10.1.22

Chương 2: Kỳ Anh trong dòng chảy lịch sừ dân tộc

Trải 4000 năm tay chống trời, tay giữ nước, lịch sử dân tộc Việt là lịch sử đầy đau thương và nước mắt, vinh quang và cay đắng gắn liền với những chiến công hiển hách, phi thường. Mảnh đất Kỳ Anh nhỏ bé cũng không nằm ngoài dòng chảy đó của lịch sử dân tộc.

1. Sự phân chia địa giới và tên gọi qua các thời kỳ
Vùng đất Kỳ Anh ngày nay, từ khi lập quốc đã là mảnh đất cực nam của bộ Cữu Đức, một trong 15 bộ của nhà nước cổ Văn Lang.

Trải bao biến động theo thời gian, mỗi triều đại thay đổi là kéo theo những thay đổi tên gọi khác nhau, kể cả tên làng, tên xã cho đến tên nước, đó chính là sự thiếu thống nhất, gây ra nhiều hệ lụy cho các nhà viết sử và nghiên cứu lịch sử.

– Đời Tần, đây là đất Tượng quận.

– Thời thuộc bắc, đời Triệu (179-111 trước CN) là đất Cửu Chân,

– Từ đời Hán (111 TCN-226) thuộc huyện Hàm Hoan, quận Cửu Chân.

– Từ đời Ngô, tiền Ngụy đến Tần, Tống, Tề (226-502) thuộc quận Cửu Đức,

– Đời Lương (502-542) đổi Cửu Đức thành Đức Châu, nhà Tiền Lý (Lý Nam Đế) dựng nước Vạn Xuân tự chủ (542-603) vùng đất này vẫn thuộc Đức Châu.

– Năm 598 nhà Tùy chưa đặt được cuộc đô hộ, vẫn đổi Đức Châu thành Hoan Châu, rồi sau khi diệt được nước Vạn Xuân (603) lại đổi Hoan Châu thành Nhật Nam.

– Nhà Đường đổi Nhật Nam thành Nam Đức (618), đổi Nam Đức thành Đức Châu (628), lại đổi Đức Châu thành Hoan Châu (672), rồi cắt phần nam Hoan Châu lập châu ki mi Phúc Lộc (679)…

Như vậy, vùng đất Kỳ Anh xưa lần lượt thuộc Đức Châu, Hoan Châu, Nhật Nam, Nam Đức, rồi lại Đức Châu, Hoan Châu, Phúc Lộc, và có thể có nhiều thay đổi nữa nhưng chưa tìm được tài liệu ghi chép đáng tin cậy.

Từ khi dựng nước (khoảng 137-138) người Lâm Ấp (sau đổi thành Hoàn Vương- Chiêm Thành- Chăm Pa) thường đem quân ra cướp của, bắt người ở vùng bắc Hoành Sơn.

Năm 803 quân Hoàn Vương tràn sang đánh đuổi quân đô hộ nhà Đường, chiếm hai châu Hoan, Ái (Nghệ Tĩnh, Thanh Hóa). Đến năm 808, tướng nhà Đường là Trương Chu sang cai trị Giao Châu, mới đẩy quân Hoàn Vương lùi sâu vào vùng Nam – Ngãi bây giờ.

Một thế kỷ sau (khoảng 907-910) người Chiêm Thành lại lấn sang, chiếm vùng đất từ Hoành Sơn đến Nam Giới (Thạch Hà), đặt quan cai trị ngót 70 năm, cho đến năm 981, vua Đại Hành (Lê Hoàn) đưa quân vào đánh đuổi người Chiêm Thành thu vùng đất này về Đại Việt, và thành lập châu Thạch Hà.

Năm 1010, nhà Lý chia đất nước làm 24 lộ, phần cực nam là lộ Hoan Châu, năm 1025 lập trại Định Phiên ở nam Châu Hoan, năm 1036 đổi Châu Hoan làm Châu Nghệ An, rồi năm 1101 lại đổi làm phủ Nghệ An.

Đời Trần, năm 1231, đổi Nghệ An làm châu rồi làm trấn, nhưng dưới trấn là ba lộ : Nghệ An Bắc, Nghệ An Trung, Nghệ An Nam.

Đất Kỳ Anh lần lượt thuộc châu Thạch Hà, châu Nghệ An, phủ Nghệ An (đời Lý), châu Nghệ An, lộ Nghệ An nam thuộc trấn Nghệ An đời Trần.

– Đời Trần, đất Kỳ Anh là huyện Hà Hoa.

– Thời thuộc Minh (1407- 1427), huyện Hà Hoa và huyện Kỳ La (sau là đất Cẩm Xuyên) đều thuộc châu Nam Tĩnh.

– Đời Lê (có sách chép đời Lê Thánh Tông) hợp 2 huyện Hà Hoa và Kỳ La thành Kỳ Hoa.

– Đời Nguyễn, năm Minh Mạng thứ 17 (1836) cắt 4 tổng phía bắc Kỳ Hoa (Lạc Xuyên, Vân Tán, Thổ Ngọa, Mỹ Duệ) lập huyện Hoa Xuyên.

– Năm Thiệu Trị thứ nhất (1841) kiêng tên húy, đổi Hoa Xuyên thành Cẩm Xuyên, và Kỳ Hoa thành Kỳ Anh.

Như vậy tên huyện Kỳ Anh bắt đầu từ năm 1841.

Đầu đời Nguyễn (từ 1831), huyện Kỳ Hoa , sau này là Kỳ Anh vẫn do phủ Hà Hoa (từ 1841 là Hà Thanh) kiêm lý.

Từ năm 1853 vua Tự Đức bỏ tỉnh, lập đạo Hà Tĩnh, Kỳ Anh đặt tri huyện, do đạo thống hạt, đến năm 1875 lập lại tỉnh lại đặt tri phủ, kiêm lý huyện Kỳ Anh.

Năm Duy Tân thứ 9 (1915) đổi Thạch Hà làm phủ, Kỳ Anh lại do phủ Thạch Hà thống hạt cho đến năm Cách mạng tháng 8 năm 1945.

Theo cuốn “ Các trấn tổng, xã danh bị lấm” (Bản dịch của Viện nghiên cứu Hán-Nôm, NXB KHXH N.1981 lấy tên “Tên làng, xã Việt Nam đầu thế kỷ 19”) thì đầu đời Nguyễn đất Kỳ Anh bây giờ còn nằm trong huyện Kỳ Hoa thuộc phủ Hà Hoa, trấn Nghệ An. Huyện Kỳ Hoa (là đất của 2 huyện Kỳ Anh và Cẩm Xuyên ngày nay), có 6 tổng, 173 xã, thôn, trang, phường, trại, giáp, tích, vạn…

Riêng vùng đất Kỳ Anh có 2 tổng: Cấp dẫn (30 xã, thôn, vạn) và Đỗ Chữ (57 xã, thôn, trang, trại, phường, tích, sach…). Tổng cộng có 87 đơn vị tổ chức cư dân và hành chính.

Sách “ Kỳ Anh phong thổ ký” của Lê Đức Trinh, viết năm Bảo Đại thứ 5 (1931)-Bản dịch của Thanh Minh- cho biết đời Duy Tân về trước Kỳ Anh có 4 tổng (Cấp Dẫn, Đậu Chữ, Hà Trung, Hoằng Lễ). Năm Duy Tân thứ 5 (1911) trích 6 thôn của tổng Hà Trung và 3 thôn của tổng Cấp Dẫn lập thêm tổng Vọng Liệu. Như vậy là lúc đó Kỳ Anh có 5 tổng gồm 96 thôn, trang…(Hà Trung 20 thôn, Cấp Dẫn 21 thôn, Đậu Chữ 21 thôn, Hoằng Lễ 25 thôn, Vọng Liêu 9 thôn). Số thôn xã từ đấy đến 1945 tương đối ổn định.

– Cuối năm 1945, bỏ tổng, Kỳ Anh hợp nhất 96 làng nhỏ lại thành 20 xã lớn.

– Khoảng 1950-1952 tăng cường xã lại nhập 10 xã cũ thành 5 xã lớn hơn, toàn huyện chỉ còn 15 xã

– Năm 1954 lại chia những xã lớn thành những xã vừa, toàn huyện có 26 xã.

– Năm 1961, cắt làng Ngưu Sơn, (Minh Đức) từ xã Kỳ Phương thành lập xã mới Kỳ Nam. Toàn huyện có 27 xã.

– Năm 1963, lập thêm xã mới Kỳ Hương (gồm dân 3 xã: Thạch Châu, Thạch Bằng, Thạch Trị từ huyện Thạch Hà di dân vào). Toàn huyện có 28 xã

– Tháng 5 1977, cắt xã Kỳ Lâm, Kỳ Sơn thành xã Vọng Sơn (sau lại tách làm hai như cũ). Lúc này toàn huyện có 28 xã.

– Năm 1987, thành lập thêm các xã: Kỳ Đồng, Kỳ Hợp, Kỳ Liên và thị trấn Kỳ Anh.

Như vậy đến 1987 Kỳ Anh có 31 xã và 1 thị trấn huyện lỵ.

– Năm 2004, lập thêm xã Kỳ Trung, cho đến nay. Như vậy hiện Kỳ Anh có tất cả 32 xã và một thị trấn.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét