhân” phục vụ cán bộ, quân nhân qua lại.
Các xã: Kỳ Lạc, Kỳ Sơn, Kỳ Tây, Kỳ Châu, Kỳ Lợi, Kỳ Hưng…đón nhận và nhường đất, ruộng xếp việc làm cho hàng trăm gia đình đồng bào Bình Trị Thiên tản cư ra, với tình cảm ruột thịt, như ca dao:
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng”.
Cùng với việc tăng gia sản xuất, phục vụ tiền tuyến, các mặt văn hóa, giáo dục đều phát triễn. Đặc biệt phong trào bình dân học vụ lên rất cao, trong 3 năm (1946-1948, có 7672 người biết đọc biết viết, huyện Kỳ Anh được công nhận hoàn thành xóa mù chữ đợt 1)
Các trạm y tế, cứu thương được xây dụng, thuốc chữa bệnh không đến nỗi thiếu như trước, ý thức phòng bệnh, chữa bệnh của nhân dân được nâng lên.
Các buổi phát thanh, lửa trại có diễn kịch, múa hát…của địa phương và các đơn vị bộ đội, thương binh tổ chức, tạo không khí vui trong nông thôn.
Từ 1947, Ban tuyên huấn kháng chiến Kỳ Anh đã xuất bản tờ báo” Mài gươm”. Cụ Võ Liêm Sơn, lúc ấy là trưởng ban tuyên truyền kháng chiến Hà Tĩnh có làm bài thơ mừng:
Lũ cướp tham tàn sắp tới nơi
“Mài gươm” hăng hái bước ra đời
Một lòng phấn đấu cùng dân nước
Ba thước oai binh giết giặc trời.
Bài hịch “Bình nguyên” trang sử đẹp
Câu thơ thối lỗ tấm gương ngời
Càng mài, càng dũa càng thêm sắc
Bao quản công trình những mấy mươi.
Đó cũng là lời động viên, và đánh giá tinh thần của nhân dân Kỳ Anh.
Tổng kết cuộc kháng chiến chống Pháp, Kỳ Anh đã có 4500 thanh niên tòng quân ra trận, 3900 người đi dân công hỏa tuyến, 120 gia đình có chồng hoặc con là liệt sĩ, 165 thương binh. Suốt 8 năm trong huyện không hề xảy ra nạn đói, hay vụ dịch tệ nào, an ninh, trật tự xã hội bảo đảm, quân dân đoàn kết, mọi người sống với nhau đoàn kết, nghĩa tình.
2.5.2. Thời kỳ chiến tranh chống Mỹ (1955-1975)
Chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954) đã buộc chính phủ Pháp ký
Hiệp định đình chiến Giơ-ne-vơ (Geneve). Hòa bình được lập lại trên nửa
nước. Nhân dân Kỳ Anh bắt tay thực hiện Kế hoạch nhà nước 3 năm lần thứ I
(1955-1957)
Cải cách ruộng đất là sai lầm nặng nề trong chỉ đạo thực hiện, dù đã đem lại cho nông dân nghèo Kỳ Anh 5000 mẫu ruộng và hàng ngàn con trâu bò. Khẩu hiệu “Dân cày có ruộng” lần đầu trở thành hiện thực.
Phong trào khai hoang, phục hóa, quai đê biển, làm thủy lợi, làm đường nông thôn, được nhân dân hưởng ứng mạnh mẻ. Sản xuất nông nghiệp, nghề cá, nghề muối đều tăng tiến, đời sống người dân tuy còn nghèo nhưng ngày càng ổn định. Phong trào xây dựng tổ đổi công, hợp tác hóa tiến hành tốt, kể cả vùng đồng bào Thiên Chúa giáo. Văn hóa, giáo dục, y tế đều phát triễn.
Trong mười năm, từ 1955-1965, toàn huyện đã xây dựng 68 tổ hợp tác xã sản xuất nông nghiệp bậc cao, thu hút 95% hộ nông dân, xây dựng 68 hồ đập tưới cho 2100ha ruộng, đắp 24 đê ngăn mặn, đào đắp 100km kênh mương, xây 16 cống thủy lợi (lớn nhất là đập Tây Yên, đập sông Trí), công nghiệp địa phương bắt đầu được xây dựng, với nhà máy sắn, xí nghiệp vôi, nhà máy cưa, hai xí nghiệp chè (Kỳ Trinh, Kỳ Lâm)…,
Các hợp tác xã thủ công cũng bắt đầu phát triển. (các hợp tác xã rèn đúc, đóng thuyền, đốt vôi, dệt thảm muồng (Kỳ Châu), làm chiếu, làm nón…, mở đường ô tô từ huyện lỵ đi Kỳ Sơn, từ Kỳ Tân đi Kỳ Tây, và hệ thống đường liên thôn, liên xã.
Dân quân du kích được xây dựng rộng khắp, mạnh mẽ, làm nòng cốt cho phong trào sản xuất và đảm bảo an ninh ở địa phương, cùng các lực lượng vũ trang đối phó có hiệu quả với âm mưu của chính quyền Sài Gòn tung gián điệp, biệt kích ra phá hoại miền Bắc. Điển hình là vụ vây bắt nhóm gián điệp Lê Khoái và vụ bắt đội biệt kích người nhái Voòng A Xiềng, Voòng A Cầu. Phong trào đón thương binh về làng, phong trào thanh niện đi làm nghĩa vụ quân sự đều xuất sắc.
Huyện Kỳ Anh được công nhận là: Đơn vị lá cờ đầu về xây dựng dân quân tự vệ trong tỉnh.
Ngày 22-3-1965, máy bay Mỹ lần đầu tiên đánh vào Đèo Ngang. Tiếp đó những ngày 26 và 31-3-1965, Kỳ Anh lại bị máy bay Mỹ đánh phá, cùng với Hà Tĩnh và nhiều nơi khác trong tỉnh.
Kỳ Anh, Hà Tĩnh bước vào cuộc kháng chiến thứ hai, chống chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân, hải quân của Mỹ.
Trong hai đợt: (từ tháng 3-1965 đến tháng 11-1968 và tháng 4-1972 đến 1-1973) của cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, Kỳ Anh thường xuyên bị đánh phá ác liệt, có vùng hầu như bị hủy diệt. Một xã Kỳ Châu từ tháng 3-1965, đến cuối 1968, máy bay, tàu chiến địch đã đánh 475 lần với 10579 quả bom, 59 tên lửa, 49 quả đạn đại bác. Chỉ trong 3 ngày 11-13 tháng 8-1968 xã Kỳ Xuân đã hứng chịu đến 2000 quả bom, đạn pháo. Vùng Đèo Ngang (Kỳ Nam) từ tháng 4-1972 đến tháng 1-1973, bị đánh 864 lần với 3716 quả bom, 4768 đạn pháo. Riêng ngày 24-4-1972, 11 tàu chiến đã bắn vào vùng Kỳ Lợi, Kỳ Phương, Kỳ Nam 1800 quả đạn. Cũng ngày đó máy bay Mỹ đánh 123 lượt ở 90 điểm trong huyện. Cây cầu Cao trên quốc lộ 1A bị đánh tới 170 lần với 3096 quả bom. Một đoạn đường 10km đường 22 ở Kỳ Lâm, Kỳ Lạc , có ngày bị máy bay B52 trút xuống 32 loạt bom.
Từ ngày đầu chiến tranh (3-1965) đến lúc Hiệp định Pa-ri được ký kết (1-1973), mảnh đất Kỳ Anh phải gánh chịu 9211 trận oanh tạc và pháo kích. Máy bay Mỹ, có cả B52 đã dội xuống 105.974 quả bom các loại: bom tấn, bom tạ, bom khoan sâu, bom nổ chậm, bom từ trường, bom cháy (na-pan, lân tinh), bom bi…Hạm đội 7 của Mỹ đã bắn vào đây 19.533 quả đạn pháo hạng nặng.
Nhân dân Kỳ Anh phải chịu những tổn thất nặng nề: 1604 người chết, 2043 người bị thương, 4568 ngôi nhà bị cháy, đổ, 33 ngôi đình, đền, chùa và 5 nhà thờ Thiên Chúa giáo bị phá, 1164 con trâu bò bị giết, 159 chiếc thuyền và 250 vòng lưới đánh cá bị phá hoại.
Với ý thức “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc”, nhân dân Kỳ Anh cùng cả nước sẵn sàng chấp nhận hy sinh, gian khổ. Có sự chuẩn bị tinh thần và lực lượng từ lâu, đồng bào các vùng trọng điểm và bệnh viện , cơ quan được sơ tán, việc phòng tránh và đánh giặc đều được tổ chức chu đáo…
Do đó, ngay từ những trận đầu 22, 26, 31-3-1965 bộ đôi dân quân đã đánh thắng. ngày 22-3, bắn rơi 1 máy bay Mỹ bằng súng bộ binh, ngày 31-3 dân quân làng Minh Đức (Kỳ Nam) phối hợp với đơn vị bộ đội biên phòng 112 và hải quân bắn rơi 1 chiếc. Tháng 11-1966 bắn rơi 1 máy bay F4, bắt được 1 phi công ở Hà Thanh (Kỳ Văn)
Đại đội 271 bộ đội địa phương từ ngày thành lập (4-1965 đến 1968) đã đánh trên 300 trận, bắn rơi 3 máy bay. Lực lượng dân quân có 34 tổ được trang bị 132 khẩu súng, được chia thành 5 đội, sẵn sàng bắn máy bay tầm thấp, bảo vệ cầu đường, bảo vệ sản xuất… Đã đánh 202 trận, bắn rơi 11 máy bay, và bắn bị thương 18 chiếc khác. Tiêu biểu cho lực lượng này là: Đại đội dân quân Kỳ Tân, đánh 37 trận ở Cầu Núc, cầu Đá Bàn…và phối hợp với C72 bắn rơi một máy bay trực thăng ở bờ biển, Đội dân quân Kỳ Phương, mới lập từ tháng 8-1968 gồm 9 sau lên 12 cô gái do Tưởng Thị Diên chỉ huy, đã chiến đấu mưu trí, dũng cảm, tiêu biểu là các trận ngày 6 và 22-8, ngày 28,29,30-8-1968…, đội Lão quân Kỳ Tiến (lập ngày 26-17-1967) gốm 7 cụ già do xã đội phó lê Văn Đàn chỉ huy, ngày 19-3-1968 đã đánh từ 14 đến 18 giờ chiều bắn rơi 1 máy bay A4, mở đầu phong trào bô lão bắn máy bay trong tỉnh.
Năm 1972, chiến tranh càng ác liệt gâp bội. Cuộc chiến đấu càng quyết liệt hơn. Đại đội 271, bộ đội địa phương của huyện phát triển thành tiểu đoàn 271. Từ 3 đội trực chiến dân quân Kỳ Phương, Kỳ Tân, Kỳ Hoa năm 1971, đã tăng lên 21 đội, trong đó có các đơn vị: Nữ dân quân Kỳ Phương, đội đại liên Kỳ Lợi, đội trực 12,7ly Kỳ Hoa, kỳ Thịnh…Tiểu đoàn 271 cùng các đơn vị dân quân trên đã bắn rơi chiếc máy bay thứ 250 của Hà Tĩnh. Tiểu đoàn cùng các đơn vị dân quân và đại đội pháo cao xạ 37 ly của dân quân Kỳ Văn, Kỳ Thư cơ động chiến đấu trên địa bàn huyện. Riêng đội nữ dân quân Kỳ Phương đánh 123 trận trong năm 1972….
Để thông xe trên ba trực đường bộ: Đường 1A dài 57km với 50 cầu cống, đường 22 dài 32km, đường Thị trấn-Kỳ Sơn…, trong mấy năm 1965-1968, mỗi dân quân phải cung cấp 3m3 đá, mỗi gia đình 2 gánh bổi…Năm 1972 dân quân đặt 43 vọng gác, mỗi đêm có từ 400-500 người phục vụ trên mặt đường. Chỉ trong chiến dịch Quyết thắng đã có 2 vạn người tham gia, trong 5 ngày đã cung cấp 5300m3 đá, riêng xã Kỳ Phương cung cấp 1/10 (500m3), đào đắp lấp hố bom 12500m3 đất. Trong cả năm toàn huyện đã đưa 18.790m3 đá, sỏi ra sửa đường. trong 2 đột đánh phá, nhân dân Kỳ Anh đã làm 597 lượt chiếc cầu, san lấp 5250 hố bom….
Toàn huyện có 9 đội giao thông nông thôn gồm 300 người, cùng nhân dân tu sửa 179 km đường liên hương, đào đắp 121.549m3 đất đá với 57244 ngày công., đảm bảo 42 km đường liên hương cho bộ đội hành quân, kéo pháo…
Từ tháng 3 đến tháng 11-1968, địch đánh phá, hủy diệt vùng ven biển và thả bom từ trường, thủy lôi phong tỏa đường sông, đường biển. Các xã thành lập các tổ rà, phá bom mìn với khẩu hiệu “mở đường mà tiến”. Các tổ này hoạt động liên tục với thành tích cao, có ngày tổ Kỳ Trinh phá được 28 quả, tổ Kỳ Hải phá 49 quả trong 3 ngày, tổ Kỳ Ninh với dân quân tiêu biểu Đặng Đình Chí có ngày phá 29 quả bom, có những quả nằm sâu dưới bùn ở đáy sông. Năm 1972 cả huyện có 17 tổ rà phá 390 quả bom, 1/3 số bom chờ nổ dọc đường 1A và ven biển.
Các đội vận tải đường biển vẫn không ngừng đi, về vận chuyển hàng vào Nam. Năm 1969 các đội đi 9 chuyến, trong chiến dịch vận tải Quang Trung 1968 dân quân Kỳ Anh đã chuyển 1000 tấn hàng từ Cẩm Xuyên vào Quảng Bình qua đường biển. Trong chiến dịch R2-R3 năm 1972, bảy xã ven biển từ Kỳ Xuân đến Kỳ Nam đã vớt 460 tấn hàng (được tàu thả từ ngoài biển để sóng đưa vào bờ), chuyển lên đường 22. Trạm trung chuyển Kỳ Lâm, Kỳ Lạc lại có sáng kiến lợi dụng dòng nước Rào Ngóp đưa 726 tấn hàng từ Kỳ Lâm vào Tuyên Hóa (Quảng Bình).
Thời gian này, đội vận chuyển bằng xe đạp thồ của huyện cũng chuyển được 400 tấn. Tổng cộng, nhân dân Kỳ Anh đã bốc dở 206.000 tần hàng chuyển vào chiến trường miền Nam.
Trong việc đảm bảo giao thông, xã Kỳ Trinh là một trong những đơn vị xuất sắc nhất. Vọng Liệu xưa vốn là căn cứ của nghĩa quân Cần Vương, của thời kỳ hoạt động bí mật của đảng cộng sản, thì trong hai cuộc kháng chiến, nhất là cuộc chiến chống Mỹ lại phát huy vai trò hậu cứ trực tiếp của tiền phương…
Mười năm liền (1965-1975), Kỳ Anh luôn hoàn thành vượt mức kế hoạch tuyển quân: 15605 nam nữ thanh niên đã vào bộ đội, chiếm 7,9% dân số, rất nhiều gia đình có 3 con trở lên tham gia tòng quân.
Kỳ Anh cũng đã cung cấp 4 đại đội dân công hỏa tuyến cho chiến trừng C, B5 và đường 10. Các đơn vị dân công được thưởng 8 huân chương chiến công cho 4 đơn vị và 4 cá nhân. Riêng các đơn vị phục vụ B5 đã được công nhận 50 dũng sĩ, được cấp 397 bằng khen, giấy khen.
Cùng với việc chống giặc, phục vụ tiền phương, sản xuất vẫn từng bước phát triễn. Các hợp tác xã nông nghiệp Thắng Lợi (Kỳ Xuân), Sơn Hà (Kỳ Sơn), đạt sản lượng 5 tấn lúa /mỗi ha. Cả huyện có 51 đội thủy lơi I (794 người), đội thủy lợi II (1020 người), đảm nhiêm xây dựng các công trình Tây Yên, đập nước Mộc Hương, đê Eo Bù và các công trình nhỏ khác…
Năm 1972, Kỳ Anh đã làm nghĩa vụ cho nhà nước 3064 tấn lương thực (năm 1965, 1966 chỉ có 1500 tần, 1971 2500 tấn). Đơn vị sản xuất nhiều nhất, làm nghĩa vụ cao nhất là Hợp tác xã Quyết Tiến (Kỳ Tiến). Huyện đã thu mua được 150 tấn lạc, 5430 tấn thịt (lợn, trâu, bò), 3290 kg gà , vịt, 272499 quả trứng. Năm 1972 ngư dân cũng đánh bắt được 3500 tấn cá biển, một sản lượng trước đó chưa hề có, diêm dân cũng sản xuất được 2441 tấn muối…
Các mặt an ninh đảm bảo, văn hóa, giáo dục phát triễn tốt. Đội văn nghệ Tây Châu- một đơn vị xuất sắc trong phong trào văn nghệ quần chúng của Hà Tĩnh- đã cất tiếng hát ngợi ca kỳ tích của nhân dân Kỳ Anh trong kháng chiến.
Đầu năm 1973, thất bại ở Việt Nam, Mỹ buộc phải ký Hiệp định Pa-ri, chấm dứt chiến tranh, rút quân khỏi miền Nam Việt Nam. Nhưng chính quyền Sài Gòn vẫn được Mỹ giúp đỡ, tiến hành chiến tranh.
Đến ngày 30-4-1975, chiến dịch Hồ Chí Minh đại thắng, Miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước độc lập thống nhất. Tuy nhiên, phải đến sau chiến tranh biên giới với Căm-phu-chia ở phía Nam và Trung Quốc ở phía Bắc (2-1979), đất nước mới thật sự bình yên.
Tổng kết trong hai cuộc kháng chiến, huyện Kỳ Anh đã có 5 đơn vị, 4 cá nhân được phong danh hiệu Đơn vị anh hùng và Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Chỉ trong các đợi I,II và III đã có 36 bà mẹ được trao danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng.
Quân và dân Kỳ Anh đã được thưởng 14 huân chương quân công từ hạng nhất đến hạng ba, 3800 huân chương chiến công các loại và gấn 10.000 huân, huy chương kháng chiến.
Những phần thưởng trên đã phần nào ghi nhận sự hy sinh to lớn của nhân dân. Trong hai cuộc chiến tranh, huyện Kỳ Anh có hơn 2700 liệt sĩ, hơn 1000 thương binh, chưa kể hàng ngàn người dân chết và bị thương vì bom đạn địch và những tổn thất vật chất không thể thống kê[3]
2.5.3. Thời kỳ thống nhất đất nước (1975-2015
Từ đầu năm 1976, tỉnh Hà Tĩnh và tỉnh Nghệ An hợp nhất thành
Nghệ Tĩnh. Kỳ Anh vẫn là huyện nghèo, lại bị chiến tranh tàn phá nặng
nề, nhưng chưa được giúp đỡ đáng kể để ổn định đời sống của nhân dân.
Cuối những năm bảy mươi thế kỷ XX, bình quân đầu người cũng chỉ đạt
200kg lương thực / năm , 70-80% dân số thường xuyên gặp khó khăn, trong
đó có một bộ phận rất nghèo khổ.
Liên tiếp 10 năm (1981-1990) Kỳ Anh thường xuyên bị bão lụt, hạn hán…
Năm 1987 chỉ trong 10 ngày liên tiếp 3 cơn bão mạnh trên cấp 12, tàn phá nặng nề nhà cửa, ruộng vườn, xóm làng tan hoang…
Năm 1988 mười tháng liền hạn hán, không có cơn mưa, hàng ngàn ha lúa, hoa màu bị khô cháy, nông dân lâm vào cảnh thiếu thốn, đói khát…
Năm 1989, liên tiếp 6 cơn bão, tàn phá tan hoang hệ thống đê điều, ruộng vườn, nhà cửa… gần 70% số dân trong huyện lâm vào cảnh đói nghèo…Các chỉ tiêu kinh tế giảm sút nghiêm trọng.
Bình quân đầu người 300kg lương thực/năm nay chỉ còn 140 kg. Tiểu thủ công nghiệp từ 3.047.000.000 đồng năm 1986 giảm xuống còn 1.302.000.000 đồng năm 1990. Kỳ Anh phải cần đến sự cứu trợ từ trung ương và các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước.
Tháng 1-1989, đại hội Đảng bộ huyện lần thứ 19 đã đề ra ba nhiệm vụ trọng tâm để vực dậy kinh tế, xã hội:
– Tập trung cứu đói
– Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
– Đẩy nhanh tiến độ xây dựng công trình thủy lợi sông Rác
Nhờ sự cố gắng của đảng bộ và nhân dân, sản lượng lương thực được tăng dần lên, có năm đạt 52.000 tấn lương thực. Vừa đẩy mạnh sản xuất ở địa phương, huyện đã tổ chức cho 1000 hộ với 4000 nhân khẩu đi xây dựng vùng kinh tế mới để giải quyết khó khăn cho nhân dân.
Từ sau ngày chia lại tỉnh (1991) đến 1995, Kỳ Anh đã có những bước tiến đáng kể, không chỉ về sản xuất lương thực mà trên tất cả mọi mặt: Xây dụng thủy lợi, trồng rừng, tiểu thủ công và công nghiệp địa phương, thương nghiệp, văn hóa, giáo dục, y tế…
Cuộc vận động “Xóa đói giảm nghèo” được thực hiện có hiệu quả đã làm khởi sắc nông thôn Kỳ Anh.
Khởi đầu là những dự án nhỏ, cho hộ nghèo vay vốn làm ăn, phát triển sản xuất, kinh doanh.
Sau một thời gian thí điểm thành công, tháng 6-1993, Ban chấp hành Đảng bộ huyện ban hành nghị quyết 08 về “ Công tác xóa đói giảm nghèo cộng đồng” và đã trở thành cuộc vận động toàn xã hội, với sự tham gia đông đảo của mọi tầng lớp nhân dân.
Với phương châm: Nhà nước và nhân dân cùng làm, huy động sức mạnh của cộng đồng với sự giúp đỡ của Trung ương và các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước…trong các năm từ 1991-1995 Kỳ Anh đã xây dựng được nhiều công trình có ý nghĩa chiến lược:
– Công trình sông Rác có dung tích 125 triệu m3 nước, tưới tiêu cho 8.150 ha lúa và hoa màu, ổn định đời sống cho 9 vạn dân. (Khởi công ngày 16-7-1987, nhưng do thiếu vốn nên đến 1995 mới hoàn thành)
– Công trình đê ngăn mặn cho 6 xã: Kỳ Hải, Kỳ Hà, Kỳ Thọ, Kỳ Trinh, Kỳ Thư, Kỳ Ninh do tổ chức OXFAM Anh tài trợ với số vốn 16.500.000.000 đồng, bảo vệ cho 3.881 ha đất canh tác, gần 600 ha ao hồ, ổn định đời sống cho 4.300 hộ dân.
– Đường điện 35KW, 110kv đưa điện từ trạm trung chuyển ở Cẩm Xuyên vào Kỳ Anh phục vụ cho sản xuất và đời sống.
– Một số hồ đập như: Kim Sơn, sông Trí (Kỳ Hoa), Đá Cát (Kỳ Tân), Mộc Hương (Kỳ Trinh), Tàu Voi (Kỳ Thịnh), Con Bò (Kỳ Nam)…được đầu tư xây dựng, tu sửa, nâng cấp, tăng thêm năng lực tưới tiêu, ngăn lũ…
– Các tuyến đường: Thị trấn – Kỳ Lâm, Thị trấn – Kỳ Ninh, Ký Văn – Kỳ Tây, Quốc lộ 1A – Vũng Áng…được đầu tư xây dựng, khắc phục tình trạng cát cứ giữa các vùng miền…
Trong vòng 5 năm từ 1991-1995, việc đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng đã làm cho bộ mặt Kỳ Anh khởi sắc, tạo đà phát triển đi lên, đời sống nhân dân dần được cải thiện mọi mặt.
Để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khắc phục tình trạng độc canh cây lúa, huyện đã phân định thành 4 vùng kinh tế trọng điểm:
-Vùng đồng bằng gồm 11 xã
– Vùng ven biển phía bắc gồm 5 xã
– Vùng Trung du, ven biển phía nam 8 xã
– Vùng trung du, đồi núi phía tây 8 xã.
Đồng thời với việc triễn khai các dự án trên cơ sở phân vùng kinh tế, phong trào làm giao thông nông thôn, bê tông hóa kênh mương, xóa nhà tre dột nát, xây dựng trạm xá, trường học đạt chuẩn quốc gia, thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới hỏi, việc tang, việc lễ hội… được nhân dân đồng tình, hưởng ứng.
Chỉ trong vòng 15 năm từ 1991 đến 2005, kinh tế-văn hóa xã hội của huyện Kỳ Anh đã khởi sắc ngoạn mục. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm đạt 11%. Thu nhập bình quân đầu người 518.000 đồng/năm (1991) tăng lên 4.500.000 đồng / năm (2005). Tổng sản lượng lương thực 24.500 tấn (năm 1991) tăng lên 64.100 tấn (2005)
Đến năm 2005, Kỳ Anh không còn hộ đói, hộ nghèo giảm xuống còn 10,3%, (theo tiêu chí mới), cơ cấu kinh tế thay đổi theo hướng tích cực. Thương mại, dịch vụ chiếm gần 40%, nông-lâm-ngư nghiệp giảm xuống 40%, công nghiệp -tiểu thủ công nghiệp hơn 20%. Văn hóa xã hội phát triển, hoàn thành phổ cập Trung học cơ sở, trường Trung học cơ sở Kỳ Tân được phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới. Gần 60 % trường học, trạm xá đạt chuẩn quốc gia. Các bộ môn văn hóa, nghệ thuật dân gian được phục hồi, duy trì và phát triển…
Chương trình Xóa đói giảm nghèo cộng động của Kỳ Anh thu hút được sự chú ý của Bộ lao động thương binh xã hội, các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nước và được các địa phương trong nước tham quan, học hỏi kinh nghiệm…
Ngày 3 tháng 4 năm 2006, Thủ tướng chính phủ có quyết định số 72/2006 QĐ TTG về việc thành lập Khu công nghiệp Vũng Áng, gồm 9 xã: Kỳ Ninh, Kỳ Hà, Kỳ trinh, Kỳ Thịnh, Kỳ Lợi, Kỳ Long, Kỳ Liên, Kỳ Phương, Kỳ Nam.
Kỳ Anh đứng trước thời cơ, vận hội mới, trở thành tâm điểm thu hút các dự án đầu tư tầm cỡ quốc gia và quốc tế.
Theo quy hoạch, Khu công nghiệp Vũng Áng không chỉ là Trung tâm công nghiệp, cảng biển nước sâu, dịch vụ Logistics lớn của tỉnh mà còn phát triển đa dạng các ngành công nghiệp sắt thép, dịch vụ bỗ trợ sản xuất, các công trình dịch vụ, du lịch, thương mại.
Kỳ Anh nằm trong vùng quy hoạch nam Hà Tĩnh, bắc Quảng Bình của Trung ương.
Chỉ trong thời gian ngắn từ khi thành lập, Khu công nghiệp Vũng Áng đã thu hút được 135 dự án đầu tư, trong đó có những dự án lớn, trọng điểm như: Khu liên hợp gang thép và Cảng nước SÂU Sơn Dương của công ty FOMOSA, nhà máy nhiệt điện I và II có công suất 2.400MW, nhà máy lọc dầu công suất 16 triệu tấn/ năm…
Ngoài các dự án đầu tư trong Khu công nghiệp Vũng Áng, huyện đã huy động hơn 15.000 tỷ đồng để xây dựng cơ sở hạ tầng, nâng cấp bệnh viện đa khoa, hồ chứa nước thượng nguồn sông Trí, làm mới đường Nguyễn Thị Bích Châu nối thị trấn Kỳ Anh xuống xã Kỳ Ninh, đường 12 nối Vũng Áng với biên giới Việt Lào, đường cứu hộ Kim Sơn, đường kinh tế, quốc phòng ven biển…
Với các dự án đầu tư trong và ngoài nước, Kỳ Anh bước vào giai đoạn mới. Cuộc cách mạng về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, quy hoạch chuyển đổi dân cư, chuyển đổi mục đích sử dụng đất theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trong thời gian ngắn đã giải phóng mặt bằng, thu hồi 5.000 ha đất, di dời hơn 2.500 hộ dân của các xã Kỳ Lợi, Kỳ Long, Kỳ Liên, Kỳ Phương, Kỳ Trinh vào 5 khu tái định cư được xây dựng mới.
Giai đoạn từ 2006 đến 2015, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 19,6%. Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 đạt hơn 35.000.000 đồng/ năm. Cơ cấu kinh tế thay đổi. Công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp chiếm 42%, thương mại-dịch vụ chiếm 44%, nông-lâm-ngư nghiệp chiếm 14%
Thu ngân sách trên địa bàn hàng năm đạt hơn 1.500 tỷ đồng.
Đến năm 2015 có 6 xã đạt tiêu chí nông thôn mới. Hơn 80% trường học, 100% trạm xá đạt chuẩn quốc gia, 82% các gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa…
Đó là những thành quả ngoạn mục mà nhân dân huyện Kỳ Anh đạt được sau 30 năm đổi mới kinh tế cùng đất nước.
***
Ngày 10-4-2015, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có Nghị quyết số 803 về việc
Điều chỉnh địa giới hành chính huyện Kỳ Anh để thành lập Thị xã Kỳ Anh,
tỉnh Hà Tĩnh.
Mảnh đất Kỳ Anh linh thiêng bị chia thành hai mảnh và trở thành hai đơn vị hành chính độc lập.
Kể từ ngày 17-5-2015 Kỳ Anh không còn là một thực thể nguyên vẹn.
– Huyện Kỳ Anh còn lại 76.161 ha đất tự nhiên với 120.518 người và 21 xã.
– Thị xã Kỳ Anh có 28.125 ha đất tự nhiên với dân số 58.508 người với 12
đơn vị hành chính gồm 6 phường: Kỳ Long, Kỳ Trinh, Kỳ Liên, Kỳ Phương,
Kỳ Thịnh, sông Trí và 6 xã: Kỳ Hoa, Kỳ Hưng, Kỳ Hà, Kỳ Ninh, Kỳ Nam, Kỳ
Lợi.
Lịch sử có những thay đổi bất ngờ và có lý lẽ riêng của nó, Kỳ Anh có được tái lập như mong muốn của nhiều người hay không là một câu chuyện khác ở thì tương lai.
Chỉ cái tên chung Kỳ Anh vẫn còn nguyên và người ta vẫn có quyền
ước mơ về sự vẹn toàn. Đây là một sự kiện còn gây nhiều luận bàn trong
dân chúng. Đánh dấu một trang mới của lịch sử Kỳ Anh. Sự kiện này có thể
được ghi dấu ấn qua bài thơ của tác giả Xuân Lộc:
KỲ ANH NGÂM KHÚC
Hỡi ơi !
Thế cục xoay vần, lòng người khó đoán
Chuyện linh thiêng giống như một trò đùa
Cả một miền quê của nhạc của thơ
Ai ngờ được bổng chốc thành hai mảnh…
Cứ tưởng :
Suốt mấy trăm năm kề vai sát cánh
Máu, mồ hôi trộn theo những luống cày
Rường cột- ông bà chung sức dựng xây
Sông Rác-Đèo Ngang dính liền một dãi.
Thượng, Lạc, Lâm, Sơn, Phú, Xuân, Ninh, Hải*
Đông nối Tây: biển bạc nối rừng vàng
Hoa, Tân, Đồng, Văn,Thư, Thọ, Tiến, Giang*
Nông sản bốn mùa lúa khoai đắp đổi .
Nam, Thịnh, Trinh, Hà, Phương, Long, Châu, Lợi*
Sỏi đá, đất cằn nuôi chí kiên trung
Khang, Bắc, Phong, Trung, Liên, Hợp, Tây, Hưng,*
Địa chí Kỳ Anh lưu vào trang sử…
Ai có thể quên Cầu Cao, Bàn Độ**
Bom đạn một thời, liền mạch giao thông
Một mái Đèo Ngang nặng gánh non sông
Ai không nhớ những câu thơ Bà Huyện ?
Cửa Khẩu chiều về dưới thuyền trên bến
Mấy trăm năm đền che mát Bích Châu 1
Núi Đọ, Rú Vong** hai cánh hải âu
Như vươn dậy tung mình ra biển lớn.
Trong nghèo khó người ươm rèn lý tưởng
Bao anh hùng vì nước đã quên thân
Chắc tay cày tay súng mấy ngàn năm
Sông núi đó hun đúc nên nghĩa khí.
Biết bao nhiêu cuộc trường chinh không nghỉ
Vẫn một Kỳ Anh trung dũng kiên cường
Hết ngoại thù đến nội giặc nhiễu nhương
Đoàn kết bên nhau, vượt qua giông tố.
Dân một huyện như chim trong một tổ
Bầu bí tương phùng, son sắc nghĩa nhân
Cứ tưởng rằng tình huynh đệ, tay chân
– Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ…
Than ôi !
Chỉ mới non ba mươi năm mở cửa
Hội nhập toàn cầu, kinh tế tự do
Chưa kịp vui mừng áo ấm cơm no
Đã ngơ ngác như con thuyền mất hướng.
Mái tranh nghèo xưa, dưới làng trên xóm
Bát nước chè xanh ấm áp tình người
Nay ở nhà lầu, biệt thự, xe hơi
Đạo đức lung lay, luân thường bát nháo.
Vũng Áng yên bình trở thành tâm bão
Những công trình, nhà máy mới mọc lên
Điền thổ ông cha đổi lấy cọc tiền
Tháng tám, ngày ba tưởng là dĩ vãng…
Mới nhìn vào ngỡ tương lai sáng lạn
Ngẫm kỹ ra mới buốt giá tim gan
Mảnh đất bao đời trộn nắng pha sương
Giờ nằm gọn trong tay người phương bắc.
Đất chẳng phụ người, sao người phụ đất
Ai đã cam tâm bán biển bán rừng?
Gái trai làng nay ly tán muôn phương
Chốn hương hỏa để người Tàu cư ngụ.
Ngữa mặt kêu trời, trời xa không tỏ
Cúi kêu đất, đất ứa lệ chau mày
Đảng đã quyết rồi, tiền đã trao tay
Thân phận dân đen lời ve gió thoảng.
Dòng Xích Mộ** nước mắt như đã cạn
Hoành Sơn quan tường phủ kín rêu phong
Nước đầu nguồn Sông Trí** chảy về đông
Thôn xóm cũ nay dở làng, dở phố.
Một số người trở thành tư bản đỏ
Lầu dọc ngang, đất thẳng cánh cò bay
Một số người tay trắng lại trắng tay
Nay cuốc mướn, mai cày thuê độ nhật.
Biết bao người giàu phất lên nhờ đất
Ruộng mật, bờ xôi chuyển hóa thành tiền
Sức mạnh kim tiền đổi trắng thay đen
Mua chức, bán quan, rộn ràng chợ búa.
Quê mẹ Kỳ Anh yên lành một thủa
Máu người dân loang đổ giữa thời bình
Ai đã làm động đến gốc tâm linh
Luật nhân quả sớm đến ngày phải trả.
Cơn gió đầu tư qua miền tuyến lửa
Làm đổi thay cả một xứ nhân văn
Văn Miếu** lâu ngày, ít kẻ viếng thăm
Chữ nghĩa Thánh hiền có phần rẻ rúng.
Cũng vẫn biết cuộc sống luôn vận động
Đã dám làm cũng có lúc đơn sai
Xiết chặt tay khắc phục vượt đường dài
Đoàn kết bên nhau nghĩ về đại cục …
Nhưng hỡi ôi! khi có quyền có chức
Nhóm lợi ích quyết chia cắt lâu dài
Mảnh đất bao đời nếm mật nằm gai
Một bên phố, một bên làng nghiệt ngã.
Các cựu quan chức, cây cao bóng cả…
Các vị trí thức, con cháu mọi miền…
Ai cũng đồng lòng phản biện, ký tên
Mong giữ được miền quê này toàn vẹn.
Trăm con sông đều xuôi dòng ra biển
Ý đảng – lòng dân con nước lớn – ròng
Ai nghĩ ra trò mở hội Diên hồng…
Dân đi họp phát mỗi người năm chục.2
Chiêu trò ấy từ cổ kim có một
Chỉ trong thời đảng cộng sản quanh vinh
Chuyện như đùa nhưng là thật, quê mình
Tiền thay phiếu đồng tình chia cắt huyện.
Thế mới biết chốn quan trường nham hiểm
Quyết định đưa ra: đủ lý đủ tình
Thôi từ đây cũng tên ấy: Kỳ Anh
Một nửa huyện, một nửa thành thị xã…
Bốn mươi năm chân ngược xuôi trăm ngã
Về thăm quê, chứng kiến cái trò đời
Chủ tịch, bí thư lừng lẫy một thời
Phút tách huyện mời ngồi chơi xơi nước.
Bàn cờ thế có mấy ai biết trước
Cõi lòng người đo sao được nông sâu
Ngẫm sự đời, trông thế cuộc mà đau
Đành hạ bút thảo vài câu ngâm khúc.
Ai ở quê nhà, ai xa đất nước
Ai ngược xuôi vất vả giữa đường đời
Xin nguyện cầu cho đất Mẹ quê tôi
Hai Kỳ Anh(3), một tấm lòng son sắt.
Kỳ Anh, 17/5/2015-Tp. Melbourne.Vic. 5/7/2015
* Những tên xã của huyện Kỳ Anh (chữ đầu mang tên Kỳ…)
** Những địa danh ở Kỳ Anh
(1). Đền thờ Chế Thắng phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu (1356-1377)-cung phi của vua Trần Duệ Tông. Di tích lịch sử quốc gia.
(2). UBND Huyện Kỳ Anh lệnh cho các xã mời dân đến họp lấy ý kiến về
việc chia cắt huyện, ai đến có mặt trẻ già trai gái…đều được nhận
50.000đồng, ký vào tờ danh sách nhận tiền rồi về, coi như đồng tình,
(3) Tranh cãi mãi, bây giờ thị xã mới vẫn giữ tên Kỳ Anh, và huyện Kỳ Anh, thành 2 đơn vị hành chính riêng biệt.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét