10.1.22

PHẦN I: HƯƠNG ĐẤT-TÌNH NGƯỜI

Chương 1.  Kỳ Anh: Vùng đất linh thiêng

1. Địa lý tự nhiên
Kỳ Anh nằm về phía đông nam tỉnh Hà Tĩnh, vào khoảng 17,5 – 18,18 độ vĩ bắc, 106-106,28 độ kinh đông, nằm chênh lệch hướng tây bắc-đông nam trên bản đồ.

– Bắc và tây bắc giáp huyện Cẩm Xuyên, phía nam và tây nam giáp tỉnh Quảng Bình.

– Diện tích tự nhiên: Khoảng 1.052910 km2, bằng 1/6 diện tích toàn tỉnh. 74% là đồi núi.

Đây là mảnh đất cuối một chi của dãy Trường Sơn bắc mọc lấn ra biển, dãy núi chạy dọc theo phía tây là dãy Hoành Sơn.

– Qua bờ nam sông Rác cuối huyện Cẩm Xuyên tầm mắt đã bị núi chắn ngang, rồi từ địa bàn khe Su vào tận Đèo Ngang là một mạng núi đồi dày đặc từ tây sang đông, trừ một vùng hẹp mấy xã ở hạ lưu sông Trí, toàn bộ dãy đất này được đặt trên nền đá gốc như một tảng móng vững chãi và có tuổi địa chất cùng với khối Trường Sơn bắc.

Trừ vài ngọn ở Hoành Sơn, núi ở đây chỉ có độ cao trung bình từ 200 đến 500 mét, hệ thống đồi thấp nối liền với các ngọn núi dường như bị san phẳng, có khi chỉ cao hơn đồng ruộng xung quanh vài ba mét. Dọc phía tây quốc lộ 1A từ Kỳ Phong đến Kỳ Tân, Kỳ Hoa, vào tận Kỳ Trinh, Kỳ Long…tận Kỳ Nam và rải rác cả phía đông quốc lộ có những ngọn đồi cao hơn nhưng nơi cao nhất cũng không quá 40 mét.

Liền với các núi ở Cẩm Lạc, Cầm Sơn, Cẩm Thịnh của huyện Cẩm Xuyên phía tây là khối núi đồi Vọng Liệu chứa gần nửa diện tích toàn huyện, gồm các xã vùng cao: Kỳ Thượng, Kỳ Tây, Kỳ Sơn, Kỳ Hợp, Kỳ Lâm, Kỳ Lạc. Giữa các vùng đồi bị chia cắt bằng những suối, rào và những thung lũng hẹp, nổi lên những đỉnh cao, đỉnh Động Cay cao 301m, Động Chùa 544m, Động Hương 190m, Rú Bòi 501m, ở mạn bắc có động Le Le cao 349m, Động Nậy 646m, Rú Khe Cấy 200m, Rú Bà Hới 193m, động Kẻ Đỏ 459m, động Hồ Nhuây 494m, ở mạn nam là phần trên của dãy Hoành Sơn.

Phía bắc huyện, liền lưng với Rú Rác, Rú Cửa (huyện Cẩm Xuyên) là dãy núi chạy từ xã Kỳ Phong phía tây nam, qua Kỳ Bắc, ra Kỳ Xuân phía đông bắc có các ngọn núi: Rú Voi (Tượng Tỵ, còn có tên là Ngọc Thạch hay Tiên Chưởng) Rú Vang cao 333m, (hay rú Cờ-Kỳ Đầu-sách cổ còn chép là Yên Tâm: có ngọn Cờ, ngọn Trống, ngọn Voi…)

Dãy Hoành Sơn phía Nam, từ khối núi Vọng Liệu với nhiều ngọn cao 400-650m đi xuống đông nam qua các xã Kỳ Thịnh, Kỳ Long, Kỳ Phuong, Kỳ Nam có ngọn Ba Cốc cao tới 823m rồi thấp dần xuống cuối Mũi Đao, Mũi Độc. Đèo Ngang  256m là cửa ngõ thông sang tỉnh Quảng Bình.

Từ Võng Liệu đổ xuống phía đông, lấn tận chân các núi ven biển cũng là một mảnh đồi núi thấp. trong đó nổi lên các ngọn Động Cấp cao 376m, Ba Cụp (Tam Thai) 105m, rú Mười Lăm 45m, Động Chào 225m, rú Lôi Tiên 266m, rú Yên Mã 231m, rú Hỏa Hiêu (rú Mầu)…

Dọc mé biển từ Kỳ Xuân đến Kỳ Nam có nhiều ngọn núi cao thấp như những bức rèm che kín phía đông: rú Trân, rú Dân cao 243m ở Kỳ Tiến, rú Hương (Càn Hương), rú Ba Đọ (Bàn Độ) 441m ở Kỳ Khang, rú Đông Lĩnh ở Kỳ Ninh, rú Voong (hay rú Vương-Cao Vọng) có các ngọn cao 308, 350m, và rú Sơn cao 367m, Đỉnh Chùa 230m (trên bán đảo mũi Dòn ở Kỳ Lợi)…, ngoài mũi Dòn có 2 hòn đảo: Hòn con Dê (Sơn Dương) cao 133m (có sách chép là hòn yến), và hòn Con Chim (ở phía đông bắc hòn con Dê) cũng thuộc địa phận xã Kỳ Lợi.

Từ xa xưa, toàn bộ đất Kỳ Anh bây giờ bao phủ một thảm rừng dày từ Vọng Liệu xuống tận bờ biển, hiện nay rừng đã bị tàn phá nặng nề chỉ còn lại lau và cây bụi khô cằn trên đất đỏ vàng, các ngọn đồi trước núi trơ trọi một màu đất xám, bạc phếch…

Theo dòng thời gian, trên mười vạn năm trước toàn bộ vùng đồi thấp trên đất Kỳ Anh đều ngập sâu dưới nước, còn những ngọn núi thì nhô lên như những hòn đảo. Sau đó, mặt biển hạ thấp xuống tới 120m, vịnh Bắc Bộ và mé tây biển Đông là dải đất liền nối từ đảo Hải Nam (Trung quốc) tới quần đào Nam Dương (Indonesia).

Cách đây khoảng chừng vài vạn năm nước biển lại dâng lên cao như hiện nay. Tuy nhiên giữa lòng địa bàn Kỳ Anh và dọc bờ biển vẫn còn là vũng biển cạn. Những ngọn rú Hương, rú Đọ, rú Voong, rú Sơn…là dãy đảo. Từ sau cuộc vận động kiến tạo đầu kỷ đệ tứ, nâng rìa đá gốc lên, làm đứt rãy một phần rìa đó, tạo điều kiện cho phù sa sông suối và phù sa biển hội tụ, các vũng biển ở miền Trung, trong đó có Kỳ Anh được lấp cạn dần.

Ngày nay ta thấy từ Thanh Sơn (Kỳ Văn) xuống Kỳ Thư, Kỳ Châu, Kỳ Hưng, Kỳ Hải, Kỳ Hà đồng điền khá rộng và bằng phẳng. Đó chính là vũng biển cũ được bồi lấp qua hàng vạn năm. Đến bây giờ, các sông, hói (sông Kinh, sông Trí, sông Quyền) vẫn còn đổ vào một vũng biển nhỏ cuối xã Kỳ Hà trước khi chảy ra Cửa Khẩu, và vùng này vẫn tiếp tục được bồi lấp.

Ngoài dãy đồng bằng nhỏ hẹp này, ruộng nương Kỳ Anh hầu hết đều ở ven núi đồi, vừa hẹp vừa bậc thang, nhưng ruộng nương thường có nước, bùn sục (như ở vùng Voi, vùng Vọng Liệu…), có nơi là ruộng nẫy (như ở bắc khe Miệu, Đại Hào, Du Phong). Các xã dọc sông Kinh, mạn bắc thì đồng điền nằm ven núi đá, đồi trọc, mùa mưa thì ngập nước, mùa nắng một số nơi có nước ngầm. Đây là vùng đồi thấp bị sang bằng và bồi lấp lên bề mặt, nếu đào sâu xuống 3-4 mét thì gặp sò điệp, bùn biển, hoặc tầng đá tảng và mạch nước ngầm.

Dọc biển ở mạn bắc là dải cát hẹp cao hơn đồng ruộng có nơi tới 1-2 m. Còn ở mạn nam từ Kỳ Lợi vào Kỳ Nam là dải phù sa biển dồn lên như những đợt sóng, cao 2-3 m, có nơi cao 6-7m…cùng với phù sa sông nước mặn tạo thành cánh đồng cát pha Hoàng Lễ (Kỳ Phương, Kỳ Nam)

Kỳ Anh là vùng đất núi đồi, bị chia cắt bởi các mạng lưới khe, hói dày đặc nhưng không có sông lớn.

Những khe, suối vùng rú Cày, động Chùa, động Cấp…mạn tây bắc đổ vào sông Rác và hói Dành mà chảy ra Cửa Nhượng (Cẩm Xuyên).

Ở vùng Vọng Liệu, tây nam, hàng trăm khe suối từ cụp Thao (Cẩm Xuyên), động Chùa, động Hồ Nhuây, động Nậy, rú Mã Yên, rú Bá Bạc, rú Bà Hới…đổ vào rào Trâm, rào Móc, rào Trà, rào Mọn (26km) rồi chảy sang đất Quảng Bình.

Phía đông bắc, các khe suối từ rú Voi, rú Vang, và các đồi xung quanh đều dồn nước vào sông Kinh chảy về đông nam ra cửa Khẩu.

Các khe suối vùng động Chào, hợp lưu chảy qua Kỳ Văn, Kỳ Thọ xuống Kỳ Ninh dài khoảng 8km đổ ra cửa Khẩu.

Các khe từ vùng Trại Cày, Đồng Tràn, khe Ông, khe Côn từ Đại Đồng chảy xuống Thanh Sơn (Kỳ Văn) Đan Du (Kỳ Thư) và khe Cầu bắt đầu từ rú Yên Ngựa, chảy vào hói Trí, rộng dần thành sông, đi qua Nhân Lý (Kỳ Hoa), Cầu Thị (Kỳ Châu), Văn Yên (Kỳ Hà), cùng sông Đình ở Hưng Nhân (Kỳ Hưng) đều đổ ra cửa Khẩu.

Sông Trí dài khoảng 18km, hạ lưu rộng từ 80-100m, là con sông quan trọng ở Kỳ Anh.

Từ phía bắc dãy Hoành Sơn, mấy con khe Khe Bò, Khe Du, Khe Di, hợp lưu chảy qua làng Ngưu Sơn (Kỳ Nam) thành sông nước mặn Xích Mộ (hay Xích Lỗ) đổ ra cửa Nước mặn.

Còn khe Lũy, khe Dâu, khe Miên, khe Lau, khe Đá Hạt, khe Đầu Voi, đều chảy theo hướng đông bắc đổ vào sông Quyền. Sông này tiếp tục chảy theo hướng bắc, qua Kỳ Phương, Kỳ Long, Kỳ Lợi, Kỳ Thịnh vòng lên phía tây đến Quyền Hành (Kỳ Trinh), hợp với khe Đá Bàn và ngoặt xuống sông Vịnh-cửa Khẩu dài 25km.

Kênh Thần Đầu đào từ thời nhà Lê (có nghi vấn từ cuối đời Trần như kênh Hạ) gồm hai đoạn là kênh Sa Tắc (Cát Lấp) và kênh Trường Lang nối các đoạn sông Quyền tạo nên con đường thủy thông từ phía bắc huyện vào tận mé ngoài mũi Đao.

Như vậy, Sông ngòi ở Kỳ Anh thực ra chỉ là một mạng lưới khe, hói chảy từ trên vùng núi đồi và đổ vào những con rào, con kênh đào hẹp và cạn rồi theo nhiều hướng khác nhau mà đi ra biển. Phía bắc đổ vào sông Rác chảy ra cửa biển Nhượng Bạn (Cẩm Xuyên), phía tây nam đổ vào sông Gianh (Quảng Bình), phía đông chảy ra cửa Khẩu, cửa Nước Mặn (Xích Mộ).

Kỳ Anh có 63 km bờ biển, chạy dài theo hướng tây bắc-đông nam (chiếm gần ½ bờ biển toàn tỉnh Hà Tĩnh 135km). Từ ngoài khơi nhìn vào ta thấy nhấp nhô những dải núi lấn ra biển thành những bán đảo. Từ trong nhìn ra đó là mũi Độc, mũi Đao, mũi Con voi, mũi Dòn, mũi Thằn Lằn, mũi Dung, mũi Đa…Mũi Dòn (bản đồ ghi là mũi Ròn) có mũi Dòn con, mũi Dòn nậy là một bán đảo vươn ra biển tới 8km từ tây nam đến đông bắc.

Khác với các bờ biển bốn huyện phía bắc của Hà Tĩnh (Nghi Xuân, Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên) bờ biển Kỳ Anh có nhiều núi mọc lấn ra mé nước ( Kỳ Xuân, Kỳ Tiến, Kỳ Khang, Kỳ Ninh, Kỳ Lợi, Kỳ Phương, Kỳ Nam) nên không có bãi biển dài, rộng. Bờ biển chỉ là dải cát hẹp xen giữa núi đồi. Có nơi, như ở mạn nam cát dồn lên thành gò cao tiếp liền với dải đồng hẹp phía trong, có nơi (như vùng Trảo Nha) làng xóm ruộng nương cũng bị cát lấp. Tuy núi mọc sát biển nhưng nhiều nơi khi thủy triều xuống dưới chân núi vẫn có một dải cát hẹp dốc thoải có thể tạo thành bãi tắm đẹp hoặc đi bộ.

Mực nước biển trong vòng 1 km trở vào sâu trung bình 6-7 m, sâu nhất như ở mạn Kỳ Khang, Kỳ Phú cũng chỉ vào khoảng 7-9 m.

Phía nam cửa Khẩu, vòng quanh mũi Dòn núi lấn ra biển tạo nên những vũng ăn sâu vào đất liền như: Vũng Do, vũng Lố, vũng Ná, vũng Môn. Đặc biệt có Vũng Áng có độ sâu 12m trở lên, lại được núi Cao Vọng che chắn nên lúc bão tố cũng lặng êm.

Từ Vũng Áng qua eo Rồng là sang Vũng Môn (làng Phước Môn), vũng này có độ sâu lớn và kín đáo như cái ao, nên còn được gọi là Vũng Yên.

Kỳ Anh có 2 cửa biển: Cửa Khẩu và cửa Nước Mặn. Cửa Khẩu tức Hà Hoa Hải khẩu là địa phận xã Hải Khẩu xưa (nay là xã Kỳ Ninh). Những con sông lớn nhất huyện (sông Kinh, sông Trí, sông Quyền) và nhiều khe, hói khác từ ba hướng bắc, tây, nam đều dồn nước vào sông Vịnh (sông Cửa Khẩu) rồi đổ ra biển.

Đời Lê, nhất là từ khi có trấn Dinh Cầu, cửa Khẩu là cửa biển quan trọng cung cấp vật chất, giao thương hàng hóa và bảo vệ trấn thành.

Cửa Nước mặn (cửa sông Xích Mộ) phía nam mé Hoành Sơn thuộc địa phận thôn Ngưu Sơn, xã Hoàng Hóa ( sau là xã Thần Đầu, nay là Kỳ Nam) nay đã bị bồi lấp. Ở thế kỷ XV còn rộng và sâu, chiến thuyền vào ra được. Nơi đây vua Lê Thánh Tông và đoàn thuyền chiến của ông đã từng dừng nghỉ qua đêm vào những năm 1470-1471 và để lại nhiều bài thơ đầu tiên viết về cửa biển Thần Đầu.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét