1.Vua Gia Long (1802-1819)
Vua Gia Long tên là Nguyễn Phúc Ánh (Anh), ngoài ra còn có tên là
Chủng và Noãn, con thứ 3 của Nguyễn Phúc Côn (Luân) và bà Nguyễn Thị
Hoàn. Nguyễn Phúc Ánh sinh ngày 15 tháng Giêng năm Nhâm Ngọ (8-2-1762).
Năm 1775, lợi dụng sự suy sụp của triều đình chúa Nguyễn do cuộc khởi
nghĩa Tây Sơn, quân Trịnh vào chiếm Phú Xuân khiến Nguyễn Phúc Ánh phải
trốn vào Nam. Từ đó ông bôn tẩu gian nan, tìm đủ mọi cách chiêu tập lực
lượng để giành lại vương quyền cho họ Nguyễn.
Năm 1792, vua Quang Trung mất, quân Tây Sơn ngày càng yếu và quân Nguyễn ngày càng lớn mạnh. Năm 1801, quân Nguyễn do Nguyễn Phúc Ánh chỉ huy đã đánh chiếm Quy Nhơn và chiếm Thuận Hóa.
Ngày 1-2-1802, Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi Hoàng đế ở Phú Xuân, lấy niên hiệu là Gia Long, chính thức lập nên triều đại nhà Nguyễn. (có nơi ghi là ngày 1-6)
Gia Long phái một đoàn sứ thần do Lê Quang Định làm chánh sứ sang nhà Thanh xin phong vương và đổi tên nước là Nam Việt. Nhà Thanh cho rằng tên Nam Việt sẽ lẫn lộn với tên nước của Triệu Đà (gồm cả Đông Việt và Tây Việt) nên đổi là Việt Nam.
Năm Giáp Tý (1804), án sát Quảng Tây là Tề Bồ Sâm được vua Thanh phái sang phong vương cho Gia Long và đặt tên nước là Việt Nam.
Lần đầu Gia Long quản lý một nước Việt Nam thống nhất từ Bắc chí Nam, từ Lạng Sơn đến Hà Tiên. Gia Long chia cả nước làm 23 trấn, 4 doanh. Từ Ninh Bình trở ra gọi là Bắc thành gồm 11 trấn (5 nội trấn và 6 ngoại trấn); từ Bình Thuận trở vào gọi là Gia Định thành gồm 5 trấn; ở quãng giữa là các trấn độc lập: Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Nghĩa, Bình Định, Phú Yên, Bình Hoà, Bình Thuận; đất kinh kỳ đặt 4 doanh: Trực Lệ Quảng Đức Doanh (tức Thừa Thiên), Quảng Trị doanh, Quảng Bình doanh, Quảng Nam doanh.
Để tránh lộng quyền, Gia Long không đặt chức Tể tướng, triều đình chỉ có 6 bộ: Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công do các Thượng thư đứng đầu có Tả hữu tham tri, Tả hữu thị lang giúp việc. Trong cung không lập ngôi Hoàng hậu, chỉ có Hoàng phi và các cung tần.
Năm 1815, bộ “Quốc triều hình luật” gồm 22 quyển với 398 điều luật đã được ban hành.
Gia Long đã giết hại hai công thần bậc nhất của triều Nguyễn lúc đó là Nguyễn Văn Thành và Đặng Trần Thường.
Con cả là Chiêu chết sớm, con thứ là Hoàng tử Cảnh đã từng theo Bá Đa Lộc sang Pháp cầu viện, về nước được lập làm Thái tử, năm 1801 bị bệnh đậu mùa rồi mất.
Con bà vợ thứ hai là Thuận Thiên Cao hoàng hậu họ Trần, người huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên, con gái Thọ Quốc Công Trần Hưng Đạt là Hoàng tử Nguyễn Phúc Đảm được tấn phong là Hoàng thái tử.
Ngày 19 tháng chạp năm Kỷ Mão (1820), Gia Long mất, thọ 59 tuổi, ở ngôi chúa 25 năm, ở ngôi vua 18 năm.
Gia Long có hai vợ chính và nhiều vợ khác, có 13 hoàng tử và 18 công chúa.
2. Minh Mạng (Nguyễn Phúc Đảm, 1820-1840)
Minh Mạng tên húy là Nguyễn Phúc Đảm, sinh ngày 23 tháng 4 năm Tân Hợi (25/5/1791), là con thứ 4 của Gia Long. Tháng giêng năm Canh Thìn (1820), thái tử Đảm lên ngôi vua, niên hiệu là Minh Mạng.
Minh Mạng có tư chất thông minh, hiếu học, năng động và quyết đoán. Minh Mạng đặt ra lệ: các quan ở Thành, Dinh, Trấn – văn từ Hiệp trấn, Cai bạ, Ký lục, Tham hiệp; võ từ Thống quản cơ đến Phó vệ úy… ai được thăng điện, bổ nhiệm… đều phải đến kinh đô gặp vua, để vua hỏi han công việc, kiểm tra năng lực và khuyên bảo.
Là người tinh thâm nho học, sùng đạo Khổng Mạnh, Minh Mạng rất quan tâm đến học hành, khoa cử, tuyển chọn nhân tài. Năm 1821 cho dựng Quốc Tử Giám, đặt chức Tế Tửu và Tư Nghiệp, mở lại thi Hội và thi Đình, trước 6 năm một khoa thi, nay rút xuống 3 năm.
Minh Mạng cũng rất quan tâm đến võ bị, nhất là thủy quân, nên đã sai người tìm hiểu cách đóng tàu của Châu Âu và ước vọng làm sao cho người Việt ta đóng được tàu kiểu Tây Âu và biết lái tàu vượt đại dương.
Minh Mạng đã cho hoàn chỉnh lại hệ thống đê điều ở Bắc Bộ, đặt quan khuyến nông, khai hoang ven biển Bắc Bộ lập thêm hai huyện Kim Sơn và Tiền Hải.
Về đối ngoại, Minh Mạng đặc biệt chú ý thần phục nhà Thanh, nhưng lại lạnh nhạt và nghi kỵ các nước phương Tây, do vậy đã kìm hãm quan hệ thông thương của đất nước.
Để bảo đảm đế nghiệp lâu dài cho mình và các con cháu, Minh Mạng đã thảo ra 11 bài thơ, trong đó một bài gọi là “Đế hệ thi” và 10 bài gọi là “Phiên hệ thi”, mỗi bài 4 câu, 20 từ, từ có nghĩa tốt, uyên bác dùng làm tiền từ cho 20 đời nối tiếp nhau kể từ Minh Mạng:
Bài thơ: “Đế hệ thi” có 4 câu, 20 từ:
Miên, Hường, Ưng, Bửu ,Vĩnh
Bảo, Quý, Định, Long, Trường
Hiền, Năng, Kham, Kế, Thuật
Thế, Thoại, Quốc, Gia, Xương.
Theo phép đặt tên đôi này, tất cả con trai của Minh Mạng đều phải có tiền từ “Miên” ghép với tên do gia đình đặt, tiếp đến con của thế hệ “Miên” là “Hường”… Cứ thế liên tiếp 20 từ là 20 thế hệ, Minh Mạng hy vọng đế nghiệp sẽ truyền lại cho 20 đời con cháu khoảng 500 năm. Nhưng triều Nguyễn chỉ thực hiện được đến từ thứ 5 “Vĩnh Thuỵ” (tức Bảo Đại) thì bị Cách mạng tháng 8 năm 1945 lật đổ.
Minh Mạng có rất nhiều vợ nên đã có 78 hoàng tử và 64 công chúa, tổng cộng 142 người con.
Tháng 12 năm 1840, Minh Mạng ốm nặng rồi mất vào ngày 20/1/1841, trị vì được 20 năm, thọ 51 tuổi.
3. Thiệu Trị (Miên Tông, 1841-1847)
Thiệu Trị tên húy là Phúc Tuyền sau đổi là Miên Tông, là con trưởng của Minh Mạng và mẹ là Thuận Đức Thần Phi Hổ Thị Hoa, sinh 11 tháng 5 Đinh Mão (1807).
Tháng Giêng năm Tân Sửu (1841) Miên Tông lên ngôi vua đặt niên hiệu là Thiệu Trị, lúc đó đã 34 tuổi.
Thiệu Trị lên ngôi cứ theo quy chế được sắp đặt từ thời Minh Mạng mà làm theo di huấn của cha.
Thiệu Trị cho đắp đê, đập chắn ngang cửa sông Cửu An.
Về đối ngoại, Thiệu Trị dàn xếp mối bang giao với Chân Lạp.
Về quan hệ với phương Tây, một số giáo sĩ bị bắt giam từ trước tại Huế, bị kết án tử hình, nay Thiệu Trị cho được tự do nhờ sự can thiệp của hải quân Pháp. Năm 1847, Pháp sai một đại tá, một trung tá đem hai chiến thuyền vào Đà Nẵng xin bỏ chỉ dụ cấm đạo và cho tự do tín ngưỡng. Hai bên đang thương lượng thì Pháp dùng đại bác bắn đắm tàu thuyền của Việt Nam đỗ bên cạnh rồi chạy ra biển.
Thiệu Trị vô cùng tức giận, lại ban thêm sắc dụ cấm người ngoại quốc giảng đạo và trị tội người trong nước đi đạo.
Tháng 9 năm 1847, Thiệu Trị bị bệnh rồi mất, ở ngôi được 6 năm, thọ 41 tuổi.
Thiệu Trị có 29 hoàng tử, 35 công chúa, tổng cộng 64 người con.
4. Tự Đức (Hồng Nhiệm, 1847-1883)
Tự Đức tên húy là Hồng Nhiệm, sinh ngày 25 tháng 8 năm Kỷ Sửu (1829) là con thứ hai của Thiệu Trị và bà Phạm Thị Hằng – con gái Thượng thư Bộ Lễ Phạm Đăng Hưng.
Tháng 10 năm 1847, Hồng Nhiệm lên ngôi vua, đặt niên hiệu là Tự Đức, lúc đó 19 tuổi.
Tự Đức ốm yếu nên ít đi kinh lý, do đó ít sát dân tình, ngày càng trở nên quan liêu.
Bù lại sự yếu kém sức khoẻ, Tự Đức lại rất thông minh và có tài văn học, thích nghiền ngẫm kinh điển Nho giáo, xem sách đến khuya. Tự Đức là một trong những người uyên bác về Nho học và Khổng học thời đó.
Tự Đức là người con rất có hiếu với mẹ là bà Từ Dũ. Tự Đức quy định ngày lẻ thì thiết triều, ngày chẵn vào chầu thăm mẹ, mỗi tháng 15 ngày thiết triều, 15 ngày vào hầu mẹ, khi vào hầu thì sửa mình, nén hơi, quỳ xuống hỏi thăm sức khoẻ, rồi cùng mẹ luận bàn kinh sách và sự tích xưa nay, nhất là chính sự. Bà Từ Dũ là người thuộc nhiều sử sách, biết nhiều chuyện cổ kim. Hễ mẹ nói gì là vua ghi ngay vào cuốn sổ nhỏ gọi là “Từ huấn lục”.
Tự Đức thiếu tính quyết đoán, thường dựa vào triều thần, bàn việc triều thần thì rất bảo thủ, do đó khi trên thế giới, khoa học và công nghiệp đã phát triển mạnh mẽ, các cường quốc đang cạnh tranh buôn bán ngày càng gay gắt, thì vua tôi chỉ lo việc nghiên bút, bàn đến Nghiêu, Thuấn, Hạ, Thương, Chu xa xưa làm tấm gương, nên Tự Đức “bế quan toả cảng” cấm buôn bán gay gắt.
Khi thành Gia Định (Sài Gòn) rơi vào tay Pháp, thì triều đình bó tay không có kế gì hay.
Nhiều người có con mắt nhìn xa thấy rộng như Phạm Phú Thứ (1864), Nguyễn Trường Tộ (1866), Đinh Văn Điền (1868), Nguyễn Hiệp (1867), Lê Đĩnh (1881)… dâng sớ điều trần xin nhà vua cải cách chính trị, kinh tế, quân sự… theo gương Nhật Bản, Thái Lan, Hương Cảng… và các nước phương Tây thì phái bảo thủ trong triều đình cho là nói nhảm, nên Tự Đức cũng không chấp thuận.
Do triều đình Huế ươn hèn như vậy nên phải ký hòa ước Quý Mùi (1883), rồi hòa ước Pa-tơ-nốt (1885), đất nước ta bị chia làm 3 kỳ (Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ) chịu sự bảo hộ của đế quốc Pháp, mở đầu thời kỳ Pháp đô hộ (1883-1945).
Ngày 16 tháng 6 năm Quý Mùi (1883) Tự Đức mất, trị vì được 35 năm, thọ 55 tuổi.
- Vua Dục Đức (1883, 3 ngày)
Vua Dục Đức tên là Nguyễn Phúc Ưng Ái, là con thứ 2 của Thụy Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Y và bà Trần Thị Nga. Ông sinh ngày 4 tháng 1 năm Quý Sửu (11-2-1853).
Năm 1869, lúc 17 tuổi được vua Tự Đức chọn làm con nuôi và đổi tên là Ưng Chân, cho xây Dục Đức Đường để ở và giao cho Hoàng Quý Phi Vũ Thị Duyên (sau này là Lệ Thiên Anh Hoàng hậu) trông coi, dạy bảo.
Vua Tự Đức mất để di chiếu truyền ngôi cho Ưng Chân, nhưng trong di chiếu có đoạn viết: “… Nhưng vì có tật ở mắt nên hành vi mờ ám sợ sau này thiếu sáng suốt, tính lại hiếu dâm cũng là điều chẳng tốt chưa chắc đã đảm đương được việc lớn. Nước có vua lớn tuổi là điều may cho xã tắc, nếu bỏ đi thì biết làm sao đây.”
Lúc làm lễ lên ngôi, Ưng Chân đã cho đọc lướt đoạn này nên 3 ngày sau hai Phụ chính Đại thần là Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường đã phế bỏ Dục Đức theo lệnh của Từ Dũ Thái hoàng Thái hậu (mẹ vua Tự Đức) và Lệ Thiên Anh Hoàng hậu (vợ vua Tự Đức).
Làm vua được 3 ngày chưa kịp đặt niên hiệu (Dục Đức chỉ là tên gọi nơi ở) thì Ưng Chân đã bị phế bỏ và giam vào ngục cho đến khi mất. Ông mất ngày 6 tháng 9 năm Giáp Thân (24-10-1884), thọ 32 tuổi.
Đến thời vua Thành Thái (con vua Dục Đức) vào năm 1892 đã truy tôn cha mình là Cung Tôn Huệ Hoàng đế.
Vua Dục Đức có 19 con (11 con trai và 8 con gái).
- Vua Hiệp Hòa (1883, 4 tháng).
Vua Hiệp Hòa tên là Nguyễn Phúc Hồng Dật, còn có tên là Thăng, con thứ 29 của vua Thiệu Trị và bà Đoan Tần Trương Thị Thuận, sinh ngày 24 tháng 9 năm Đinh Mùi (1-1-1847).Vua Dục Đức bị phế bỏ, Hồng Dật được đưa lên ngai vàng vào ngày 30 tháng 7 năm 1883, lấy niên hiệu là Hiệp Hòa.
Do có ý thân Pháp, vua Hiệp Hòa lên ngôi chưa được bao lâu thì bị
triều đình Huế phế bỏ và buộc uống thuốc độc tự vẫn vào ngày 30 tháng 10
năm Quý Mùi (29-11-1883).
Dưới thời Thành Thái vào năm 1891, ông được truy phong là Văn Lãng Quận vương.
Vua Hiệp Hòa có 17 người con (11 trai, 6 gái).
- Vua Kiến Phúc (1883-1884)
Kiến Phúc tên là Nguyễn Phúc Ưng Đăng, con thứ 3 của Kiên Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Cai và bà Bùi Thị Thanh. Ưng Đăng sinh ngày 2 tháng Giêng năm Kỷ Tỵ (12-2-1869). Năm 1870 lúc được 2 tuổi, Ưng Đăng được vua Tự Đức nhận làm con nuôi và giao cho bà Học Phi Nguyễn Thị Hương trông coi, dạy bảo.
Sau khi vua Hiệp Hòa bị phế truất, vào ngày 2-12-1883, Ưng Đăng (15 tuổi) được đưa lên ngôi vua và đặt niên hiệu là Kiến Phúc. Vua Kiến Phúc ở ngôi được 8 tháng thì mất vào ngày 10 tháng 6 năm Giáp Thân (31-7-1884) lúc mới 16 tuổi.
Sau khi mất, bài vị vua Kiến Phúc được đưa vào thờ trong Thế Miếu và có Miếu hiệu là Giản Tông Nghị Hoàng đế.
- Vua Hàm Nghi (1884-1885)*
Vua Hàm Nghi tên là Nguyễn Phúc Ưng Lịch, còn có tên là Minh. Ông là con thứ 5 của Kiên Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Cai và bà Phan Thị Nhàn, sinh ngày 17 tháng 6 năm Tân Mùi (3-8-1871).
Sau khi vua Kiến Phúc mất, ngày 12 tháng 6 năm Giáp Thân (2-8-1884) Ưng Lịch được đưa lên ngôi vua, đặt niên hiệu là Hàm Nghi lúc mới 14 tuổi.
Binh biến năm Ất Dậu (5-7-1885) xảy ra, vua Hàm Nghi cùng quần thần ra Tân Sở, phát hịch Cần Vương, phát động phong trào kháng Pháp trên toàn quốc. Quân Pháp nhiều lần kêu gọi nhà vua quay về nhưng thất bại. Ngày 30 tháng 10 năm 1888, tên Trương Quang Ngọc (người hầu của vua) bị Pháp mua chuộc nên đem người bắt vua Hàm Nghi dâng cho Pháp.
Vua Hàm Nghi bị quân Pháp bắt đi đày ở Algérie vào ngày 13 tháng 1 năm 1889. Nhà vua sống ở đó cho đến lúc mất (4-1-1943), thọ 72 tuổi.
Vua Hàm Nghi có 3 người con (1 trai, 2 gái).
- Vua Đồng Khánh (1886-1888)
Vua Đồng Khánh tên là Nguyễn Phúc Ưng Thị, còn có tên là Đường và Biện. Ông là con trưởng của Kiên Thái Vương Nguyễn Phúc Hồng Cai và bà Bùi Thị Thanh, sinh ngày 12 tháng Giêng năm Giáp Tý (19-2-1864). Năm 1865 lúc được 2 tuổi, Ưng Thị được vua Tự Đức nhận làm con nuôi và giao cho bà Thiện Phi Nguyễn Thị Cẩm chăm sóc, dạy bảo.
Sau binh biến năm 1885, vua Hàm Nghi bỏ ngai vàng ra Tân Sở, triều đình Huế thương lượng với Pháp đưa Ưng Đường lên ngôi, đặt niên hiệu là Đồng Khánh.
Ở ngôi được 3 năm, vua Đồng Khánh bệnh và mất vào ngày 27 tháng 12
năm Mậu Tí (28-1-1889) lúc được 25 tuổi.Sau khi mất, bài vị vua Đồng
Khánh được đưa vào thờ trong Thế Miếu và có Miếu hiệu là Cảnh Tông Thuần
Hoàng đế.
Vua Đồng Khánh có 10 người con (6 trai, 4 gái).
- Vua Thành Thái (1889-1907)
Vua Thành Thái tên là Nguyễn Phúc Bửu Lân, còn có tên là Chiêu, con thứ 7 của vua Dục Đức và bà Từ Minh Hoàng hậu (Phan Thị Điểu), sinh ngày 22 tháng 2 năm Kỷ Mão (14-3-1879).
Vua Đồng Khánh mất, triều đình Huế được sự đồng ý của Pháp đã đưa Bửu Lân lên ngôi vào ngày 1 tháng 2 năm 1889 với niên hiệu là Thành Thái, lúc mới 10 tuổi.
Vua Thành Thái là người có tư tưởng tiến bộ (cắt tóc ngắn, lái ô tô, xuồng máy) và có tư tưởng chống Pháp. Vì vậy, sau 19 năm ở ngôi, dưới áp lực của Pháp, triều đình Huế lấy cớ nhà vua mắc bệnh tâm thần và buộc phải thoái vị. Sau đó, ông bị Pháp đưa đi an trí ở Vũng Tàu. Năm 1916, ông bị Pháp đem đi đày ở đảo Réunion (Châu Phi).
Năm 1947, ông được trở về sống ở Sài Gòn cho đến khi mất. Ông mất ngày 9 tháng 3 năm 1955, thọ 77 tuổi.
Vua Thành Thái có 45 người con (19 trai, 26 gái).
- Vua Duy Tân (1907-1916)
Vua Duy Tân tên là Nguyễn Phúc Vĩnh San, còn có tên là Hoảng, con thứ 5 của vua Thành Thái và bà Nguyễn Thị Định, sinh ngày 26 tháng 8 năm Canh Tý (19-9-1900).
Năm 1907, vua Thành Thái thoái vị, triều đình Huế đưa Hoàng tử Vĩnh San lên ngôi, lấy niên hiệu là Duy Tân lúc mới được 8 tuổi.
Vua Duy Tân là vị vua lên ngôi nhỏ tuổi nhất trong 13 vua Nguyễn. Tuy nhiên nhà vua lại là người chững chạc, có khí phách của một bậc đế vương. Cũng như cha mình, vua Duy Tân là người có tư tưởng chống Pháp. Nhà vua đã cùng với Thái Phiên, Trần Cao Vân… vạch định cuộc nổi dậy chống Pháp vào ngày 3 tháng 5 năm 1916. Nhưng âm mưu bại lộ, nhà vua cùng Thái Phiên và Trần Cao Vân trốn ra khỏi Kinh Thành. 3 ngày sau, vua Duy Tân bị Pháp bắt và bị kết tội rồi đày sang đảo Réunion.
Nhà vua mất ngày 21 tháng 11 năm Ất Dậu (25-12-1945) trong một tai
nạn máy bay khi được 46 tuổi. Nhà vua được an táng tại nghĩa trang Thiên
Chúa Giáo M’Baiki, thuộc Cộng Hòa Trung Phi. Ngày 6 tháng 4 năm 1987,
nhà vua được cải táng trong khuôn viên của An Lăng (Lăng Dục Đức).
Vua Duy Tân có 5 người con (3 trai, 2 gái)
- Vua Khải Định (1916-1925)
Vua Khải Định tên là Nguyễn Phúc Bửu Đảo, còn có tên là Tuấn, con trưởng của vua Đồng Khánh và bà Dương Thị Thục (Hựu Thiên Thuần Hoàng hậu), sinh ngày 1 tháng 9 năm Ất Dậu (8-10-1885).
Vua Đồng Khánh mất, Hoàng tử Bửu Đảo còn ít tuổi (4 tuổi) nên không được chọn làm vua. Đến năm 1916, sau khi vua Duy Tân bị Pháp đưa đi đày ở Réunion, triều đình Huế và người Pháp mới lập Bửu Đảo lên ngôi vua vào ngày 18-5-1916, lấy niên hiệu là Khải Định. Vua Khải Định ở ngôi được 10 năm thì bị bệnh nặng và mất vào ngày 20 tháng 9 năm Ất Sửu (6-11-1925), thọ 41 tuổi.
Sau khi chết, bài vị nhà vua được đưa vào thờ trong Thế Miếu và có Miếu hiệu là Hoằng Tông Tuyên Hoàng đế.
Vua Khải Định chỉ có một con trai là Hoàng tử Vĩnh Thụy (vua Bảo Đại).
- Vua Bảo Đại (1926-1945)
Vua Bảo Đại tên là Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy, ngoài ra còn có tên là Thiển. Ông là con độc nhất của vua Khải Định và bà Hoàng Thị Cúc (bà Từ Cung), sinh ngày 23 tháng 9 năm Quý Sửu (22-10-1913).
Hoàng tử Vĩnh Thụy được đưa sang Pháp học lúc mới 10 tuổi, đến khi
vua Khải Định qua đời, ông về Huế lên ngôi vua vào ngày 8 tháng 1 năm
1926, lấy niên hiệu Bảo Đại, đây là vị vua cuối cùng của triều Nguyễn.
Sau đó, ông lại tiếp tục sang Pháp học cho đến 8-9-1932 mới trở về Huế.
Vua Bảo Đại ở ngôi cho đến 30 tháng 8 năm 1945 thì làm lễ thoái vị tại
Ngọ Môn, giao chính quyền lại cho Chính phủ Cách mạng Lâm thời.
Chế độ phong kiến chấm dứt, Bảo Đại sang Pháp và sống hết cuộc đời của vị vua lưu vong ở đó.
Ông mất ngày1 tháng 8 năm 1997 tại Pháp.
Vua Bảo Đại có 5 người con (2 trai, 3 gái).
*********************
Như vậy, Lịch sử nhà Nguyễn từ triều Gia Long tới Thiệu Trị là 40 năm tương đối ổn định, không có biến cố gì lớn và vùng đất Kỳ Hoa – Kỳ Anh cũng vậy.
Cuối đời Thiệu Trị bắt đầu xuất hiện yếu tố người Pháp gây hấn ở cửa biển Đà Nẵng từ 1847,
17-2-1859, thành Gia Định thất thủ, thực dân Pháp chính thức đặt chân lên đất nước ta.
Do triều đình Huế ươn hèn nên phải ký hòa ước Quý Mùi (1883), rồi hòa ước Pa-tơ-nốt (1885), đất nước ta bị chia làm 3 kỳ (Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ) chịu sự bảo hộ của đế quốc Pháp, mở đầu thời kỳ Pháp đô hộ (1883-1945).
Sau khi ký Hòa ước Pa-tơ-nốt (1885), năm sau 1886 thực dân Pháp đã có mặt tại Hà Tĩnh
Nhựng 10 năm sau (1896) Pháp mới bình định được mảnh đất Kỳ Anh và thiết lập chế độ bảo hộ[1].
Huyện Kỳ Anh vẫn là một đơn vị hành chính như trước và do chính quyền Nam triều trực tiếp cai trị với bộ máy như cũ. Đứng đầu vẫn là Tri huyện đặt dưới quyền Tuần phủ. Các viên chức huyện đường cũng không thay đổi. Riêng về học chính, sau khi bỏ Hán học (1919) thì huyện không còn chức Huấn đạo nữa.
Nhưng sau khi triều đình Huế đặt Bộ Quốc gia giáo dục để quản lý bậc giáo dục tiểu học mà chính quyền Pháp giao lại, huyện lại đặt Huấn đạo, dưới quyền Đốc học.
Các ngành kinh tế, xã hội, tài chính, binh bị đều do chính quyền bảo hộ Pháp-đại diện là công sứ Pháp ở tỉnh-nắm.
Ở huyện có một trạm thuế quan (ở huyện lỵ), một đồn kiểm lâm, các trạm y tế (ở huyện lỵ và ở Tuần Tượng), một sở điện báo (ở huyện lỵ), và các trạm bưu chính (ở huyện lỵ, Tuần Tượng, Thần Đầu)…
Về tài chính, các thứ thuế đinh, thuế điền, thuế chợ do chính quyền Nam triều đôn đốc thu rồi nộp lên tỉnh, nhưng do chính quyền bảo hộ quản lý. Thuế gỗ và lâm sản (do đồn kiểm lâm thu) và các khoản thu khác như bưu chính, y tế, thú y…cũng đều do chính quyền Pháp nắm.
Về binh bị, theo tài liệu của Pháp thì khi đặt xong quyền đô hộ, số lính cảnh vệ chỉ đóng đồn ở tỉnh (83 người) và ở Linh Cảm, Phúc Trạch, Kim Cương, Nhận Xá.
Đến trước năm 1930, số lính cảnh vệ (khố xanh) tăng lên nhiều (559 người Việt, 13 người Âu do 1 chánh thanh tra chỉ huy toàn lữ (giám binh).
Ở Kỳ Anh (và các huyện) có đồn khố xanh do một phó thanh tra người Pháp làm đồn trưởng.
Trong thời kỳ 1930-1931, Pháp còn đặt thêm 2 đồn ở Tuần Tượng và Xuân Sơn. Lại đặt Bang Tá với một toán lính và các tổng đoàn, xã đoàn lo việc tuần tiểu, canh phòng.
Dưới huyện, từ cuối đời Lê, đầu đời Nguyễn đã đặt thêm tổng. Tổng là đơn vị trung gian giữa phủ, huyện và thôn…, làm nhiệm vụ thi hành, Tri huyện đôn đốc, xã, thôn thi hành công vụ.
Tổng có chánh tổng (trước gọi là cai tổng), và phó tổng đứng đầu. Chánh, phó tổng do lý hương, hào mục các xã, thôn bầu cử rồi do Tuần phủ duyệt y, cấp bằng.
Xã, thôn có Lý trưởng (trước gọi là xã trưởng), phường, vạn (trước có phường trưởng, vạn trưởng) sau đều gọi là Lý trưởng. Xã lớn có thêm phó lý, giúp việc lý trưởng có ngũ hương:
– Hương bộ: coi việc sổ sách đinh, điền của làng (năm 1930 có đặt thêm các chức tri bộ để coi việc ghi sổ sinh, tử, giá thú, nhưng có xã do hương bộ kiêm nhiệm).
– Hương bản: coi việc tài chính, giữ quỹ làng.
– Hương kiểm: coi việc đường sá, canh phòng (1931 thêm Tuần trấp, bang tá)
– Hương mục: coi việc đình, từ, tế lễ (ở đây theo “Địa dư Hà Tĩnh”), có tài liệu chép: Hương mục coi về kiều lương đạo lộ (cầu cống, đường sá)?
– Hương dịch: coi việc phu phen, truyền tin tức…
Bên cạnh lý hương, từ nắm 1931 còn có Hội đồng đại hào mục, gồm những người cao tuổi, có chức tước (như hưu quan, người được phong sắc, cựu tổng, lý…) và những người có hiểu biết, được tín nhiệm…Hội đồng tuy không thực chức nhưng có tiếng nói quan trọng, giữ vai trò quyết định mọi việc của làng, xã, lý hương chỉ là kẻ thừa hành. (Hội đồng này thời cuối gọi là Ban)
Để kiểm soát thật chặt chẽ, ngăn chặn sự chống đối của nhân dân, chính quyền Pháp còn đặt thêm “Hội đồng tộc biểu” gồm tộc trưởng hoặc đại diện uy tín nhất trong các họ, giao cho họ trách nhiệm giáo dục con em không được tham gia các phong trào, hoạt động cách mạng.
Về vai trò của lý hương, hào mục, một tài liệu của Tòa công sứ Hà Tĩnh đánh giá “Họ là những đại lý bắt buộc đứng giữa dân chúng và chính phủ. Nhiệm vụ của họ là rất quan trọng. Chính là dựa vào họ, vào tác dụng và bản chất của họ, nên trước hết mọi thể lệ và quy chế xã hội đều thực hiện được tốt, nền phúc lợi và an ninh của dân cư phần lớn đều tùy thuộc họ mà có, nhất là các vùng nông thôn hẻo lánh”[2].
[1] -Công sứ Pháp đầu tiên ở Hà Tĩnh là Đa-mát ( Đamade) đến nhận việc vào tháng 10-1897.
[2] – Sách “Kỳ Anh phong thổ ký” chép: “…các xã, thôn như Trảo Nha, Long Trì thuộc tổng Đậu Chử, Tuần Tượng, Yên hạ, Xuân Cẩm thuộc tổng Cấp Dẫn đều có sang kiến lập kho nghĩa thương, hoặc thu trữ sương túc, hoặc khuyến khích các nhà giàu có trong vùng cúng vào quỹ nghĩa thương. Lúa nghĩa thương có sổ sách ghi chép cẩn thận từng khoản, từng mục, do lý trưởng, hương hộ coi quản cho vay thu lãi, gặp năm đói kém thì xuất lúa ấy cho dân vay tạm, hoặc trích ra giúp đỡ vào sưu ích, làm lợi cho dân…”
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét