2.1. Những biến động từ thời cổ đại đến năm 1841
Thời xa xưa, xứ Nghệ (Nghệ Tĩnh) được coi là miền đất biên
viễn, mà Kỳ Anh là điểm cuối cùng (điểm mút) của Xứ Nghệ, lại càng xa
xôi, hẻo lánh với mọi người.
Ngô Thời Nhậm (1746-1803) trong bài thơ “Dinh Cầu hữu cảnh” viết:
“Sự tích Hà Trung thị cực biên
Đàm đàm sư mạc khống thanh thiên
Chinh già suy tán thiên trì lãng
Thú cổ xao tàn hỏa hiện yên”…
Dịch nghĩa:
Từ xưa, đất Hà Trung là biên giới tận cùng
Thăm thẳm trại quân khống chế bờ cõi
Kèn trận thổi tan cả sóng biển
Trống canh khua lụi khói hỏa hiệu….
Mấy câu thơ trích trên không chỉ nói lên Kỳ Anh xưa là vùng đất tận cùng mà còn nhắc đến cả quá trình lịch sử là vùng đất chiến địa, thường xuyên sôi động vì các cuộc chiến tranh.
Cách đây trên dưới 5000 năm, con người đã sinh sống nhiều nơi ở Nghệ Tĩnh từ miền núi tới miền biển. Các bộ lạc miền núi chuyên bắt ốc ở sông, suối và săn bắn, các bộ lạc miền biển sống bằng sò điệp nước mặn và đánh cá…Nghề nông nguyên thủy dần dần bắt đầu phát triễn…
Nhờ sự phát triễn của nông nghiệp trồng lúa , các bộ lạc văn hóa Bàu Tró[1] đã có thể sống trên nhiều địa hình khác nhau…chứ không chỉ bám vào vùng ven biển như các bộ lạc văn hóa Quỳnh Văn[2] nữa…
Nghệ Tĩnh là vùng đất có nhiều di tích văn hóa Đông Sơn[3]. Khi nghề đúc đồng đã cực thịnh với nền văn hóa Đông Sơn rực rỡ trên đất Nghệ Tĩnh thì nghề luyện sắt và nghề chế tác sắt cũng có từng bước phát triễn đáng kể.
Các nhà khảo cổ học đã phát hiện được ở Hà Tĩnh hàng loạt di chỉ đá mới ( Phái Nam, Rú Trò, Thạch Lạc-Thạch Hà, Cẩm Thành-Cẩm Xuyên, bãi Phôi Phối-Nghi Xuân, Rú Dầu-Đức Thọ, …), di chỉ đồng (Xuân An-Nghi Xuân, Đức Đồng-Đức Thọ…), dấu vết lò luyện sắt (Xuân Giang-Nghi Xuân)…Nhưng đến nay chưa có một tài liệu khoa học nào cho ta biết trên địa bàn huyện Kỳ Anh ngày nay có người tiền sử sống hay không.
Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể nghĩ rằng, ít ra là vào giai đoạn văn hóa Đông Sơn-Thời các vua Hùng-con người đã cư trú hoặc qua lại nơi đây để hái lượm, săn bắt ở bờ biển và trong những cánh rừng.
Nhưng nếu quả giai đoạn này có người sinh sống ở đây thì các biến động lớn của xã hội như cuộc tranh chấp Hùng Vương-Thục Phán cũng chưa liên liên quan gì đến họ.
Suốt nghìn năm Bắc thuộc, sử sách cũng ghi chép rất ít các sự kiện lịch sử liên quan đến vùng đất Kỳ Anh.
Sự kiện đầu tiên được “Đại Việt sử ký toàn thư” (ngoại kỷ-quyển IV-kỷ nhà Tiền Lý), chép là vào năm Qúy Hợi (năm thứ 3-tiền Lý Nam đế, năm thứ 9 niên hiệu Đại Đồng nhà Lương-543): “ Mùa hạ, tháng 4, vua Lâm Ấp cướp quận Nhật Nam, vua sai tướng là Phạm Tu đánh tan ở quận Cửu Đức”. Sách “Trần Thư” quyển 1 Bản kỷ 1(của Trung Quốc) cũng chép một sự kiện: “ Năm ấy, Thái Thanh năm thứ nhất (547), anh Lý (Bôn), (tức Lý Nam Đế, còn đọc là Lý Bí) là Thiên Bảo trốn vào Cửu Chân cùng với tướng cướp là Lý Thiên Long thu thập dư binh được hai vạn, giết thứ sử Đức Châu là Trần Văn Giới, tiến vây Ái Châu…”.
Lúc này vùng đất Kỳ Anh hiện nay thuộc Cửu Đức, rồi Đức Châu, song không chắc các hoạt động của tướng Phạm Tu, của Lý Thiên Bảo, Lý Thiên Long đã diễn ra ở đây.
Còn sự kiện dưới đây xảy ra năm Ất Sửu (605). Sau khi nhà Tùy diệt nước Vạn Xuân rồi đánh thắng nhà Hậu Lý (603), năm 605 Tùy Dạng đế Quảng sai Lưu Phương làm Hoan Châu đạo hành quân tổng quản, đi đánh nước Lâm Ấp để cướp của cải. Sử chép: “ Mùa xuân, tháng giêng…Phương sai bọn Thứ sử Khâm Châu Ninh Trưởng Chân đem hơn một vạn quân bộ và quân kỵ mã, xuất từ Việt Trường (vùng Đức Thọ bây giờ-Thái Kim Đỉnh chú). Phương thân xuất lãnh bọn đại tướng quân Trương Tốn đem thủy quân xuất từ quận Tỵ Ảnh[4]. Tháng ấy quân đến cửa Hải Khẩu.
Trước đó, năm thứ 2 niên hiệu Vĩnh Hòa nhà Tần (346) vua Lâm Ấp là Phạm Văn chiếm toàn bộ đất quận Nhật Nam và nói với thứ sử Giao Châu ( của nhà Tần) đòi lấy Hoành Sơn làm biên giới. Có lẽ Hoành Sơn làm biên giới Việt-Chiêm từ đây[5]. Người Lâm Ấp bèn xây lũy đá trên núi, kéo dài từ Ngưu Sơn-Thần Đầu lên đến Xuân Sơn-Vọng Liệu, dài khoảng 30km.
Bị tướng nhà Tùy đánh đuổi phải lùi vào phía nam, nhưng đến đời Đường, người Lâm Âp lại lấn ra đến Hoành Sơn. Sau đó nhiều lần bị đẩy lùi rồi lại đánh thắng, giữ đất Nhật Nam…Không chỉ có thế, từ đời thuộc Tấn, Tùy đến thời thuộc Đường, người Lâm Ấp-Chiêm Thành còn nhiều lần đánh ra, chiếm đóng cả phía bắc Hoành Sơn.
Sử chép: Năm Kỷ Hợi (399), mùa xuân tháng ba, vua nước Lâm Ấp là Phạm Hồ Đạt đánh lấy Nhật Nam và Cửu Chân rồi cướp Giao Châu. Đỗ Viên, tướng nhà Tấn đánh phá được.
Năm Tân Mùi ( 431) vua nước Lâm Ấp là Phạm Dương Mại cướp quận Cửu Chân, năm 432 lại xin vua nhà Tống cho lĩnh (để cai trị) Giao Châu nữa.
Năm Qúy Mùi (803), quân Hoàn Vương đánh chiếm hai châu Hoan, Ái, đặt người cai trị cho đến năm Mậu Tý (808) mới bị tướng nhà Đường là Trương Chu đẩy lùi vào đến gần đèo Hải Vân.
Những lần người Chăm-Pa đánh ra bắc Hoành Sơn thì Kỳ Anh là nơi đầu tiên bị quân Chăm-Pa và quân xâm lược Trung Quốc tàn phá.
Năm Ất Tỵ (875), người Chăm-Pa đóng đô ở Indrapua (Đồng Hương-Quảng Nam), nhân khi nhà Đường suy đồi, mất (936) ở Trung Quốc nam-bắc phân tranh, khoảng 907-910 người Chăm-Pa đánh qua và chiếm hẳn vùng đất phía bắc Hoành Sơn, ra tận núi cửa Sót (tức núi Quỳnh Viên, cũng gọi là núi Long Ngâm). Vùng đất này bị sát nhập vào Chăm-Pa, do người Chăm-Pa đặt quan cai trị.
Địa giới phía bắc vùng đất này, theo một số tài liệu là dọc phía nam sông Ngàn Mọ từ Bạch Thạch (Cẩm Xuyên) xuống cầu Phủ, cửa Sót (Thạch Hà) bây giờ, dài khoảng 15km đường chim bay. Phía tây đường hào tự nhiên này, người Chăm-Pa đã xây dựng thành lũy. Ở vùng Cẩm Thạch-Cẩm Xuyên bây giờ hiện vẫn còn dấu vết thành và bức lũy dài khoảng 3km, thường gọi là thành Chàm. Phía đông là núi Sót. Vì vậy núi này mới có tên là “Nam Giới”. Ngày nay ở phía nam núi Nam Giới có hai ngọn núi nhỏ ở địa phận xã Thạch Đỉnh gọi là hòn Mốc (chữ Hán phiên âm là hòn Mộc Sơn, hay ghi là Hữu Nam giới)
Trong nước, dưới hai triều đại Ngô-Đinh (939-980), do có nhiều cuộc tranh chấp nội bộ và phải đề phòng nạn xâm lược từ phía bắc nên vùng biên giới phía nam không được chú ý nhiều.
Mãi đến năm Tân Tỵ (981), sau khi đánh thắng quân nhà Tống, vua Đại Hành mới cất quân đánh Chiêm Thành, giải phóng vùng đất từ Nam Giới đến Hoành Sơn, và đẩy lùi người Chiêm Thành vào tận Quảng Nam.
Không có tài liệu nào nói về 70 năm người Chăm-Pa ở vùng đất nam Hà Tĩnh, từ cuối Thạch Hà đến Kỳ Anh ngày nay. Nhưng việc cai trị chắc là lỏng lẻo, theo kiểu đóng đồn binh chứ không có tổ chức hành chính quy củ. Đến nay ngoài dấu vế thành Chàm ở Cẩm Thành, không thấy dấu vết thành lũy nào khác. (chú: Ở vùng Kỳ Anh, không kể trên Hoành Sơn, còn có một số nơi như ở Mũi Đao còn dấu vết thành lũy cổ nhưng không rõ có phải từ thời người Chăm-Pa chiếm đóng hay không). Nhưng chắc chắn người Chăm-Pa có tổ chức khai thác tài nguyên ở đây. Như lấy trầm hương, ngọc trai, săn voi, tê ngưu, gỗ đóng thuyền,…và sử dụng cửa Nhượng, cửa Khẩu đóng quân, tiếp tế.
Đến nay chúng ta cũng chưa có điều kiện tìm hiểu ảnh hưởng của văn hóa Chàm trong tôn giáo, ngôn ngữ, sinh hoạt, làm ăn của người dân Kỳ Anh và Hà Tĩnh.
Từ đây, vùng đất Hà Hoa-Kỳ Anh được các triều đại Lê, Lý, Trần, Hồ quan tâm cũng cố để bảo vệ cương giới phía nam Đại Việt:
Mùa thu, tháng tám năm Nhâm Thìn (992), vua Đại Hành sai phụ quốc là Lê Tử An đem ba vạn người đi mở đường bộ từ cửa Nam Giới đến Châu Đại Lý (Quảng Bình bây giờ). Đây là con đường xuyên quốc gia đầu tiên đi qua đất Kỳ Anh.
Đời Lý, vào năm Ất Sửu (1025) vua Lý Thái Tổ “xuống chiếu lập trại Định Phiên ở nam giới thuộc Châu Hoan, cho Quản Giáp là Lý Thai Giai làm trại chủ”. Trại Định Phiên ở nam giới Châu Hoan tức là Kỳ Anh ngày nay. Trại Định Phiên là một đồn binh lớn đầu tiên đặt ở đây để bảo bệ biên giới phía nam của đất nước. Vị trí trại ở đâu, giờ chưa rõ.
Dưới hai triều đại Lý, Trần, triều đình luôn chú trọng đến vùng biên giới phía nam, ngoài việc cử các hoàng tử tài năng như Lý Nhật Quang, Trần Quang Khải…và các quan lại giỏi, đáng tin cậy vào cai quản, lại luôn tăng cường binh bị, cũng cố các đồn, ải, lập kho lương, mở đường sá…(năm 1375, sửa, đắp đường sá từ Cửu Chân (Thanh Hóa) đến Hà Hoa, ba tháng thì xong. Năm 1402 sửa đường từ Tây Đô (Thanh Hóa) đến Châu Hóa (Thừa Thiên), gọi là đường thiên lý). Quan quân ở đây phải thường xuyên canh phòng, chống người Chăm-Pa ra cướp phá, bắt người.
Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên-Mông lần thứ 2 (1285), để đề phòng quân giặc từ trong đánh ra, vua Trần sai Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật, người vừa vượt qua vòng vây giặc ở Nghệ An gấp rút vào trấn giữ Nghệ An. Sau đó, theo lời của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, nhà vua lại cử thêm Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải vào tăng viện.
Cuối tháng giêng năm Ất Dậu (2-1285), Đại vương Giảo Kỳ, Hữu thừa Toa Đô, Tả Thừa Tang-gu-tai, Tham chính Kê-đê từ Chiêm Thành đánh vào phủ Bố Chính (vùng Quảng Trạch, Bố Trạch-Quảng Bình hiện nay) rồi tiến ra trấn Nghệ An.
Ngày rằm tháng giêng âm lịch (20-2-1285) Trần Nhật Duật, Trịnh Đình Toản từ Bạch Hạc (Phú Thọ) xuất phát, vào đến nơi thì gặp quân Nguyên, trận đánh ác liệt xảy ra ở đèo Ngang, trên đất Kỳ Anh. Nhưng lúc này đội quân của Trần Quang Khải (ra đi từ ngày 28-1(al), tức ngày 5-3-1285) chưa vào kịp. Trần Nhật Duật và Trịnh Đình Toản do lực lượng ít không chống nổi gần 50 vạn quân địch đã phải rút lui. Quân Nguyên ồ ạt kéo qua cửa quan Đèo Ngang[6], ra lấy Diễn Châu, Thanh Hoa.
Tháng ba năm Giáp Dẩn (1374) vua Duệ Tông nhà Trần xuống chiếu cho Thanh-Nghệ đào sông, đoạn cuối là Kinh Hạ, nối sông Rác tới cửa Khẩu. Từ đây, thuyền bè từ Bắc Hà vào Tân Bình, Thuận Hóa không phải ra cửa Nhượng mà đi đường sông ra cửa Khẩu.
Tháng Chạp, năm Bính Thìn (1376) Duệ Tông đi đánh Chiêm Thành, lần đầu tiên đoàn chiến thuyền theo sông Kinh Hạ ra cửa Khẩu này.
Sử còn chép:”Tháng giêng năm Qúy Hợi (1383) Hồ Qúy Ly đem quân đi đánh Chiêm Thành. Bấy giờ mới đóng chiến thuyền lớn, có các hiệu thuyền Diễm Dã, Ngọc Đột, Nha Tiệp. Thuyền đi đến vùng Lại bộ nương loan và Ô-tôn bị song gió hư hỏng, lại trở về” “Lại bộ nương loan” tức cửa biển Hà Hoa (cửa Khẩu), “Ô-tôn” là mũi Dòn (Ròn) ở Kỳ Anh[7].
Cửa Nương Loan là gọi theo truyền thuyết về nàng Nguyễn Thị Bích Châu, cung phi vua Trần Duệ Tông, theo vua đi đánh Chiêm Thành năm Đinh Tỵ (1377) chết đuối ở đây, hiện vẫn còn đền thờ ở cửa Khẩu, xưa thường gọi là đền Hải Khẩu, dân gian quen gọi là đền Bà Hải, nhiều sách chép là đền Loan Nương.(nàng con gái ở vùng biển)
Để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống nhà Minh, nhà Hồ lại rất chú trọng đến vùng Hoan-Diễn đến Thuận Hóa. Ngoài việc bố trí lực lượng quân sự, sửa sang thành lũy, họ Hồ cũng rất quan tâm đến lương thảo, thuyền bè, đường sá. Các thành lũy, kho tàng ở vùng Kỳ Anh đều được sửa sang lại.
Tháng ba năm Nhâm Ngọ (1402), Hồ Hán Thương sai sửa đường sá ở thành Tây Đô (Thanh Hóa), đến Châu Hóa gọi là đường thiên lý. Dọc đường đặt phố xá và trạm chạy giấy…nhưng nhà Hồ đã mất quá sớm.
Tháng 5 năm Đinh Hợi (1407), ngày mồng năm quân Minh đánh cửa biển Kỳ La (Cửa Nhượng), Nguyễn Đại bắt được hữu tướng quốc là Qúy Tỳ và con là Nguyên Cửu.
Ngày 11, quân Minh đánh vào Vĩnh Ninh, bọn Vương Sài Hồ bắt được Hồ Qúy Ly ở gềnh Chảy Chảy (?), Lý Bảo bắt được Tể tướng quốc Hồ Nguyên Trừng ở cửa biển Kỳ La.
Ngày 12, bọn Nguyễn Như Khanh bắt được Hồ Hán Thương và Thái tử Nhuế ở núi Cao Vọng[8].
Trong cuộc kháng chiến của nhà Hậu Trần do Trần Qúy Khoáng (Trùng Quang đế) lảnh đạo, và trong cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Biên ở Động Choác, đất Kỳ Anh luôn được coi là hiểm yếu, là chổ dựa.
Theo “Việt kiệu thư”, “Tháng 10-1412, Trương Phụ đã dùng chiến thuyền vào tận cửa biển Hà Hoa (cửa Khẩu), nhưng vừa lúc ấy có gió bão to, phải lui quân về thành Nghệ An (Lam Thành). Lúc phải chạy vào Châu Hóa “ nghĩa quân cho rằng cửa biển Hà Hoa gần núi Thành Sơn có địa thế hiểm yếu, quân địch khó vượt qua, nên lập đồn lũy ở cửa biển Nhật Lệ (Đồng Hới-QB) để phòng thủ”.
Nhưng tháng 8-1413 Trương Phụ đã đem chiến thuyền từ biển Kỳ La (cửa Nhượng) vượt biển qua cửa Hà Hoa đánh thẳng vào các đòn lũy nghĩa quân ở Nhật Lệ…
Mười năm sau, dân hai huyện Kỳ La, Hà Hoa châu Nam Tĩnh (Cẩm Xuyên-Kỳ Anh) đã đứng dưới cờ khởi nghĩa của Nguyễn Biên[9], tự giải phóng mình khỏi ách đô hộ của người Minh, trước khi nghĩa quân Lam Sơn của Bình Định vương Lê Lợi vào lập căn cứ ở Hương Sơn (1425).
Tuy từ đời Trần đến đời thuộc nhà Minh, đất Kỳ Anh bây giờ đã thuộc huyện Hà Hoa (thuộc lộ Nghệ An nam, rồi châu Nam Tĩnh), có chức lệnh úy, chủ bạ đứng đầu, và ở cơ sở có xã quan, nhưng việc cai quản còn lỏng lẽo. Từ đời Lê, triều đình mới thực sự nắm chắc từ huyện đến xã.
Đầu đời Lê (1428), sau khi Lê Lợi đánh tan quân Minh, lên ngôi vua (Lê Thái Tổ), đất Kỳ Anh vẫn là huyện Hà Hoa, đứng đầu có chuyển vận sứ và Tuần sát, ở xã vẫn đặt là xã quan (xã lớn 3 người, xã vừa 2 người, xã nhỏ 1 người)
Đời Lê Thánh Tông đặt phủ Hà Hoa, sát nhập hai huyện Kỳ La (đất Cẩm Xuyên) và Hà Hoa (đất Kỳ Anh) thành huyện Kỳ Hoa, cùng huyện Thạch Hà đặt dưới phủ Hà Hoa. Chức chuyển vận sứ đổi làm chức Tri huyện, chức Tuần sát đổi thành Huyện thừa, xã quan thành xã trưởng.
Từ đó đến đầu đời Nguyễn vẫn không có gì thay đổi.
Sự việc quan trọng đầu tiên xảy ra trên đất Kỳ Anh dưới triều Lê là đoàn thuyền chiến “Tây chinh” của vua Lê Thánh Tông đi về qua đây vào những năm (1470-1471).
Tập thơ “ Tây chinh kỷ hành” – ghi việc đi đánh Chiêm Thành- với những lời chú thích là nhật ký ghi hoạt động của nhà vua trên đất Kỳ Anh: Đêm 11 tháng chạp Hồng Đức năm thứ nhất (Canh Dần), đóng quân ở cửa biển Hà Hoa (cửa Khẩu), “Đêm khuya ngồi nghe tiếng mưa, sinh lòng thương cảm”, canh tư đêm 13 tháng chạp “dời thuyền đi vào một dòng sông nhỏ, sang 14 tiến vào kênh Cát Lấp, ngày 14 tháng chạp “đóng quân ở trạm Hoành Sơn, canh tư đêm ấy đốt đèn đọc sách”, “giờ mùi ngày rằm lại khởi hành”, ngày 16 tháng chạp “đại quân khởi hành, mưa to gió táp liên miên…”.
Đến thế kỷ XVI, đất Kỳ Anh mới bắt đầu sôi động vì cuộc chiến tranh Lê-Mạc (1533-1592) và Trịnh-Nguyễn phân tranh (1627-1775).
Cuộc chiến Lê-Mạc (1533-1592) chủ yếu là diễn ra ở bờ bắc sông Lam. Năm Canh Ngọ (1570) nhà Mạc chiếm vùng đất từ nam sông Lam vào tận Đèo Ngang.
Tháng tư năm đó tướng Lê-Trịnh (họ Trịnh lấy danh nghĩa phò Lê) là Nguyên quận công Nguyễn Bá Quýnh được đưa vào làm trân thủ Nghệ An.
Tháng tám, Hoàng quận công lại đem quân bản bộ vào để cùng Bá Quýnh phòng giữ.
Tháng 7 năm sau, Tân Vị (1571), quân Mạc Kính Điển vào, Bá Quýnh bỏ trốn, Dung quận công chạy vào châu Hóa, bị tướng nhà Mạc Nguyễn Quyện[10] bắt. Quân Mạc chiếm luôn từ sông Lam trở ra, cho đến tháng năm Nhân Thân (1572).
Lần thứ hai là vào tháng 6 năm Giáp Tuất (1574) tướng Nguyễn Quyện vào Nghệ An, tướng Lê-Trịnh là Hoàng quận công thấy quân lính đều không chịu đánh, bỏ thuyền chạy bộ trốn, qua Kỳ Hoa vào đến Bố Chính thì Nguyễn Quyện đuổi kịp bắt được…Sử chép: ”Bấy giờ dân Nghệ An (Nghệ Tĩnh) sợ uy giặc đã lâu, phần nhiều đầu hàng họ Mạc và “ Bây giờ quân Mạc mạnh, đến đâu người ta cũng không dám chống, trốn chạy vào rừng..”
Như vậy, vùng Kỳ Anh, Hà Tĩnh nhiều năm nằm dưới sự kiểm soát của nhà Mạc. Cũng trong thời kỳ này tướng Lê-Trịnh tham gia đánh quân nhà Mạc là người Kỳ Anh có Lan quận công Lê Thát ở Hữu Lễ, hoặc sau này ở lại Kỳ Anh có Thọ quận công Phạm Tiêm ở Hưng Nhân.
Cuộc chiến tranh Trịnh-Nguyễn xảy ra 7 đợt, kéo dài 45 năm (1627-1672), đất Kỳ Anh phía bắc và Bố Chánh phía nam Hoành Sơn luôn luôn là vùng đệm giữa 2 lực lượng quận sự Đàng trong và Đàng ngoài. Nhưng chỉ đợt thứ 5 là diễn ra ác liệt trên đất Hà Tĩnh (1655-1658)
Năm Mậu Tý (1648) Trịnh Tráng sai Lê Vân Hiển đánh vào dinh Mười (Quảng Bình) bị thua to, phải rút về phía ngoài sông Gianh. Trịnh Tráng liền sai Tiến quận công Lê Văn Hiểu cùng Trần Ngọc Hậu lĩnh 9 vạn quân đóng ở đất Hà Trung (Dinh Cầu), tức Tả trấn dinh, Đông quận công Lê Hữu Đức cùng Vũ Lương lĩnh 1 vạn quân đóng ở Hoành Sơn, tức Hữu trấn dinh., Mậu quân công Phạm Tất Toàn đóng ở tiền đồn bắc Bố Chánh.
Tháng tư năm Ất Tỵ (1655), Dũng quốc công Nguyễn Phúc Tần sai Thuận nghĩa hầu Nguyễn Hữu Tiến và Chiêu võ hầu Nguyễn Hữu Dật đánh úp bắc Bố Chánh, Phạm Tất Toàn đầu hàng. Thừa thắng, quân Nguyễn tấn công Hữu trấn dinh Hoành Sơn rồi Tả trấn dinh Hà Trung. Lê Văn Hiểu cố sức chống, bị đạn trúng chân, đành cùng Lê Hữu Đức bỏ thuyền ghe, voi, ngựa, khí giới lương thực chạy tháo thân về Yên Trường (TP. Vinh bây giờ). Quân Nguyễn đuổi ra đến Thạch Hà. Hôm sau Hiểu và Đức tiến quân vào đóng ở Đại Nài (thị xã Hà Tĩnh bây giờ), rồi sau bị triệu về Thăng Long[11].
Tháng 6, Khê quận công Trịnh Trượng làm Thống lĩnh đưa quân vào dinh Hà Trung nhưng bị thua phải rút về sông Rác rồi cuối cùng chạy về Yên Trường. Tướng thủy quân là Quân công Vũ Văn Thiêm cũng rút thuyền bè từ cửa Kỳ La (cửa Nhượng) vể cửa Đan Nhai (Cửa Hội). Quân Nguyễn đuổi đánh đến Bân Xá (thị xã Hồng Lĩnh bây giờ). Bảy huyện Nam Hà lọt vào tay đàng trong[12].
Tháng 10, Tả đô đốc Ninh quận công Trịnh Toàn được chúa Trịnh Tráng sai làm Thống lĩnh, đưa quân vào Kỳ Hoa thì quân Nguyễn đã rút lui. Trịnh Toàn ở lại vài ba tuần cũng cố vùng Dinh Cầu rồi trở về Yên Trường[13].
Từ đó, chiến sự chuyển ra phía bắc Hà Tĩnh và nam Nghệ An cho đến khi kết thúc (tháng giêng, năm Canh Tý-1660)
Mùa xuân, tháng 2 năm Canh Sửu ( 1661), “Tiết chế thái úy Nghị quốc công (Trịnh Tráng) đem quân về kinh sư, lưu Đào Quang Nhiên làm Trấn thủ, Lê Sĩ Triệt, Hồ Sĩ Dương, Trịnh Thì Tế làm Đốc thị, đem các tướng đóng đồn ở địa phương Hà Trung, huyện Kỳ Hoa” (Đại Việt sử ký toàn thư-Tập IV)
Từ Lý, Trần đến đầu triều Lê (thế kỷ XV, XVI) vùng đất Hà Trung luôn luôn là binh đồn trọng yếu bảo vệ biên giới phía nam. Trong cuộc chiến tranh Nam-Bắc triều, khi quân Lê-Trịnh, khi quân nhà Mạc đồn trú ở đây. Đầu triều Lê trung hưng, trấn Nghệ An kiêm lý châu Bố Chính.
Khoảng tháng 12–1631, Tây quận công Trịnh Tạc trấn giữa Nghệ An, lấy tiến sĩ Giang Văn Minh làm Đốc thị. Lúc này trấn lỵ Nghệ An ở Lam thành (nay thuộc huyện Hưng Nguyên-Nghệ An), nhưng để tiện việc cai trị, triều đình Lê-Trịnh quyết định thành lập thêm trấn lỵ thứ hai ở phía nam, đóng ở làng Biểu Duệ, xã Hà Trung, thường gọi là dinh Hà Trung hay Dinh Cầu. Ở đây chỉ có dinh trấn thủ, còn các Ty thừa hành, Hiến sát và trường thi vẫn ở Lam Thành. Có thể Trịnh Tạc là trấn thủ đầu tiên đóng ở Dinh Cầu. Lúc này quan hệ giữa chúa Nguyễn Phúc Nguyên với triều đình Lê-Trịnh hết sức căng thẳng.
Sau khi quân Trịnh thắng quân Nguyễn năm 1660, Đào Quang Nhiêu làm trấn thủ, Dinh Cầu được cũng cố thành một trấn lỵ có quy cũ và vững vàng ở phía nam.
Các trấn thủ (hoặc Đốc suất) sau Đào Quang Nhiêu vẫn là những võ tướng cao cấp, tâm phúc của chúa Trịnh: Hào quận công Lê Thì Hiến, Yên quận công Trịnh Liệu (nguyên họ Đặng), Luân quận công Trịnh Huyên (nguyên họ Lê), Trung quận công Lê Thời Liêu, Tạo quận công Lê Quang Hiểu, Thêm quận công Trương Nhương, Siêu quận công Nguyễn Minh Châu, Hải quận công Phạm Đình Trọng, Đoan quận công Võ Tá Đoan, Đoan quận công Bùi Thế Đạt, Việp quân công Hoàng Ngũ Phúc, Huy quận công Hoàng Đình Bảo, Thường trung hầu Bùi Thế Thường, Dao trung hầu Võ Tá Dao, Đang trung hầu Bùi Thế Toại (Tụy)…
Bên cạnh các võ tướng (trong đó có những người là đại khoa hoặc giỏi văn chương như Phạm Đình Trọng), lại có các văn thần có tiếng tăm như tiến sĩ Lê Hữu Kiều (làm đốc thị), tiến sĩ Trần Danh Lâm, Hoàng giáp Phạm Nguyễn Du (đều làm Đốc đồng), Bảng nhãn Lê Qúy Đôn, Hoàng giáp Bùi Huy Bích (đều làm Hiệp trấn), Hương tiến Ngô Thì Sĩ (làm tham chính)…, nhiều người như Trần Danh Lâm, Bùi Huy Bích…để lại nhiều văn thơ viết về trấn lỵ Dinh Cầu và vùng phụ cận.
Ở Dinh Cầu cũng thường có các cuộc họp các cống sĩ do các trấn tướng hay văn thần chủ trì.
Cuối tháng 5 năm Bính Ngọ (1786) quân Tây Sơn kéo ra Bắc Hà diệt họ Trịnh. Nguyễn Hữu Chỉnh lĩnh quân đi trước, đến đây cho vài trạm du binh (quân lưu động) đổ bộ để dương thanh thế, Trấn thủ Bùi Thế Toại liền đốt dinh trại ở Dinh Cầu chạy trốn. Đầu tháng 6, quân của Tiết chế Nguyễn Huệ kéo đến cửa biển Kỳ Hoa (cửa Khẩu), sai Nguyễn Như Thái, em rể Nguyễn Hữu Chỉnh tạm quyền làm Trấn thủ Nghệ An, thu nhặt đám tàn quân của Bùi Thế Toại, đưa ra đóng đồn ở Dũng Quyết (vùng Bến Thủy-Nghệ An)
Năm 1787, Nguyễn Huệ sai phó tướng Nguyễn Duệ và Đô đốc Chiêu Vũ hầu Vũ Văn Dũng trấn thủ Nghệ An ra đóng ở Lam Thành. Tả quân Vũ Văn Nhậm đóng ở Đông Hải (Quảng Bình). Ít lâu sau Dũng rút về nam Bố Chánh, Duệ cũng trốn về theo Nguyễn Nhạc, Vũ Văn Nhậm rồi Trần Quang Diệu ra trấn Nghệ An, không trấn ở Dinh Cầu nữa.
Từ đó Dinh Cầu không còn là trấn lỵ mà chỉ là một đồn binh. Trấn lỵ Dinh Cầu hoang tàn dần.
“Đình dài quạnh vắng cỏ thu lấp
Tường lũy hoang tàn nắng quái hoang
( thơ Đoàn Nguyễn Tuấn- TKĐ dịch)
Năm 1802, vua Gia Long nhà Nguyễn ra Bắc, ghé qua Hà Trung, sai đắp lại phủ thành Kỳ Hoa ở thôn Nhân Canh (Kỳ Châu). Đồn sở Dinh Cầu bị bỏ hẳn.
Trong những năm 1786-1789 Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc trên đường ra Bắc Hà đã nhiều lần đi qua Kỳ Anh.
Năm 1786, một nhóm chống đối do anh em Nguyễn Tiến Lâm ở Hà Hoàng (Thạch Hà) đã hoạt động trên đất Kỳ Hoa, Thạch Hà. Lần Nguyễn Nhạc từ Thăng Long về Nam, bị Nguyễn Tiến Lâm cầm dao phục kích ở vùng Đèo Ngang, nhưng bị lộ phải chạy trốn lên vùng Hương Sơn, rồi bị đô đốc Tây Sơn Dương Văn Tào[14] giết.
Cuối đời Tây Sơn, sau khi mất Phú Xuân, vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản chạy ra Trung đô Phượng Hoàng ở Nghệ An (TP.Vinh), đô đốc Tào được giao đóng quân chặn quân Nguyễn ở Đèo Ngang. Nhưng quân của ông đã bị đội tiên phong do Lê Văn Duyệt chỉ huy đánh tan, ông bị bắt và bị giết.
Các vua đầu triều Nguyễn: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, trên đường Bắc tuần đều đi theo đường bộ qua đây.
Riêng chuyến đi của vua Thiệu Trị năm Nhâm Dần (1842) khởi hành từ Phú Xuân ngày 22 tháng giêng đến ngày 2 tháng hai thì ra đến Đèo Ngang, ngày 3 tháng hai dừng lại cung Tĩnh Sa (Sa xá, nay là Kỳ Văn). Các quan tỉnh Hà Tĩnh là Nguyễn Đồng Khoa, Vũ Đức Nhu không đặt trống báo hiệu nên bị phạt. Ngày 4 tháng hai xe vua đến hành cung Hà Tĩnh…
Đến ngày 8 tháng tư, vua lại về qua Đèo Ngang. Trong chuyến đi này vua Thiệu Trị đã có bài thơ đề: Hoành Sơn quan” được khắc trên tấm đá, đặt ở mé đông bắc cổng.
2.2. Những biến động lịch sử từ năm 1841-1945
Năm Minh Mạng 17 (1836) tách huyện Kỳ Hoa thành Kỳ Hoa và Hoa Xuyên
Năm Thiệu Trị thứ nhất 1841 đổi tên Kỳ Hoa thành Kỳ Anh và Hoa Xuyên thành Cẩm Xuyên.
Tên huyện Kỳ Anh và Cẩm Xuyên bắt đầu từ đó. Đặt dưới phủ Hà Hoa (sau đó là Hà Thanh – từ 1853 là đạo Hà Tĩnh)
Huyện Kỳ Anh lúc do phủ kiêm lý, lúc do phủ hoặc đạo thống hạt.
Lúc do phủ kiêm lý thì không có chức tri huyện mà do tri phủ trực tiếp cai trị huyện
Lúc phủ hay đạo thống hạt thì có chức tri huyện, ở dưới quyền tri phủ hay quản đạo[15].
Giúp việc Tri phủ hay Tri huyện có Lại mục (hay Đề lại) và các Thông lại (thời Pháp thuộc sau này gọi là Thừa phái), tức là các thư ký.
Đề lại là thư ký chính, có đôi lúc được quan phụ mẫu cho thay mặt giải quyết một số việc cần cấp không quan trọng.
Khi ở phủ / huyện đường nhiều việc thì có thể gọi thêm một vài người biết chữ đến giúp sao chép giấy tờ, gọi là các “học sĩ”, và trả ít công.
Cùng với nha lại còn có Lệ mục (đội lệ) cai quản một số lính lệ coi trại giam, canh phòng và hầu hạ ở huyện, chạy thư trát…
Ở phủ / huyện còn có một học quan là Giáo thụ (hay Huấn đạo), trực tiếp dạy trường phủ, trường huyện và coi việc học trong hạt.
Về quân sự, thời Lê-Nguyễn, Kỳ Anh vẫn được chú trọng, tăng cường.
Đời Lê, nhất là thời Trịnh-Nguyễn phân tranh và Trấn lỵ Dinh Cầu được thiết lập, một bộ phận lớn quân lính của trấn đều tập trung ở đây.
Đời Nguyễn đặt đồn ở huyện lỵ, Đèo Ngang, bảo Thống Lĩnh và ven biển.
Từ cuối triều Lê, đầu triều Nguyễn, lỵ sở phủ Hà Hoa (từ 1841 đời Nguyễn là Hà Thanh) đặt ở thôn Nhân Lý, Nhân Canh (nay là xã Kỳ Châu)
Từ năm Tự Đức thứ 6 (1853) là lỵ sở huyện Kỳ Anh.
Trường học của phủ ở phía nam thành, dựng từ năm Minh Mạng thứ 10 (1830), đến năm Tự Đức thứ 6 (1858) đổi làm trường học huyện. Ở phủ / huyện thành thường xuyên có một đồn binh đóng giữ.
– Từ khi Nguyễn Ánh tiêu diệt nhà Tây Sơn, thống nhất đất nước lập nên Triều đại nhà Nguyễn, lên ngôi vua niên hiệu Gia Long (1802-1820)
– Vua Minh Mạng lên ngôi, nắm quyền từ 1820 đến 1841. Đến lúc này huyện Kỳ Anh vẫn mang tên Kỳ Hoa.
– Đến đời vua Thiệu Trị thứ nhất (1841) Mới đổi Kỳ Hoa thành Kỳ Anh. Lịch sử tên huyện Kỳ Anh bắt đầu từ đó.
Lịch sử Triều Nguyễn trải qua 13 đời vua từ Gia Long (1802) đến vua Bảo Đại (1945)
[1] – Văn hóa Bàu Tró, lấy tên một bàu nước ở Đồng Hới-Quảng Bình, nơi có di chỉ khảo cổ được phát hiện năm 1923
[2] – Văn hóa Quỳnh Văn, ấy tên xã Quỳnh Văn –huyện Quỳnh Lưu-Nghệ An, ở đây có di chỉ cồn sò điệp Thống Lĩnh có 2 niên đại C14 là 4785 năm-+ 75 năm cách ngày nay và 4730 +_75 năm cách ngày nay. Ở Hà Tĩnh có cồn sò điệp Phái Nam (Thạch Lâm-Thạch Hà) muộn hơn, có 3 niên đại C14 là 4160 năm+_70 năm , 4120+_60 năm và 4030 năm+_45 năm cách ngày nay.
[3] – Văn hóa Đông Sơn, ấy tên huyện Đông Sơn-Thanh Hóa, là giai đoạn các vua Hùng-Văn hóa đồ đồng.
[4] -Đời Hán, huyện Tỵ Ảnh thuộc quận Nhật Nam, đời Tùy thuộc quận Tỵ Ảnh, Quân thủy của Lưu Phương có thể xuất phát từ Cửa Sót (Thạch Hà) hay Cửa Nhượng (Cẩm Xuyên) ra biển, qua Cửa Khẩu mà vào Ô, Lý.
[5]– Người Cham-Pa dựng nước vào khoảng 137-137. Lúc đó nhà Hán cai trị đất Việt-Chàm, nhân khi nhà Hán có loạn, con trai viên Công tào huyện Tượng lâm là Khu Liên nổi lên giết quan lệnh nhà Hán, xưng làm vua. Người Trung Quốc chép quốc hiệu của Cham-Pa là Lâm Ấp. Giu74a thế kỷ thứ VIII trung tâm nhà nước Chăm-Pa là Kanthara (Nha Trang) và Panduranga (Phan Rang), nên sử Trung Quốc lại chép là nước Hoàn Vương. Sauk hi bị Trương Chu đánh phá (805) phải dời vào vùng trong đèo Hải Vân., đóng đô ở Đồng Hương-Quảng Nam (Indrapua). Sử Trung Quốc nước Chăm-Pa là ChiêmThành và sử ta cũng chép theo.
[6] -Nguyên sử chép: Quân Nguyên đánh bại quân Giao Chỉ ở phủ Thanh Hoa,đoạt được cửa quan Nghĩa An (tức cửa ải Đèo Ngang) Ở đây chép lẫn việc sau ra việc trước. Đáng lẽ chép là đánh chiếm cửa quan Nghệ An trước rồi mới tiến ra Thanh Hoa, , có Trần Kiện ở Nghệ An đầu hang, dẫn quân Nguyên đi đánh Trần Quang Khải.
[7] – Không biết vì sao lại gọi là” Lại bộ nương loan”, các sách khác chép là “cửa Loan Nương”, “đền Loan Nương”. – Đại Việt sử ký chú thích nhầm Ô-tôn là cửa Ròn (Quảng Bình). Ô-tôn nói đây là mũi Dòn ở Kỳ Anh.,
[8] – Theo Toàn thư, còn “Minh sử” chép: “ Tháng 5 đến cửa biển Kỳ La, bắt được Qúy Ly và con là Hán Thương…”. Truyền thuyết địa phương cũng nói Qúy Ly bị bắt ở núi Thiên Cầm bên cửa bien3 Kỳ La ( cửa Nhượng-Cẩm Xuyên) và Hồ Hán Thương bị bắt ở núi Cao Vọng.(cửa Khẩu-Kỳ Anh), hai nơi này còn có hang Hồ Qúy Ly và Hồ Hán Thương.
[9]– Nguyễn Biên , người xã Phù Lưu (Hồng Lộc) vào khai hoang ở động Choác (núi Kinh Thốc) Cẩm Hưng, Cẩm Xuyên. Nghĩa quân của ông đã đánh thắng quân Minh nhiều trận, giải phóng vùng nam Hà Tĩnh bây giờ. Năm 1425 ông gia nhập nghĩa quân Lam Sơn, rồi hy sinh trong một trận đánh. Nhân dân lập đền thờ ông ở Động Choác (Cẩm Hưng) và Cát Thiên ( Cẩm Huy)
[10]– Nguyễn Quyện, tướng nam đạo nổi tiếng của nhà Mạc, là con Trạng nguyên Nguyễn Thiến, là bác ruột Nam dương hầu Nguyễn Nhiêm, người lập ra dòng họ tiên Điền ngày nay.
[11]– Theo “Đại Nam thực lục tiền biên” , “Việt sử thông giám cương mục và “ Đại Việt sử ký toàn thư”
[12] Bảy huyện Nam Hà (bờ nam sông cả – Lam Giang) là: Kỳ Hoa, Thạch Hà, Thiên Lộc, Nghi Xuân, La Sơn, Hương Sơn, Thanh Chức. Tức toàn bộ Hà Tịnh và một số xã ở nam Nghệ An.
[13] – “Đại Nam thực lục tiền biên” chép: “ Quân Nguyễn rút lui về đóng ở Hà Trung”, như vậy có thể Trịnh Toàn chưa vào đến Hà Trung hoặc là khi Trịnh Toàn vào quân Nguyễn tạm rút khỏi vùng này, ở đây chép theo “Đại Việt sử ký toàn thư”
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét