Quân Pháp đánh chiếm Hà Nội lần thứ 2(25-4-1882), rồi đánh cửa Thuận An (18-8-1883)
Triều đình Huế liên tiếp ký Hòa ước Qúy Tỵ (tức “Hiệp ước Hác-măng(Harmant) ngày 24-7 Qúy Tỵ “25-8-1883”)
Rồi Hòa ước Giáp Thân (tức Hiệp ước Pa-tơ-not “Patenotre” ngày 13-5 Giáp Thân”6-6-1884”) thừa nhận nền đô hộ của Pháp ở Việt Nam.
Theo hòa ước trước, quân Pháp được đóng ở Đèo Ngang, còn Hiệp ước sau, các tỉnh Bình Thuận và Thanh, Nghệ, Tĩnh do Nam triều cai quản. Nhưng tháng 7-1885, đại tá Pháp Chaumont đang đóng quân trong thành Quảng Bình giao cho thiếu tá Gờ-rê-goa ở lại, về Đà Nẵng đưa quân và chiến thuyền ra đánh chiếm thành Nghệ An. Văn thân Nghệ Tĩnh liền kêu gọi nhân dân đứng lên chống xâm lược.
Ở Trung Lễ (Đức Thọ) cậu ấm Lê Ninh (1857-1887) dựng cờ khởi nghĩa. Liền đó vua Hàm Nghi ra tới Sơn Phòng – Hà Tĩnh, hạ chiếu cần vương lần thứ hai (20-9-1885). Theo lệnh nhà vua, Lê Ninh đánh hạ thành Hà Tĩnh ngày 6-11-1885 (có nơi chép ngày 5-11) gây tiếng vang lớn. Lần lượt các đội nghĩa quân được sĩ phu và thủ lĩnh nông dân thành lập ở khắp tám phủ, huyện trong tỉnh. (có tài liệu chép 20 cuộc khởi nghĩa)
Riêng ở Kỳ Anh có các đội quân của Dương Xuân Ôn ở Như Nhật (Kỳ Xuân), Trần Công Thưởng ở Long Trì (Kỳ Phú, ông là một nhà nho), Hồ Du ở Sơn Luật (Kỳ Thọ-họ Hồ có 8 đời làm Chánh tổng Đậu Chữ, ông cũng là Chánh tổng), Nguyễn Văn Bỉnh ở Quyền Hành (Kỳ Trinh-sau tham gia nghĩa quân Phan Đình Phùng và hy sinh), Lê Nhất Hoàn ở Mỹ Lụ (Kỳ Văn- ông là con trưởng Hoàng giáp Lê Tuấn, đỗ cử nhân thời Tự Đức ), Nguyễn Tiến Thước ở Hữu Lạc (Kỳ Bắc-là con Nguyễn Tiến Ước làm phó tổng đoàn), Võ Phát (hay Hoạt) ở Đan Du (Kỳ Thư-tùng giữ chức Bang biện quân vụ-cử nhân võ ?)…
Lúc Lê Ninh vào đánh thành Hà Tĩnh thì các đội nghĩa quân ở Kỳ Anh mới hình thành, chưa có hoạt động gì để phối hợp như các đội nghĩa quân khác trong tỉnh.
Lúc này quân Pháp ở Nghệ An cũng đang lo đối phó với các cuộc nổi dậy ở Nghệ An và bắc Hà Tĩnh.
Mãi đến tháng giêng năm Bính Tuất (2-1886), trung tá Mi-nhô (Mignot) mới đưa quân từ Bắc Kỳ vào Nghệ An, rồi chia làm hai đường tiến vào Hà Tĩnh. Thiếu tá Pen-lơ-chi-ê chỉ huy đội lính tập theo con đường Ngàn Sâu vào Tuyên Hóa (Quảng Bình), phối hợp với đại úy Mu-tô bao vây, lùng tìm vua Hàm Nghi. Mi-nhô đưa quân theo đường thiên lý vào chiếm đóng lại thành Hà Tĩnh, lập lại trật tự, tổ chức ngụy quyền, ngụy quân, bố trí lực lượng đồn trú, phòng thủ trong tỉnh tạm ổn rồi Mi-nhô rút vào sông Gianh
Ở Kỳ Anh có 2 đồn binh Pháp-ngụy, đồn chính đặt ở trong huyện thành, (ở làng Nhân Lý-nay Kỳ Châu), đồn nhỏ ở Voi. Các đồn này có nhiệm vụ khống chế phía nam Hà Tĩnh, truy tìm tiêu diệt lực lượng Cần vương ở đây.
Vào những năm 1887-1888, các đội nghĩa quân ở Kỳ Anh đã khá đông, nhưng tổ chức và hoạt động phân tán, thiếu khí giới, lương thực. Bước đầu có vài trân đánh lẻ tẻ, như lần Chánh tổng Hồ Du đưa một toán quân xuống đánh Pháp ở cửa Khẩu, bị thất bại và tan rã.
Dần dần, các nhóm nghĩa quân quy tụ lại dưới sự chỉ huy của Võ Phát, lấy vùng Vọng Liệu-Hoành Sơn làm căn cứ. Đây là một trong những lực lượng mạnh lúc bấy giờ ờ Hà Tĩnh.
Tháng 9-1889, Phan Đình Phùng ở Bắc về, cùng Cao Thắng khẩn trương tổ chức lại lực lượng kháng chiến ở bốn tỉnh: (Thanh Hóa-Nghệ An-Hà Tĩnh-Quảng Bình), chia làm 15 quân thứ. Lực lượng nghĩa quân Kỳ Anh hòa nhập với phong trào chung, trở thành một trong mười quân thứ trên địa bàn Hà Tĩnh.- “Kỳ thứ”-do Võ Phát chỉ huy. (Sách “Phan Đình Phùng” (ĐD)chép Võ Phát phụ trách “Kỳ thứ”. Các tài liệu ờ Kỳ Anh không nói gì về những người chỉ huy “Kỳ thứ” mà chỉ ghi Võ Hoạt làm việc đốc thúc binh lương Cầm-Kỳ)
Theo một số tài liệu thì nghĩa quân đã mở nhiều trận đánh, làm cho địch thiệt hại không ít. Đó là các trận Cồn Đìa ở Đan Du (Kỳ Thư), Cồn Dài ở Sơn Tịnh (Kỳ Xuân), Cồ Viên Tập? (Kỳ Trinh-Kỳ Hưng)
Tháng 4-1892, quân Pháp mở một đợt càn quét lớn vào căn cứ Trường Sim (Hương Sơn). Theo lệnh của Đại bản doanh Hương Khê, các quân thứ đều hoạt động mạnh để kéo chúng về phía đồng bằng. Ban chỉ huy “Kỳ thứ” mở hai cuộc tấn công vào đồn binh Pháp ở huyện thành và ở Voi. Bài viết trên báo Nhân dân ngày 9-11-1986 đã dẫn, miêu tả như sau:
“Trận ban đêm đánh quân Pháp đóng trong đồn huyện lỵ Kỳ Anh…Hai bên đường nghĩa quân phục kích sẵn. Phía trước vài người nổ súng nhử địch ra…, quân ta từ hai bên đường xông ra giết nhiều địch rồi rút về căn cứ an toàn”. Sau trận này, chỉ huy quân Pháp ở Kỳ Anh là Huy-nhi và Mari-a-ni rất lo sợ, mở cuộc càn quét lên vùng rừng núi Vọng Liệu”.
Giữa lúc đó thì, cũng theo bài báo viết: ”quân ta lập mưu cho người đến báo cho Huy-nhi biết chổ đóng quân, Huy-nhi liền hành quân đến nơi thì thấy trại bỏ trống. Thừa cơ quân ta từ trại Chè ập quân đến đánh đồn quân địch đóng ở Voi…,thiếu úy Bờ-ri-cu biết tin liền đem 25 quân từ Kỳ Anh ra ứng cứu. Quân ta phục kích chặn đánh gây thiệt hại cho địch ở Như Nhật. Huy-nhi đang hành quân liền chia làm hai ngã kéo xuống Voi hòng tập kích…song quân ta đã rút về căn cứ từ lâu..”. Trong trận đánh đồn Voi, do đồn trưởng Y-en-la-men chỉ huy, nghĩa quân tiêu diệt một số binh lính Pháp, thu 12 khẩu súng”
Đây là những trận đánh nổi bật của nghĩa quân “Kỳ thứ’,. Từ đó về sau không có những hoạt động đáng kể.
Tháng 11-1893, Chưởng vệ Cao Thắng hy sinh. Nghĩa quân Cần vương liên tiếp bị quân Pháp tấn công, nên suy yếu dần, cho đến lúc tan rã hẳn sau cái chết của Phan Đình Phùng (28-12-1895)
Nghĩa quân “Kỳ thứ” trong trận chặn quân Pháp từ Huế ra, đã bị thiết hại lớn. Võ Phát chỉ huy quân thứ bị bắt sống và bị giết. Đó cũng là trận cuối cùng ở Kỳ Anh.
Lúc phong trào tan rã, nhiều chỉ huy và nghĩa quân bị bắt và bị tàn sát.
****
Năm 1905 Phan Bội Châu xuất dương rồi trở về vận động phong trào Đông
du-Duy tân. Theo lời kể của một số người già thì cụ Phan Bội Châu có đến
ở nhà Phan Công Hậu, liên lạc với Đầu xứ Phan Công Kế. Sau đó Phan Công
Phức, Phan Công Hậu xuất dương, Phan Công Phả cũng tham gia Đông kinh
nghĩa thục rồi sang Quảng Đông-Trung quốc.
Một nhân vật trọng yếu khác là Nguyễn Thức Canh, con Sơn phòng sứ Nguyễn Thức Tự ở Nghi Lộc-Nghệ An trước khi xuất dương cũng từng mượn cớ đi bát ví, vào vận động phong trào yêu nước ở Kỳ Anh.
Trong phong trào chống thuế 1905, hưởng ứng lời kêu gọi của Nguyễn Hoàng Chi, các nhà nho Kỳ Anh cũng đã vận động một số đồng bào ở hai xã Hà trung, Đan Du (Kỳ Văn, Kỳ Thư) tổ chức biểu tình, hưởng ứng dân nghèo Can Lộc, Thạch Hà kéo vào xin sưu ở tỉnh lỵ.
Từ giữa năm 1928, đảng Việt Tân bắt đầu gây cơ sở ở Kỳ Anh[1]. Cuối năm ấy, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh xây dựng được một tổ ghép gồm 5 đảng viên. Sau đó cơ sở đảng được xây dựng ở các tổng Cấp Dẫn, Hà Trung và thành lập đại tổ (tức huyện đảng bộ) Kỳ Anh, do Hoàng Lương làm bí thư.
Ở Hữu Lạc, Phương Giai, Tuần Tượng các đảng viên Tân Việt hoạt động tương đối khá. Ở Hữu Lạc có tổ chức “hội lợp nhà”, có quỹ tương tế được 3 tấn thóc, và cuộc chống cường hào Lê Ngọc Thiện tham nhũng…
Đầu năm 1930, hạn hán kéo dài, các đảng viên Tân Việt xuất tiền gạo, tạm ứng thuế của điền chủ cho dân vay, hoặc mua gạo về bán làm cho giá gạo hạ xuống…
Lúc này ở Kỳ Anh chưa có cơ sở của tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội.
Hội nghị thống nhất các tổ chức cách mạng ở Việt Nam họp ngày 3-2-1930 tại Hồng Kông đã quyết định thành lập Đảng công sản Việt Nam.
Cuối tháng 3-1930, xứ ủy Trung Kỳ đã ủy nhiệm Trần Hữu Thiều[2] triệu tập thành lập đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh (Hội nghị họp ở bến đò Thượng Trụ, Can Lộc). Ban tỉnh ủy lâm thời do Trần Hữu Thiều làm bí thư.
Cũng trong tháng 3-1930, tỉnh ủy lâm thời cử Trần Hưng[3] vào bắt mối xây dựng đảng bộ Kỳ Anh. Một số đảng viên Tân Việt cũ là Bùi Thị, Nguyễn Tiến Liên, Nguyễn Trọng Bình, Nguyễn Tể được tổ chức vào đảng cộng sản.
Tháng 5-1930, toàn huyện đã có 7 chi bộ gồm 42 đảng viên[4]
Hội nghị đại biểu các chi hội họp vào tháng 6-1930 ở thôn Phương Giai (xã Kỳ Bắc). Hội nghị đã nghe chính cương, sách lược tóm tắt và điều lệ đảng, thảo luận kế hoạch phát triễn đảng bộ, xây dựng các tổ chưc quần chúng và tổ chức tự vệ. Hội nghị cử ban huyện ủy lâm thời gồm 7 người do Nguyễn Tiến Liên làm bí thư. Sau hội nghị này thêm 2 chi bộ nữa được thành lập ồm chi bộ Tùng Lâm (Kỳ Lạc) có 3 đảng viên, chi bộ Hưng Phú (Kỳ Hưng) có 4 đảng viên.
Đến tháng 9-1930, huyện đảng bộ có 9 chi bộ và 93 đảng viên.
Nông hội có cơ sở ở 27 thôn với 875 hội viên, các đội tự vệ có 305 đội viên. Phong trào quần chúng phát triễn tốt, nhất là các thôn Dị Nậu, Tuần Tượng (tổng Cấp Dẫn), Đan Du, Thanh Sơn, Mỹ Lũ (tổng Hà Trung), Xuân Sơn, Lạc Sơn, Mỹ Sơn (tổng Vọng Liễu)
Mở đầu phong trào đấu tranh của nhân dân Kỳ Anh thời Xô Viết Nghệ Tĩnh là cuộc rải truyền đơn, treo cờ đảng ở huyện lỵ và động Tuần nhân ngày chống chiến tranh đế quốc (1-8-1930). Tiếp đó là việc nông dân Tuần Tượng, Hữu Lạc, Phú Dẫn, Mỹ Lũ, Thanh Sơn, Đan Du đấu tranh đòi chia lại ruộng đất, đòi tăng tiền công, lúa công, có nơi như Hữu Lạc nông dân không chịu đi cấy, đi gặt buộc địa chủ phải nhượng bộ. Nông dân Yên Hạ, Phú Dẫn, Hữu Lạc, Đan Du có cả một số lý trưởng tham gia, đòi chánh tổng bỏ “phòng phu” và phải trả tiền công cho những người bị bắt khiêng cáng, nhân dân nhiều nơi đòi sửa đổi hương chính, bài trừ hủ tục trong việc ma chay, cưới xin…
Cùng thời gian này còn có các cuộc treo cờ đảng, rải truyền đơn ở huyện lỵ, ở Cụp Cọi, Cầu Trộ, rú Đọ, rú Trập…
Có tiếng vang lớn nhất là cuộc biểu tình tranh đấu ngày 9-9-1930 hưởng ứng cuộc đấu tranh của công nhân Bến Thủy và nhân dân Thanh Chương, Hưng Nguyên, Nam Đàn (Nghệ An) theo chủ trương của tỉnh ủy Hà Tĩnh, có khoảng 3000 người tham gia, làm cho tri huyện Lê Đức Trinh phải bỏ trốn:
Sáng ngày 9-9-1930, hàng nghìn nông dân Kỳ Anh từ các xã trong huyện đã tập trung ở Cụp Nước Mắm (Kỳ Thọ). Đoàn biểu tình đội ngũ chỉnh tề do Nguyễn Trọng Bình chỉ huy, theo đường quốc lộ kéo thẳng về huyện lỵ. Ngọn cờ đỏ búa liềm phất phới trong gió sớm. Đội tự vệ do Lê Quế phụ trách chia nhau đi bảo vệ trước và sau. Đoàn người háo hức, vừa đi vừa hô khẩu hiệu tranh đấu, lôi cuốn thêm người các làng ven đường tham gia, nên mỗi lúc mỗi đông.
Ở ngã ba đường rẽ vào huyện, thông lại Trần Đình Xí và hai lính lệ đã đứng ngăn đoàn biểu tình lại, hòng bắt giữ những người cầm đầu. Nhưng họ liền bị tự vệ bắt trói giải về huyện.
Khi đoàn biểu tình vào tới nơi, tri huyện Lê Đức Trinh cùng nha lại, lính tráng đều đã bỏ trốn. Công đường vắng ngắt. Quần chúng xô vào đốt sổ sách giấy tờ, phá trại lính, mở cửa trại giam, thả hết những người bị cầm tù. Ban chỉ huy đưa bản yêu sách bắt Trần Đình Xí ký tên, đóng dấu và hứa chuyển lên công sứ tỉnh.
Cuộc đấu tranh thắng lợi, quần chúng chia nhiều ngã kéo về. Riêng đoàn của tổng Cấp Dẫn kéo ra đến Ba Động (Kỳ Khang, Kỳ Phú) thì gặp ô tô của phó sứ, giám binh Hà Tĩnh cùng 12 lính khố xanh vừa từ tỉnh vào. Mọi người liền chặn xe lại, đòi viên Phó sứ phải nhận yêu sách của nhân dân. Vợ viên phó sứ hốt hoảng, giật súng lục của chồng bắn vào đám đông. Hai người đứng gần là Lê Quế và Viên Lợi bị thương nặng. Đoàn người không nao núng, la ó phản đối quyết liệt. Viên phó sứ bèn ra lệnh cho xe quay về tỉnh.
Khoảng một giờ sau, máy bay từ Vinh vào lượn vòng quanh huyện lỵ, nhưng đoàn người biểu tình đã giải tán từ lâu.
Hôm sau, Lê Quế chết. Mặc dầu bị lụt lớn, Huyện ủy vẫn triệu tập họp (ở Kỳ Khang) để kiểm điểm tình hình, rút kinh nghiệm và bàn kế hoạch truy điệu Lê Quế.(theo lịch sử đảng bộ huyện Kỳ Anh)
Nhưng sau cuộc biểu tình này, chính quyền Pháp ra tay khủng bố. Các toán lính khố xanh, lính lê dương đi lùng sục, đốt phá nhà cửa ở Xuân Sơn (Kỳ Lạc), Yên Hạ (Kỳ Tiến), Thiện Lợi (Kỳ Tân)…, nhiều đảng viên và quần chúng cách mạng bị bắt.
Ngày 2-1-1931, Pháp đưa huyện ủy viên Nguyễn Trọng Bình ra xử tử ở bên thành huyện để uy hiếp tinh thần quần chúng. Nhưng mấy hôm sau hàng trăm người đã tổ chức truy điệu Nguyễn Trọng Bình ở Cồn Kèng (Kỳ Hoa).
Tháng 3-1931, một số đảng viên còn lại đã bắt liên lạc được với huyện ủy Cẩm Xuyên, Cẩm Xuyên cử Đặng Phượng vào Kỳ Anh, cùng Dương Duyến triệu tập các đảng viên ở Đan Du, Nhân Canh, Thiện Lợi bàn việc củng cố tổ chức.
Tháng 5-1931, tỉnh ủy Hà Tĩnh cử 2 cán bộ mở cuộc họp ở miếu Rỏi (Kỳ Văn), có 15 đảng viên tham gia, bàn kế hoạch củng cố lại phong trào và cử ban cán sự huyện gồm 5 người do Dương Duyến làm bí thư.
Sau hội nghị này, các chi bộ Đan Du, Đại Đồng, Thanh Mỹ, Nhân Hiệu, Xuân Sơn được củng cố (có 38 đảng viên). Nông hội cùng các hội tương tế, ái hữu được phục hồi.
Rồi sau cuộc hội nghị ngày 28-8-1931 ở rẫy ông Nghệ (Kỳ Hoa) các tổ chức lấy lại được khí thế, bắt đầu có các cuộc đấu tranh chống cường hào nhũng loạn. Cơ quan huyện ủy trước tạm dời lên Xuân Lạc (Kỳ Lạc) lại được chuyển về Sa Xá (Kỳ Văn)
Các lễ kỷ niệm Xô Viết Nghệ Tĩnh, Quảng Châu công xã, Cách mạng tháng mười Nga, được tổ chức ở các nơi có chi bộ đảng với hình thức treo cờ, mít tinh nhỏ…
Lúc này chính quyền Pháp đưa lính khố xanh về đóng thêm 2 đồn ở Xuân Sơn (Kỳ Lạc) và cồn Bình Xuyên (ở Kỳ Bắc). Cuộc khủng bố ngày càng quyết liệt, nhiều đảng viên bị bắt, nhiều chi bộ đảng và tổ chức quần chúng bị phá vở.
Tháng 2-1932, với sự cồ gắng của một số đảng viên, 11 chi bộ được phục hồi, nhưng rồi lại nhanh chóng bị phá vở. Vào giữa năm tất cả các huyện ủy viên và hầu hết đảng viên đều bị bắt và tù đày…
Thời Mặt trận bình dân lên cầm quyền ở Pháp, một số đảng viên ở các nhà tù Lao Bảo, Kon-Tum…được tha về địa phương lại bắt đầu hoạt động, vận động đọc sách báo, lấy nguyện vọng của nhân dân, chuẩn bị đón Gô-đa (đảng viên đảng xã hội Pháp, được chính phủ Mặt trận bình dân Pháp cử sang kiểm tra tình hình Đông dương-1937)
Thấng 6, tháng 7- 1938, tỉnh ủy Hà Tĩnh liên tiếp tổ chức hai cuộc họp (đại biểu Kỳ Anh là Lê Bính và Nguyễn Duy Khiêm), bàn kế hoạch cũng cố lại phong trào.
Tháng 9-1938, Tỉnh ủy chỉ định ban cán sự huyện gồm 3 người, phong trào được nhen nhúm lại, nhưng chiến tranh thế giới bùng nổ, chính quyền Pháp lại ra sức khủng bố, đảng viên, quần chúng cách mạng lại bị bắt.
Sau Ngày 9-3-1945, Nhật lật đổ Pháp, chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập. Một số tù chính trị vượt khỏi nhà tù trở về. Việt Minh liên tỉnh Nghệ Tĩnh bắt đầu hoạt động.
Tháng 6-1945, Phạm Thể và Tôn Sỹ Khuê trong chấp ủy Việt minh Nam Hà (nam Hà Tĩnh) liên lạc với một số đảng viên ở Kỳ Anh bàn việc xây dựng các tổ chức cứu quốc và đẩy mạnh hoạt động cứu nước.
Từ đó, phong trào quần chúng phát triễn rầm rộ, nhanh chóng dưới sự lảnh đạo của Việt Minh.
Đến ngày 18-8-1945, nhân dân Kỳ Anh nổi dậy cướp chính quyền.
[1] – Từ 31-12-1929 đảng Tân việt cải tổ, đổi thành Đông Dương cộng sản Liên đoàn, nhưng các đảng viên cơ sở vẫn hoạt động theo chủ trương cũ và với danh nghĩa tân Việt.
[2] – Trần Hữu Thiều (1906-1931) quê làng Dương Xuân, tổng Đặng Sơn, nay là xã Lĩnh Sơn-Anh Sơn-Nghệ An-còn có tên là Nguyễn Trung Thiên, sau bị Pháp bắt giam ở lao Hà Tĩnh rồi bị xử tử 11-2-1931 ở làng Phù Minh, Can Lộc.
[3] – Trần Hung quê Đúc Thọ, dạy học, thường gọi là giáo Hưng, sau bị Pháp bắt và xử tử.
[4] – “Theo lịch sử đảng bộ huyện Kỳ Anh” các chi bộ ấy là: 1-Chi bộ Duy Liệt có 8 đv, bí thư Đặng Hàm.2-chi bộ Dị Nậu có 3 đv, bí thư Nguyễn Trọng Bình, 3-chi bộ Cấp Dẫn có 9 đv, bí thư Dương Xuân Trạm, 4-chi bộ Tuần Tượng, có 8 đv, bí thư Lê Ngọc Triện, 5- chi bộ Hà Trung 5 đv, bí thư Nguyễn Qúy Yêm, 6-chi bộ Xuân Sơn, có 5 đv, bí thư Hoàng Thấu, 7-chi bộ Nhân Hiệu, 4 đv, bí thư Nguyễn Tế
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét