10.1.22

4. Những danh thắng & Di tích lịch sử của Kỳ Anh

4.1. Đèo Ngang
Trước hết và luôn luôn Đèo Ngang là một nơi danh thắng. Là người Việt Nam không ai là không thuộc và nhớ đến Kỳ Anh qua bài thơ tuyệt bút của Bà huyện Thanh Quan để lại cho muôn đời:

Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa
Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Dừng chân ngắm lại trời non nước
Một mảnh tình riêng ta với ta.

 Đèo Ngang vắt qua dãy núi ngang (Hoành Sơn) ở độ cao 256m.
Con đường xuyên Việt qua đây đã được ông Phụ quốc Ngô Tử An mở ra từ năm 992 đời Tiền Lê. Xưa kia Đèo Ngang luôn là nơi biên ải hiểm yếu. Cùng với những đoàn lính thú ra vào là những đoàn “vợ lính trẫy vô thăm chồng” với tiếng hát não nề: Gặp trộ mưa dông / Đàng trơn gánh nặng / Mặt trời vừa lặn / Đèo Ngang chưa trèo / Hòn đá cheo leo / Em trèo răng được. (vè) và cùng với họ là những người buôn bán, làm thuê : “Tháng lọn ngày thâu chỉ biết trèo”(Nguyễn Thiếp) và những: “Ông đồ Nghệ mang khăn gói đỏ…Vượt đèo Ngang tìm nơi cần chữ”(Xuân Diệu), là những học trò đi tìm công danh như gả Tô Tần: “Áo cừu rách rồi còn chưa biết bao giờ trở về”(thơ Cao Bá Quát), những ông quan “Cánh cửa lẽ loi giữa gió mùa”(thơ Bùi Huy Bích), và những người bị đày viễn châu xưa, những người tù cách mạng về sau: “Thân cùng non nước trót đa mang”(khuyết danh).

Năm Minh Mạng thứ 14(1833) nhà vua cho xây dựng Hoành Sơn quan.

Năm Minh Mạng thứ 19 (1838), đúc 9 đỉnh đồng đặt ở thành nội Huế, hình tượng Hoành Sơn-Đèo Ngang đã được chạm lên “Huyền đỉnh”.

Năm Nhâm Dần (1842) vua Thiệu Trị ngự giá Bắc tuần đi qua đây, đã làm bài thơ khắc lên bia đá đặt ở mé bắc Đèo Ngang, nơi bắt đầu con đường ghép đá lên cổng Hoành Sơn quan như sau:
“Nhất đái miên hoành hạn tiệt san
Uyển diên khởi phục hải tần gian
Vệ nam củng bắc phân nghiêm tấn
Lịch cổ lai kim tác hiểm quan.
Tồi lũy bất tu bình vãng sự
Trùng loan vi tín khả vao phan
Tiếp thiên nham thụ thanh nhi thủy
Bán lĩnh phi vân khứ phục hoàn”.

Dịch:
Một dải chăng dài núi chặn ngang
Quanh co, chìm nổi, biển mênh mang
Gìn nam, giữ bắc chia nghiêm cửa
Suốt cổ về kim chốt chặn đàng.
Men lũy chẳng nên bàn việc cũ
Băng truông hồ dễ với tay sang
Liền trời cây ngút xanh xanh biếc
Nửa núi mây dồn, mây lại quang.
(Bản dịch của Thanh Minh)

Dưới chân đèo có nhiều khe suối quyến rũ khách đi đường dừng chân nghỉ ngơi, ngắm cảnh.
Cụ Bùi Huy Bích ngồi bên khe Mộc Miên, sảng khoái thốt lên:” Xuy yên điểm xuyến cô thôn cận / Hoa cảnh phân minh lưỡng ngạn hưKhói chiều lơ lững trên thôn vắng / Hoa sớm tưng bừng mạn suối mơ”.

Cụ Cao Bá Quát thì xuống tắm dưới khe Đá Bàn và ngâm: “Triêu đăng Hoành Sơ lập / Mộ hạ Bàn thạch dục / Huề thủ lưỡng phiến thạch / Giang sơn bất dinh cúc” – (Sớm đứng ngọn Hoành Sơn / Chiều tắm khe Bàn thạch / Nhặt đá cầm trong tay / Non sông chưa đầy vóc).

Xưa nay, bước tới Đèo Ngang, bao nhiêu thi sĩ đã làm thơ: Từ Bùi Huy Bích, Phạm Qúy Thích, Nguyễn Thiếp, Hà Tôn Quyền…đến Nguyễn Nễ, Bùi Dương Lịch, Bà Huyện Thanh Quan, từ Cao Bá Quát, Nguyễn Trường Tộ…đến Lê Văn Huân, Xuân Thủy, Phạm Tiến Duật…không biết bao nhiêu mà kể. Ông vua thi sĩ làm thơ khắc thơ lên bia đá, người lao động bình dân có tâm hồn thi sĩ thì hát lên tiếng lòng thành lời ca truyền tụng trong dân gian:
“Trèo đèo hai mái chân vân
Lòng về Hà Tĩnh, dạ ái ân Quảng Bình”

Ngày nay, bước dưới Đèo Ngang gặp ngôi mộ nhỏ thờ Thánh Mẫu, ta đang đi vào huyền thoại bà chúa Liễu Hạnh…với chiếc quán nhỏ bên đường…

Ở Mũi Đao, ngồi lại bên cửa hàng giải khát, ta đang đứng trước một thị trấn du lịch bắt đầu dựng xây. Từ đây, con đường nhựa ngược đèo giữa rừng thông non xanh biếc lên tới đỉnh cao hai trăm rưỡi mét, ta có thể đi qua đất Quảng Bình một đoạn rồi rẽ quặt sang trái, hoặc leo 980 bậc đá ghép theo dấu cũ quan lộ ngày xưa mà lên Hoành Sơn quan, một phần công trình kiến trúc từ hơn 180 năm trước. Xế cạnh ngôi cổng cổ kính là một cột điện cao thế hiện đại…và lần theo sườn núi đi ra phía đông hoặc đi về phía tây, ta sẽ gặp những phế tích cũ Lâm Ấp của mười sáu thế kỷ trước còn sót lại.

Nhà địa lý Lê Bá Thảo viết trong cuốn “ Thiên nhiên Việt Nam”: “ Con đường đi lên đèo chạy ngoằn ngoèo từ sườn đồi nay đến sường đồi khác, và khi lên đến đỉnh đèo, không ai có thể kìm được sự kiêu hãnh của mình khi nhìn thấy biển Đông trước mặt. Ở tít tận ngoài xa, mũi Ròn rồi Vũng Chùa và hàng loạt đảo nhỏ khác đứng lô nhô trên sóng như che bóng trắng một con tàu biển và buồm của các thuyền câu.         
                           This image has an empty alt attribute; its file name is deo-ngang.jpg
                                                                Một mái Đèo Ngang

4.2. Núi Hoành Sơn
Hoành Sơn-dãy núi Ngang-ở phía nam huyện Kỳ Anh xưa là biên giới tự nhiên giữa 2 quốc gia cổ Việt-Chiêm, nay là địa giới 2 tỉnh Quảng Bình-Hà Tĩnh. Khối núi này chiếm diện tích 1500km2, kéo dài từ phía tây Vọng Liệu (Kỳ Anh) đến Tuyên Hóa (Quảng Bình), đến mút phía đông là mũi Đao, mũi Độc (Kỳ Nam). Núi chỉ có độ cao trung bình 400m, nhưng cũng có đỉnh cao tới 646m( như động Nậy), hoặc 823m (ngọn Ba Cốc). Đèo Ngang vắt qua núi, từ phía bắc vào là đèo Con, rồi đèo Nậy (256m).

Từ vùng Đèo Ngang chảy xuống có nhiều dòng khe: Khe Bò, khe Du, khe Di, khe Bàn Thạch…ở mái bắc. Khe Mộc Miên (khe Bông) ở phía nam. Sách “Lịch triều hiến chương loại chí” chép: “Xã Hoàng Hóa thuộc huyện Kỳ Hoa…phía đông giáp châu Bố Chánh (Quảng Bình) có khe Mộc Miên làm giới hạn.

Hoành Sơn cũng là biên giới khí hậu bắc-nam. Phía Hà Tĩnh mùa đông có gió mùa đông bắc mạnh, mùa hè gió Lào dữ dội, lượng mưa rất lớn, 3000mm/năm trong khi Quảng Bình chỉ cách 10 km thì gió mùa rất yếu.

Do điều kiện khí hậu nóng ẩm, cây cối phát triễn mạnh. Ngày xưa toàn bộ dãy Hoành Sơn phủ một thảm thực vật dày đặc, những cánh rừng bạt ngàn, trong rừng có đầy đủ các loại động-thực vật quý hiếm.

Nằm trên biên giới Việt-Chiêm thời xa xưa và thời phân tranh Trịnh-Nguyễn, Hoành Sơn luôn là vùng đất chiến địa. Nhưng Hoành Sơn cũng là một danh thắng nhất nhì ở Nghệ Tĩnh với cảnh Đèo Ngang tuyệt vời đi vài thi ca, làm lay động hồn người.

4.3. Núi Bàn Độ
Núi Bàn Độ tục gọi rú Đọ hay rú Ba Đọ, ở làng Đậu Xá (hay làng Phú Duyệt) tổng Đậu Chữ, nay là xã Kỳ Khang. Sách “ Kỳ Anh phong thổ ký”-của Lê Đức Trinh-mô tả: “…núi nổi lên giữa thôn Đậu Xá, cao lớn, rậm rì, phía đông ra tới biển, trên đỉnh núi bằng phẳng trông giống như cái mâm vàng đặt qua mặt bể nên gọi là núi Bàn Độ”.

Trên núi có cái đầm, gọi là đầm Tiên. Tương truyền ngày xưa Tiên nữ xuống chơi đầm ấy. Lại có một tảng đá lớn như bàn cờ gọi là bàn cờ Tiên, những hòn đá nhỏ la liệt xếp trên đó như những quân cờ…

Trên núi có ngôi chùa cổ, các sách xưa chép là chùa Bàn Độ, còn nhân dân thường gọi là chùa Ngâm. Phía tả chùa có con suối dài bảy, tám trượng, trên không có nguồn, dưới sâu không đáy, nước chảy ngày đêm rất trong mát. Phía trước chùa có cái kênh nhỏ thông ra biển…nay kênh đã bị bồi đắp thành đất bằng, nên nước suối không có nguồn thông ngày đêm phun trào rất mạnh.

Trên núi Bàn Độ còn có ngôi đền Thánh Mẫu (chưa rõ Thánh mẫu đây là bà Nguyễn Thị Bích Châu hay Thánh mẫu Càn Vương, thái hậu nhà Tống như có người nói). Ở mé nam còn có di tích ngôi chùa Đá.

4.4. Núi Cao Vọng
Núi Cao Vọng-Cao Vượng, tục gọi rú Voong, ở xã Bình Lễ, sau là Vĩnh Áng, tổng Hoàng Lễ, nay thuộc xã Kỳ Lợi.

“ Núi nổi cao hai nhỏn xế ra biển, , phí nam là núi Ô tôn (phiên âm chữ Dòn), phía đông liền với biển, có vũng bao quanh như cái ao, gọi là núi Yên Ao. Dưới chân núi có giếng đá, tục gọi là giếng Ếch, vị nước rất ngọt. Thuyền buôn qua lại đều tới đây lấy nước uống, trước đây có đồn thú canh giữ…”(Kỳ Anh phong thổ ký)[1]

Năm 1407 quân Minh mượn cớ đánh nhà Hồ, đưa quân xâm lược nước ta, Họ Hồ thua chạy vào Châu Hoan, nhưng Hồ Qúy Ly chạy đến núi Thiên Cầm thì bị bắt, còn Hồ Hán Thương cùng thái tử Nhuế cũng bị đầu mục của Mạc Thủy là Nguyễn Như Khanh bắt ở núi Cao Vọng. Ngày nay ở núi Thiên Cầm có hang Hồ Qúy Ly, và ở núi Cao Vọng cũng có hang Hồ Hán Thương. Sự kiện này được chép trong sử sách và được truyền bằng hai câu thơ cổ:
“ Kỳ La hải Khẩu ngâm hồn đoạn
Cao Vọng sơn đầu khách tứ sầu”

Dịch:
Trước cửa Kỳ La hồn thơ tắt
Đầu non Cao Vọng dạ người đau.(T.K.Đỉnh)

Bùi Huy Bích, trong bài thơ “Vịnh núi Cao Vọng” cũng có câu:
“ Trương Phụ lai thời thanh thạch lão
Hán Thương khứ hậu bạch vân lưu”

Dịch:
Đá cũng bạc đầu, Trương Phụ đến
Mây còn trắng núi, Hán Thương đi. (T.K.Đỉnh)

Trên núi Cao Vọng còn có ngôi đền thờ thần Sát Hải[2] và miếu thờ ông bà họ Chu.

4.5. Núi Ngọc Thạch
Sách “Kỳ Anh phong thổ ký” chép: Núi Ngọc Thạch ở phía bắc huyện, tại thôn Hữu Lệ, thuộc xã Tuần Tượng (nay là Kỳ Phong, Kỳ Bắc), là ranh giới giữa hai huyện Kỳ Anh và Cẩm Xuyên. Trên đỉnh có tảng đá lớn dựng đứng, thạch nhũ rũ xuống như ngọc nên núi mang tên Ngọc Thạch. Hình núi như con voi, phía đông bắc một dãy vươn ra biển như cái vòi voi cuốn nước, cho nên có tên gọi khác là núi Voi (Tượng Tỵ). Dưới chân núi có mộ phát tích của quận công họ Lê[3]. Sách “ Đại Nam nhất thống chí” (tập II) lại chép một tên khác là núi Tiên Chưởng và giải thích: “…Trên núi có đá lớn đứng sững, thạch nhũ rũ xuống trông giống hình ngón tay, nên có tên như thế”. Sách này cũng chép về núi Tượng Tỵ: ‘…Hình núi như vòi voi nên gọi như thế. Đời Lê lập trường nuôi voi ở đây. Lại có núi Lạc Hạ cũng ở địa điểm xã này, hình núi như cái vạc úp”.

4.6-Núi Kỳ Đầu
Về núi Kỳ Đầu hai quyển sách trên đều chép tương tự: Núi Kỳ Đầu ở địa phận thôn Như Nhật, (xã Kỳ Xuân), phía tây nối liền núi Ngọc Thạch, sông Rác bao quanh, hình núi như cờ dương cao nên gọi là Kỳ Đầu.

Ở đây lưu truyền một huyền thoại: “Theo sử ký, thì khoảng thời Lê Cảnh Hưng (1740-1786) có tảng đá lớn từ dưới biển dời lên tới đỉnh núi, rồi đến thời Tự Đức (1848-1883) tảng đá ấy lại tự dời xuống biển, đường đá trượt qua đến nay vẫn còn dấu ngấn.”

Cùng ở thôn Như Nhật còn có núi Yên Tâm, “thế núi tôn nghiêm, có các ngọn Cờ, ngọn Trống, ngọn Voi, ngọn Ngựa ở hai bên cùng hướng vào, sườn núi có chùa…”
Ở đây có một ngọn núi sát biển, gọi là “Bằng Sư”, vào mùa hè và mùa thu có chim cu kỳ tụ tập nhiều, dân địa phương đào lỗ chứa nước rủ chim xuống uống rồi đặt bẫy bắt. Núi này cũng là nơi phong cảnh rất đẹp

4.7. Giếng Vọt
Gọi giếng Vọt nhưng không phải là giếng, cũng không phải là khe lộ thiên mà là một suối nước ngầm, nước phun ra mé một ngọn đồi nhỏ ở làng Hưng Nhân, nay thuộc thị trấn Kỳ Anh. Sách “Nghệ An ký” mô tả: “Một dải gò động bằng phẳng, thung lũng rộng lớn, liên lạc với núi Hoành Sơn, vách đá cheo leo, cây cối xanh tốt, từ trong hang đá chảy ra một dòng suối mát, trong sạch, thơm ngon. Dân địa phương lấy cây gỗ khoét rỗng làm máng hứng nước như máng mái nhà hứng nước mưa. Nước suối chảy ra tưới các ruộng xung quanh nên lúa đều tươi tốt.

Tương truyền, ngày trước có một viên đốc trấn cấm dân không được lấy nước suối ấy thì tự nhiên suối bị tắc không chảy. Sau dân nghe lời một tiên sĩ giết trâu cúng thần và bãi lệnh cấm thì nước chảy lại như trước.

Cũng sách này (Nghệ An ký) chép: “ Nước ở Nghệ Tĩnh có 3 nơi được khen là giai phẩm, một là sông La ở huyện La Sơn, hai là suối Việt tỉnh ở huyện Kỳ Hoa, ba là khe Hau Hau ở núi Nam Giới huyện-Thạch Hà.

Sách “Lịch triều hiến chương loại chí” cũng chép:”Suối Việt-đông (tức giếng Vọt-Thái Kim Đỉnh chú) ở bên tả trấn thành, một dãy sườn núi bằng phẳng thung lũng rộng dài, nối liền với dãy núi án ngự của trấn. Ở bên đó có núi đá đứng thẳng như vách, cây cối um tùm, trong khe đá chảy ra suối nước trong, mát, ngọt, ngon. Người biết thưởng thức vị nước cho nước suối ấy là ngon nhất ở Hoan Châu”

Giếng Vọt nước quý, lại là một kỳ quan, ngày trước Hoàng giáp Bùi Huy Bích (1744-1818) khi làm quan ở đây, thường đến chơi bên suối và có làm bài thơ vịnh bằng chữ Hán “ Vịnh Việt tỉnh” như sau:
Phiến thạch Hoàng Sơn bạn
Hoan Châu đệ nhất tuyền
Sàn sàn xuyên mật thụ
Tế tế dạng khinh yên
Lưu thủy mạn chung cổ
Hành nhân bất ngộ tiên
Trần tâm huy mặc địa
Tẩy chước tạm phiên nhiên

Bản dịch của nhà nghiên cứu Thái Kim Đỉnh:
Một phiến đá mé Hoành Sơn
Từ xưa, đệ nhất Châu Hoan suối này
Nghe róc rách dưới rừng cây
Lâng lâng làn khói nhẹ bay, mơ màng
Đời đời dòng nước xuyên ngang
Người qua nào thấy bóng Hằng Nga đâu
Lòng tràn lay tận đất sâu
Đến đây tắm rửa sạch làu, nhẹ lâng.
(Rất tiếc ngày nay giếng Vọt không còn,đã trở thành di tích)

4.8. Sông Kinh Hạ
Sông Kinh Hạ, thường được gọi là sông Kinh, xưa kia gọi Kênh Rác, Kênh Voi, là con sông đào cổ xưa, nối sông Rác (Cẩm Xuyên) với cửa Khẩu, dài khỏang 35 km, rộng trung bình 20-25m có vài đoạn rộng tới 100-150m, đi qua các làng Văn Thai, Tư Dung, Nhân Mỹ, nay là xã Cẩm Lạc (Cẩm Xuyên), Hữu Lệ (Kỳ Phong), Yên Hạ (Kỳ Tiến),Phú Thượng (Kỳ Phú)…chảy vào con hói qua vùng Kỳ Giang, Kỳ Khang, Kỳ Thọ đến sông Vịnh ( sông cửa Khẩu) rồi ra biển.

Sách “Đại Việt sử ký”-Kỷ nhà Trần chép: “ Giáp Dần, năm Long Khánh thứ 2, đời vua Duệ Tông (1374), tháng ba, chiếu xuống cho Thanh Hóa, Nghệ An đào kênh đến cửa biển Hà Hoa” (cửa Khẩu). Đó là những hệ thống, những đoạn kênh đào nối sông Đáy ở cửa Thần Phù với các sông tự nhiên khác cho đến kênh Hạ là đoạn cuối.

Đối với Trần Duệ Tông, việc đào con kênh này chỉ nhằm vào mục đích quân sự là chính. Trước đó, thuyền bè từ Bắc Hà vào đến đất Hà Tĩnh bây giờ đều phải ra cửa Nhượng Bạn rồi vào Ô, Lý. Để tránh bớt nguy hiểm trên đường biển, Duệ Tông sai đào sông, và đoàn thuyền chiến của ông lần đầu tiên đã ra cửa Khẩu để vào đánh chúa Chăm-Pa (1377).

Năm Qúy Mão (1003) vua Lê Đại Hành đã cho đào sông Gai (Đa Cát) ở Nghệ An. Đời hậu Lê, trên đất Hà Tĩnh bây giờ, một số đoạn kênh cũ đời Trần được đào nắn thẳng hoặc khơi sâu thêm (như đoạn sông Đò Trai-Đức Thọ, đoạn sông Thượng Trụ-Can Lộc…), do đó nhiều người quen gọi hệ thống kênh này là kênh nhà Lê.

Năm Tự Đức thứ 12 (1859), đời Nguyễn, Hiệp tá Hoàng giáp Lê Tuấn (người Mỹ Lũ-Kỳ Văn) được cử ra đổng lý việc đào khơi lại nhiều đoạn kênh để thông đường thủy với Bắc Thành. Sách ‘Đại Nam nhất thống chí” (Tập II) chép là:” …đào lại kênh Rác và kênh Thần Đầu”.

Đến năm Thành Thái thứ 11 và 12 (1899-1900), tuần phủ Hà Tĩnh Tôn Thất Hân và công sứ Pháp Xăng-đơ-rê (Sandré) lại tổ chức đào kênh Kinh Hạ, khơi sâu thêm 4-5 thước (1,6-2m).

4.9. Kênh Thần Đầu
Trên đất Kỳ Anh có đoạn kênh Thần Đầu, đào từ đời Lê (Năm Qúy Mão (1003). Sách ‘Đại Nam nhất thống chí” (Tập II) chép; ‘Kênh mới Thần Đầu đào từ năm Tự Đức thừ 12 (1859) nay đã bị lấp”. Nhưng từ thế kỷ XV ở vùng này đã có kênh Sa Tắc (cát lấp) và kênh Trường Lang (hành lang dài) nối sông Quyền và một số khe suối. Năm Hồng Đức thứ nhất (1470) đoàn thuyền chiến của vua Lê Thánh Tông đã đi từ cửa Khẩu qua kênh này. Nguyên chú trong mấy bài thơ trong tập “Chinh tây kỷ hành” của Lê Thánh Tông chép;” …Canh tư đêm 13 tháng Chạp, dời thuyền bơi vào một dòng sông nhỏ. Sáng ngày 14 tiến vào kênh Sa Tắc. Mưa to, gió lạnh, thuyền dừng lại sát bờ…Từ kênh Trường Lang trở về phía trước, có thể di dân tới chừng mấy vạn đinh….” Và: “Ngày 14 tháng Chạp, đóng quân ở trạm Hoành Sơn. Canh tư đêm ấy đốt đèn đọc sách, hạ lệnh cho ba quân ăn cơm từ sớm, sáng ra dời thuyền tiến vào Tắc Giang, gặp cây gỗ to chắn giữa dòng, bèn ra lệnh cho quân tiền khu tả dực chặt cây, thông tuyến. Đoàn thuyền trên Tắc Giang một lát qua được ngay. Giờ Mùi ngày 15 lại khởi hành”.

4.10. Cửa Khẩu
Cửa Khẩu là tên gọi tắt của “Kỳ Hoa hải khẩu”- cửa biển Kỳ Hoa.
Sách xưa, như “Nghệ An ký” chép là: “Khẩu hải khẩu”, hay như “ Lịch triều hiến chương loại chí” chép là “Cửa Loan Nương”

Cửa Khẩu nằm trên tọa độ 106,21’36” độ kinh đông và 18,06’,48” độ vĩ bắc, thuộc địa phận xã Hải Khẩu (nay là xã Kỳ Ninh). Sông từ phía bắc, sông Trí từ phía tây, sông Quyền từ phía nam cùng đổ ra một vũng nhỏ, dài khoảng 4km, rộng từ 400-500m (nước lên có thể rộng tới 800m), sâu 3-4m đến 7-8m, có tốc độ chảy khoảng 0,5 m/giây, gọi là sông cửa Khẩu hay sông Vịnh. Lạch sông và cửa biển thời xa xưa đi về phía bắc, sát gần rú Đọ, còn bây giờ đã chuyển dần xuống phía nam, mé rú Voong.

Trong lịch sử, cửa Khẩu là cửa biển quan trọng ở nam Đại Việt, nhiều sự kiện quan trọng đã xảy ra ở đây.

Sự kiện sớm nhất được sử sách ghi chép là vào thời nhà Tùy, tháng giêng năm Ất Sửu (605) Hoan Châu đạo hành quân tổng quản Lưu Phương và bọn đại tướng Trương Tốn đem thủy quân từ cửa biển quận Tỵ Ảnh (của Sót hay cửa Nhượng) vào đánh Chiêm thành, “tháng ấy quan đến cửa Hải Khẩu”.

Người Chăm-pa từ khi lập quốc (Thế kỷ thứ II), thường đưa thuyền vào cửa Khẩu và cửa Nước Mặn cướp phá, bắt người. Trong các đợt vượt Hoành Sơn lấn chiếm đất Đại Việt (803-808 và khoảng 907, 910, 981), cửa Khẩu có vị trí quan trọng với quan, quân của họ. Chắc chắn là thuyền chiến, thuyền lương của họ phải đóng chốt và qua lại nơi đây để phục vụ cho việc cai trị vùng chiếm đóng.

Thời Lý (Lý Nam Đế), Trần người Chiêm Thành thường hay đến cướp phá ven biển hoặc bắt người bán vào Chân Lạp, nên ở cửa Khẩu có đồn binh canh giữ. Sau khi đào kênh Kinh Hạ, thuyền bè từ bắc vào thông đến cửa Khẩu ra biển.

Đời Lê, từ các cuộc nội chiến Lê-Mạc, Trịnh-Nguyễn, cửa Khẩu càng trở thành vị trí quân sự trọng yếu. Ở đây có một đội giả (thủy quân) từ 30, có khi đến 300 người đóng giữ để bảo vệ Dinh Cầu và bờ biển phía nam.

Khoảng mồng ba đến mồng 6 tháng 6 năm Canh Ngọ (1786), Tiết chế Nguyễn Huệ kéo quân ra diệt Trịnh đến cửa Khẩu. Đó là một sự kiện lịch sử quan trọng sau việc hai ông vua Trần Duệ Tông (1377) và Lê Thánh Tông (1470-1471) đi qua cửa biển này.

Đời Nguyễn, vị trí cửa Khẩu không còn như trước nữa, nên ở đây chỉ đặt “tấn” cửa Khẩu, do một tấn thủ trông coi, kiểm soát thuyền bè qua lại.

This image has an empty alt attribute; its file name is h61.jpg
(Cửa Khẩu-sông Vịnh những năm 60 thế kỷ XX-Tranh sơn dầu của Xuân Lộc)

4.11. Cửa Xích Mộ
Cửa Xích Mộ, cũng đọc là Xích Lỗ hay Tích Lỗ-Cửa nước mặn-chảy qua địa phận làng Ngưu Sơn, tổng Hoàng Lệ, sau là thôn Minh Đức, nay là xã Kỳ Nam. Nước khe Bò, khe Du, khe Di từ Đèo Ngang đổ xuống, tạo thành con sông nhỏ cùng tên, chảy mé đông bắc dãy Hoành Sơn rồi đổ xuống cửa biển này. Con sông và cửa biển Xích Mộ nằm tách biệt khỏi hệ thống sông ngòi trong huyện.

Ở thế kỷ XV, cửa biển Xích Mộ khá rộng và sâu, đoàn thuyền chiến của vua Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành (1470-1471) đã đổ lại đây. Nhà vua nghỉ lại cửa biển Xích Mộ, có cảm tác bài thơ “ Xích Mộ hải môn lữ thứ”, Ngô Linh Ngọc dịch như sau:
“Trên sông Xích Mộ lướt chèo hoa
Đất khách bâng khuâng nỗi nhớ nhà
Phòng biển sông quay thành vách lũy
Đầu mom tre đẵn ghép rui xà
Thuyền về bến vạn cơn mưa dục
Triều tới ven bờ ruộng Lạc xa
Chạnh nhớ ngày xưa gương sáng để
Đè mây vượt sóng bước xông pha.”

Sách “An Tĩnh cổ” viết: “Trong vùng đồng bằng Hoàng Lễ…, chúng ta thấy khe Bò uốn lượn để đổ ra cửa Xích Mộ. Chắc rằng cách đây vài ba thế kỷ, cửa sông này phải dịch ra phía bắc, vì…có một công sự phòng thủ lội qua lại ở đây đã bị chôn vùi dưới đồi cát, nằm theo chiều tây bắc-đông nam.”

Cửa Xích mộ xưa đã bị bồi lấp, nằm ở vị trí thôn Minh Đức bây giờ. Cửa biển hiện nay dịch chuyển xuống phía nam, hẹp và cạn.

4.12. Vũng Áng
Dải Cao Vọng, từ mũi Dung mạn bắc chạy một vòng cung rộng, bao lấy hai thôn Vĩnh Trung, Vạn Áng (nay là Vĩnh Áng, xã Kỳ Lợi), rồi tiếp tục ăn mãi ra biển khoảng 8km, đến điểm mút là Mũi Dòn ở mạn nam ( mũi Dòn gồm có Dòn Nậy, Dòn Con, có tài liệu, bản đồ ghi là ngọn Đình Chùa hay núi Ròn, sách cổ phiên âm là núi Ô Tôn). Từ hai điểm mũi Dung- mũi Dòn (khoảng 6km trở vào là Vũng Áng.

Làng chài Vĩnh Áng ở ven bờ Vũng tựa lưng vào núi, đối mặt với biển, tách khỏi các điểm dân cư khác trong xã. Từ Vũng Áng qua Eo Rồng sang phía nam là Vũng Môn (ở làng Phác Môn), vũng này hẹp nhưng nước sâu và kín đáo như cái eo.

Độ sâu trung bình trong Vũng Áng là 8 sải nước (trên 12m), rộng có thể chứa hàng chục tàu lớn cùng hàng trăm thuyền bè các loại, lại có núi cao che bao nên luôn luôn nước yên sóng lặng. Khi ngoài khơi có bão tố, trong vũng cũng chỉ có gió nhẹ, vừa đủ làm cho sóng dập dềnh.

Do có nhiều thức ăn và gió đứng, Vũng Áng trở thành một ao cá mênh mông. Thêm vào đó Vũng Áng là một thắng cảnh với núi, với biển, phía ngoài là hòn Sơn Dương, hòn Con Chim, phía trong là ngôi đền Ao Bạch-thờ bà Nguyễn Thị Bích Châu, cung phi vua Trần Duệ Tông, ở ngay cửa Vũng, và xa hơn, phía sau là đền Sát Hải, hang Hồ Hán Thương, là giếng Êch, là di tích đồn trú xưa (sách cổ chép hai đồn, vuông và tròn).

4.13. Đền Chế Thắng phu nhân (đền Bà Hải)
Đền Chế Thắng phu nhân ở làng Hải Khẩu, tổng Hoàng Lễ (nay là xã Kỳ Ninh) nên thường gọi là đền Hải Khẩu (dân gian gọi là đền Bà Hải). Đền dựng khoảng cuối thế kỷ XV, thờ bà Nguyễn Thị Bích Châu, cung phi của vua Trần Duệ Tông (1337-1377).

Theo truyện “Đền thiêng ở cửa bể” (Hải Khẩu linh từ) trong sách “Truyền kỳ tân phả” của Đoàn Thị Điểm (1705-1748), thì nàng họ Nguyễn, tên là Bích Châu, quê ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định con gái đại thần Nguyễn Tướng Công, sinh vào khoảng năm Thiệu Phong thứ 15 (1356) dưới thời Trần Dụ Tông. Bà sớm nổi tiếng thông tuệ, hiểu văn chương, biết thi phú, thạo âm luật, lại có dung mạo xinh đẹp, nên rất nổi tiếng trong vùng. Năm Long Khánh thứ 1 (1373), bà được Trần Duệ Tông tuyển vào cung.

Nhân một vế đối của nàng-đối lại vế đối của vua-có chữ phù dung, vua đặt tên hiệu cho nàng là Phù Dung, và rất yêu quý. Thấy triều đình suy kém dần, nàng bèn dâng lên vua bài “Kê minh thập sách” (Mười kế sách khuyên vua chăm lo sửa sang việc nước. Kê minh là gà gáy-một bài thơ Tề phong trong Kinh thi nói về chuyện bà phi khuyên vua dậy trước lúc gà gáy để coi chầu sớm), nhưng không được vua nghe theo…Khi Duệ Tông muốn cất quân đi đánh Chiêm Thành, nàng lại cùng Ngự sử Lê Tích hết sức can ngăn, vua vẫn không nghe. Nàng bèn xin theo hầu…

Quân Trần xuất binh cờ xí rợp trời, chiêng trống dậy đất, trùng trùng lớp lớp, binh sĩ gươm giáo sáng loáng, hùng khí chất ngất từng mây. Nhưng khi đoàn thuyền chiến vừa đến cửa bể Kỳ Hoa (nay là Kỳ Lợi, Kỳ Anh, Hà Tĩnh) trời bỗng nổi cơn phong ba bão táp. Binh thuyền phải vất vả thương tổn khá nhiều mới ràng nổi dây neo. Nhưng cơn dông bão vẫn dai dẳng càng lúc càng dữ dội hơn. Nhà vua nhất quyết đợi tan cơn bão sẽ tiến binh tiếp.

Đêm ấy, vua Duệ Tông mộng thấy vị thần muốn xin vua ban cho một người thiếp, nếu được như ý nguyện, mới làm cho bể yên, sóng lặng. Vua sợ hãi, vội cho đòi các quan tướng và phi tần đến kể lại giấc mơ. Trong khi các quan tướng chưa biết đối ứng thế nào, thì Bích Châu từ sau trướng bước ra, nói: “Tiện thiếp tình nguyện liều tấm thân bèo bọt này để chu toàn cho đoàn ngự giá và quan quân”.
Rồi Bà thanh thản để thị nữ xông trầm, trang điểm, thoáng chốc, đã trâm thoa, xiêm gấm, hài thêu lộng lẫy bước ra, đến sụp quỳ lạy nhà vua, cầu chúc nhà vua bình tĩnh và đại thắng, rồi quay về hướng Bắc lạy cha mẹ, vái chào tử biệt hàng quan quân, trang nghiêm đến ngồi vào lòng chiếc thuyền nhỏ cắm đại hoàng kỳ (cờ nhà vua). Thuyền được quan quân thòng dây thả xuống biển giữa những cơn sóng thần liên tiếp quật nước lên cao. Vừa đụng nước, chiếc thuyền lập tức quay vòng ngụp lặn với sóng cả rồi chìm mất hút…

Hai ngày sau bão mới ngớt, xác Bích Châu nổi trên mặt biển, vẫn uy nghi trong bộ triều phục, nhấp nhô theo làn sóng bạc trôi dần vào bờ, được dân làng vớt lên rước đi an táng tại làng Kỳ Hoa. Lúc đó đoàn thuyền chiến của vua Trần Duệ Tông đã lướt tiến khá xa, chở đầy những bầu máu nóng lao vào trận tiền với quyết tâm diệt giặc giữ yên bờ cõi, đền bù tâm nguyện của phu nhân Bích Châu trước giờ tử biệt. Thế nhưng, vì Trần Duệ Tông không nghe lời can gián, vẫn cho quân tiến sâu vào đất Chiêm, nên bất ngờ bị trúng mưu của Chế Bồng Nga, toàn quân tan rã.

Một thế kỷ sau. Năm Hồng Đức (1470), vua Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành, qua cửa biển Kỳ Hoa, tới chỗ bà Bích Châu đã trầm mình. Bà hiện lên báo mộng cho vua Lê và xin làm lễ giải thoát. Biết chuyện, hôm sau nhà vua viết một tờ hịch hạch tội quỷ thần, sai thả xuống biển. Truyền thuyết kể lập tức vị này bị chém chết, xác nổi lên mặt nước. Để ghi nhận và ca ngợi công lao của bà, nhà vua đã làm bài thơ “Vịnh chế thắng phu nhân”.

Sau khi thắng trận trở về, vua hạ chiếu lập đền, cấp ruộng tế và người trông coi, sắc phong cho bà là Chế Thắng, nên đền được gọi là Chế Thắng Phu Nhân. Hàng năm, vào 12 tháng 2 âm lịch, nhân dân xã Kỳ Ninh và làng Hải Phong Kỳ Lợi tổ chức giỗ bà.

Đền Bà Hải được xây dựng trên bãi đất pha cát biển rộng khoảng 4.500m², quay về hướng Đông Nam. Bên phải là cửa Khẩu và núi Cao Vọng, bên trái là núi Ô Tôn, trước mặt là bãi biển Vũng Áng, sau lưng là núi Bàn Độ. Lúc đầu kết cấu đền chỉ có tiền miếu hậu lăng.

Năm 1471 trong lần đem quân đi đánh Chiêm Thành thứ hai giành chiến thắng trở về vua Lê Thánh Tông cho quân dừng lại nơi đây và sai người chặt gỗ, gọt đá xây dựng ba toà điện thờ bà và sắc phong cho bà là: “Chế Thắng phu nhân”

Kiến trúc khu đền ngày nay bao gồm hai khu vực: Khu công trình phụ gồm cổng phụ, đường đi, cổng chính và nhà quan tả; Khu công trình chính gồm Hạ điện, Trung điện và Thượng điện nhà tiếp khách, nhà sắc và khu hành lang. Ba toà điện Hạ điện, Trung điện, Thượng điện và nhà dâng hương là hệ thống nối liền khép kín với nhau kiến trúc theo kiểu chữ Công (工). Phía sau Thượng điện có mộ của Quý phi Nguyễn Thị Bích Châu.

Như vậy, có hai ngôi đền thờ bà Nguyễn Thị Bích Châu ở Kỳ Anh. Ngoài đền Bà Hải ở Kỳ Ninh thì đền Eo Bạch nằm dưới chân núi Ô tôn, Vũng Áng với lịch sử tồn tại lâu đời, đã được công nhận di tích lịch sử cấp tỉnh năm 2005, nhân dân gọi là đền Thánh mẫu, xây trước đền Bà Hải. (Theo lời truyền trong dân gian thì Eo Bạch là nơi thi thể nàng Bích Châu nổi lên và tấp vào bờ nên được người dân chôn cất và lập đền thờ, sau này mới lập đền thứ hai ở cửa Khẩu)

Đền “Chế Thắng phu nhân” ở Hải Khẩu là một di tích lịch sử-văn hóa quan trọng của Hà Tĩnh.

Lời bàn: Chính sử không thấy ghi chép nhiều về Nguyễn Thị Bích Châu, nên câu chuyện trên đây chỉ là một tác phẩm văn học dựa theo truyền thuyết dân gian. Nhưng việc một cung phi của vua Trần Duệ Tông chết ở cửa biển Kỳ Hoa có thể là hoàn toàn thật. Khi vua Lê Thánh Tông qua đây nghe kể chuyện Nàng Bích Châu, bèn sai lập đền thờ. Cũng có thể nhân dân đã lập đền thờ trước, khi vua qua đây biết chuyện mới có sắc phong.

Xung quanh những truyền thuyết về nàng Bích Châu, chúng tôi cho rằng bài viết dưới đây là thực tế gần với chính sử hơn cả:
Năm 1376, vua Trần Duệ Tông có ý định đem quân đi đánh giặc Chiêm Thành, nhiều người khuyên can, song vua không nghe. Lúc này, bà Nguyễn Thị Bích Châu bèn viết bài biểu dâng lên vua. Bài biểu viết: “Thiếp trộm nghĩ: Việc trị đạo trước gốc sau ngọn, xin nghỉ binh cho dân chúng được yên lành, muốn trị kẻ rắn nên mềm dẻo thuyết phục, muốn quy phục ta cốt lấy đức. Vua đời Ngu chỉ múa nhạc mà 7 tuần giặc Hữu Mưu phải hàng. Vua nhà Hạ chỉ gảy đàn mà chặn một tháng rợ Hồ quy phục, đó là thượng sách, xin bệ hạ xét đoán cho minh…”. Bài biểu dâng lên nhưng vua không chấp thuận.

Đến khi vua Trần Duệ Tông cất binh chinh phạt Chiêm Thành, cung phi Nguyễn Thị Bích Châu nài đi theo quân lính và được vua chuẩn y. Khi quan quân nhà Trần đến cửa Thị Nại (Quy Nhơn), vua Chiêm là Chế Bồng Nga cho sứ giả đem vàng ngọc tới quan quân ta để trá hàng, nhưng sau đó lại bất ngờ tiến đánh vào lúc nửa đêm. Nguyễn Thị Bích Châu cưỡi ngựa tả xung hữu đột, cầm quân xung trận và bị trúng tên độc, bà từ trần. Ba ngày sau, vì bệnh nặng lại thương tiếc quý phi, nhà vua phiền não nên cũng băng hà (3-1377) . Quân nhà Trần đưa thi thể đức vua và quý phi rút về kinh, khi tới Châu Hoan gặp sóng to gió lớn phải ghé vào vũng Ô Tôn (cảng Vũng Áng ngày nay).

Ngày 28 tháng giêng năm Hồng Vũ thứ 10 [8/3/1377], Trần Đoan [vua Trần Duệ Tông] nước An Nam mang binh giao tranh với Chiêm thành, bị đại bại tại đất Chiêm Thành. Đoan tử trận.” Minh Thực Lục quan hệ Trung Quốc Việt Nam, tập 1, trang 153.

Lúc này, triều đình lập vua mới, vua Trần Phế Đế lên ngôi. Nhà vua lệnh cho quần thần rước linh cữu vua Trần Duệ Tông về bằng đường bộ, còn linh cữu của quý phi Bích Châu đi đường biển bằng tàu. Hôm sau biển lặng, đoàn tàu nhổ neo tiến về Bắc, nhưng mới tiến được 50 dặm lại bị gió bắc tràn về không thể đi được. Quan hướng đạo đành thu quân vào dựa tại Vũng Áng, thuộc Kỳ Hoa. Chờ lâu ngày biển vẫn không lặng, triều đình đành xuống chiếu cho quan quân an táng linh cữu và lập miếu thờ quý phi tại núi Ô Tôn, vùng Eo Bạch, huyện Kỳ Hoa, thuộc châu Hoan.

Năm 1470, trong một lần đem quân đi đánh Chiêm Thành, vua Lê Thánh Tông dừng chân hạ lệnh soạn đồ tế lễ, dâng hương tại miếu thờ quý phi Nguyễn Thị Bích Châu. Đêm đó, vua có mộng lành, liền động binh xuất cờ tiến quân dẹp giặc. Chiến thắng trở về, vua trở lại nơi đây và sai quân lính vào rừng đốn gỗ lim, lên núi đào, gọt đá, huy động các thợ nề, mộc giỏi xây dựng lên ba tòa điện thờ và sắc phong cho bà là “Chế Thắng phu nhân” (nghĩa là: Người phụ nữ đã sắp đặt mưu lược để thắng địch).

Đền Chế Thắng phu nhân từ đó đến nay được tu sửa ngày càng to đẹp. Trước là tòa hạ đường nguy nga cổ kính, phía sau là tòa thượng đường, hậu đường…Tương truyền phía sau là lăng mộ. Trong đền có rất nhiều tự khí, hoành phi, đối liễn sơn son thiếp vàng…do các quan tỉnh, phủ , huyện, tổng, xã…cúng.

Đây là một một trong những câu đối:
-“ Ngọc diện hội giang sơn, Trần chi hậu, Lê chi tiền, nhất phiến cương thường phù địa trục,
-“ Băng tâm bang thủy quốc, tùng chi phong, mai chi tuyết, thiên thu khí cốc trấn thiên duy”

Nghĩa là:
Mặt ngọc hội non sông, sau Trần, trước Lê, một mảnh cương thường nâng trục đất,
Lòng băng ngời biển cả, gió tùng, mai tuyết, nghìn thu khí cốt trấn ven trời

            This image has an empty alt attribute; its file name is den-eo-bach-2_023540.gif   This image has an empty alt attribute; its file name is den_mau_ky_anh1.jpg
                               Đền Eo Bạch                                    Đền Bà Hải

4.14. Đền Thần Đầu
Đền ở làng Thần Đầu, nay là xã Kỳ Phương, nên sử sách thường chép là “ đền Thần Đầu”, còn dân gian thì quen gọi là “Đền hai quan trạng”. Thực ra ở Thần Đầu có ba ngôi đền khác nhau: “Lãm sơn tiên sinh từ” thờ Lê Quảng Chí (1451-1533), “Bảng quận công từ” thờ Lê Quảng Ý (1453-1526). Hai ngôi đền này do dân làng Thần Đầu lập sau khi hai ông mất.

Xưa có câu đối ca ngợi:
Nhất môn khoa giáp nan huynh đệ
Song miếu anh linh tự cổ kim”

Dịch (Thái Kim Đỉnh):
Khoa giáp một nhà ai bác, chú
Anh linh hai miếu tự xưa nay

Về sau, xã Hoằng Lệ, tổng Hoằng Lệ (nay là hai xã Kỳ Nam, Kỳ Phương), lập thêm ngôi đền thờ ở gần mộ hai ông, ven đường quan lộ (nay là quốc lộ 1A) cạnh “cầu Thánh Trạng”. Đời Tự Đức, sứ Tàu là Lao Sùng Quang qua đây có đề hai câu thơ:
“Thùy gia hảo huynh đệ,
Song miếu uất tinh linh”

Dịch (Đặng Chu):
Anh em danh tiếng một nhà
Tinh linh hai miếu sáng lòa nghìn thu

Khoảng năm 1875, quân triều đình Huế ra dẹp cuộc khởi nghĩa của quân Cờ Vàng do Trần Quang Cán lảnh đạo đã đốt cháy ba ngôi đền này. Đến năm Tự Đức thứ 36 (1883) nhân dân mới xây dựng lại. Năm Tân Tỵ đời Bảo Đại (1941) làng Thần Đầu lại tu bổ thêm.

Sau cách mạng, các ngôi đền đều đã bị phá dở, đền Lãm sơn tiên sinh Lê Quảng Chí ở Kỳ Phương dùng làm nhà kho, bị hư hỏng nặng, các tự khí đều mất sạch, chỉ còn lại vài tấm màn, cửa võng và 16 đạo sắc phong. (13 của Lê Quảng Chí, 3 của Lê Quảng Ý). Đạo sớm nhất vào năm Dương Hòa thừ 5 (1639), đạo muộn nhất vào năm Khải Định thứ 9 (1924).

Đền thờ và mộ Lê Quảng Chí – Lê Quảng Ý nằm cạnh đường Quốc lộ 1A, hiện nay thuộc TDP Hồng Sơn, phường Kỳ Phương, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Đền được Bộ Văn hóa ra quyết định công nhận, xếp hạng là di tích danh nhân Lịch sử-Văn hóa cấp quốc gia tại Quyết định số 51 QĐ/BT ngày 29/01/1996, và đang được tôn tạo.

   This image has an empty alt attribute; its file name is den_tho_va_mo_le_quang_chi-le_quang_y_104422.jpeg
Đền thờ và mộ Lê Quảng Chí-Lê Quảng Ý đang được tôn tạo

4.15. Đền Phạm trấn tướng Thọ quận công
Phạm Tiêm là một võ quan, sinh trưởng trong dòng họ có nhiều người làm quan, như Tĩnh Quốc công Phạm Đốc (1514-1559), Hoa Quận công Phạm Trịnh, Khuê Quận công Phạm Đinh, Điện Quận công Phạm Hoành. Ông là con trai trưởng của Thái úy Phạm Đốc (có tài liệu cho rằng Phạm Đốc là Thượng thư Bộ Binh, con nuôi Trịnh Kiểm. Là một danh tướng xếp 22/26 vị danh tướng kể từ thời Đinh Tiên Hoàng đến thời Gia Long) quê gốc ở xã Thần Khê, huyện Vĩnh Lại, phủ Ninh Nhân.(Hải Dương) Khi làm trấn thủ Nghệ An đóng tại Dinh Cầu (có núi Yên Ngựa, xã Hà Trung, Kỳ Anh) quan trấn Phạm Tiêm lập ấp ở tổng Đậu Chữ (Đỗ Chữ), nay là đất Hưng Nhân. Ông tổ chức nhân dân khai hoang tạo nên cánh đồng xứ Đồng Nại, đắp đê ngăn mặn lấp cửa Lỗ và làm hệ thống thủy lợi dưới chân núi Cao Vọng. Ngoài việc chăm lo đời sống cho nhân dân, ông còn có công giúp nhà Lê chống lại nhà Mạc.

Để tưởng nhớ công đức của ông, sau khi ông mất dân làng đã lập đền thờ ngay trên mảnh đất ông sinh sống. Ông trở thành Thủy tổ dòng họ Phạm ở đây và đền thờ còn được gọi là đền Thánh Tổ (Thánh Tổ từ). Hiện đền thờ trong khuôn viên rộng rãi được cây cối bao bọc bốn phía, nằm trên vùng bán sơn địa đất đỏ bazan. Khu di tích có nơi thờ chư vị bách thần, nhà bái đường, thượng điện và không xa ở phía đông là phần mộ của ông.

Trải qua thời gian và thăng trầm lịch sử, đền bị tàn phá nhiều lần cả do chiến tranh cũng như do ý thức của con người, có lúc gần như phế tích. Hiện ngôi đền khá khiêm tốn so với trước nhưng cũng là di tích hiếm hoi trong vùng còn sót lại. Đền còn giữ được các tài liệu hiện vật gốc có giá trị lịch sử như đại tự, hoành phi, câu đối,… và đặc biệt là các sắc phong của các triều vua Cảnh Hưng, Tự Đức, Minh Mệnh, Thiệu Trị, Thành Thái, Đồng Khánh. Trước cổng đền có khắc hai câu đối:

Lê triều bút tích kim do tại
Phạm tính công danh cổ thượng tồn.
Tạm dịch:
Bút tích triều Lê nay vẫn đó
Công lao họ Phạm mãi trường tồn.

Hàng năm ở đền có lễ giổ Thánh tổ vào ngày 12 tháng mười âm lịch.


4.16. Đền Thánh Tiên (đền Chào)
Phạm Hoành là con trai của Khuê quận công Phạm Định, cháu 4 đời của Thọ quận công Phạm Tiêm. Gia đình ông có bốn anh em, Phạm Hoành là con trai cả. Vốn xuất thân từ gia đình dòng võ tộc, có nhiều người học hành đỗ đạt làm quan nên từ nhỏ ông đã tỏ ra là một người thông minh, ham luyện cung tên, võ nghệ. Lớn lên trong hoàn cảnh đất nước bị loạn giặc, với tài sử dụng binh khí, võ nghệ điêu luyện, ông đã trở thành một vị tướng lĩnh trung thành, giúp triều đình nhà Lê dẹp Mạc.

Trong trận chiến với nhà Mạc ở Hoan Châu (Nghệ An), sau khi giao tranh ông đang truy kích bị địch đánh tập hậu, ông bị thương, sau trận này ông đã về quê điều trị rồi từ trần vào mùa xuân năm Quý Tỵ (1593) vào ngày mồng 6 tháng Giêng.

Tương truyền, lúc làm trấn thủ Nghệ An, ông đóng quân ở Đá Bạc, ra trận bị chém đứt đầu, phi ngựa về đến làng Sơn triều thì ngả xuống. Dân làng Sơn Triều và làng Hưng Nhân cùng lập đền thờ ông ở dưới động Chào (nay là xã Kỳ Thọ), thường gọi là đền Chào hay “đền Thánh Tiên”. Trong đền nghe nói từng có bức tượng bằng đồng đen, hàng năm ở đây có lễ giỗ Thánh Tiên vào ngày 6 tháng giêng âm lịch.

Đền Thánh Tiên-đền Chào-xưa đứng bên đường quan lộ-quốc lộ 1A-cảnh rất đẹp. Ngô Thì Nhậm (1746-1803) trong bài “Dinh Cẩu hữu cảm” có câu nói về cảnh đền này:

Tế liễu lục thùy tiên thánh miếu” (Cây liễu buông mành biếc trước miếu Tiên Thánh)

Đền Phạm Hoành và đền Phạm Tiêm ở Hưng Nhân đã bị đổ nát, nay đang được phục hồi tu sửa.

  
This image has an empty alt attribute; its file name is den-phamhoanh.jpg
Đền Thánh Tiên-đền Chào

4.17. Đền thờ Liễu Hạnh công chúa

Ở dưới chân Đèo Ngang thuộc địa phận xã Kỳ Nam có một ngôi miếu nhỏ thờ Liễu Hạnh công chúa.
Miếu này gắn với một truyền thuyết về bà chúa Liễu:
“Liễu Hạnh là con gái Ngọc Hoàng, tính tình phóng túng, không chịu theo khuôn phép nhà trời. Ngọc Hoàng phạt đày nàng xuống trần 3 năm. Liễu Hạnh hóa thân thành cô gái đẹp cùng vài nữ tỳ dựng quán hàng ở chân Đèo Ngang, bên đường Thiên Lý. Ngày nào quán cũng đông khách. Bất cứ ai lên xuống đèo đều phải ghé lại quán duy nhất ven đường rừng có cô chủ quán xinh đẹp. Nhưng hễ ai vào nghỉ ngơi, ăn bánh, uống nước rồi tiếp tục lên đường thì không sao, còn ai giở trò cợt nhã, làm điều bất chính, thì khi trở về không lăn ra chết thì cũng điên dại…Tiếng đồn về cô chủ quán Đèo Ngang lan ra đến đất Thăng Long. Một hoàng tử con vua Lê Thái Tông ham mê sắc dục, liền cùng một số kẻ hầu hạ, cải trang vào tận nơi để thõa mãn tính hiếu kỳ…Liễu Hạnh đã biết trước chuyện này, hóa phép thành cây đào tiên ven đường, chỉ có một quả chín mọng. Hoàng tử hái định ăn thì quả đào nhỏ dần rồi biến mất. Chàng hoàng tử trẻ không hiểu Liễu Hạnh cảnh cáo mình, nên vào quán, nấn ná tới chiều rồi xin nghỉ lại…Đêm đến, cô chủ quán vẫn ngồi nói chuyện với hoàng tử đến khuya. Chàng liền buông lời chọc giẹo…bị cô từ chối bỏ vào nhà trong. Chàng theo vào thì không thấy cô chủ đâu mà lại thấy một cô gái đẹp khác. Chàng vừa đụng đến cô ta thì hóa ra đó là một con khỉ cái già. Chàng ta hoảng quá, hú lên. Bọn lính hầu ở ngoài sân nghe, xông vào, con khỉ già lại hóa thành con rắn mang hoa, bò qua người hoàng tử rồi leo lên xà nhà, miệng phun lửa phì phì…Hoàng tử được cấp tốc đưa về Thăng Long và trở nên điên dại. Các thầy thuốc đều bó tay. Cuối cùng nhà vua hỏi ra ngọn ngành và có người mách cho, đành sai người vào Thanh nhờ tám vị Kim Cương đến Đèo Ngang trị con chủ quán yêu quái….Tám vị Kim Cương-bộ hạ của Phật bà-đánh nhau với Liễu Hạnh ba ngày ba đêm liền, rừng núi Đèo Ngang biến thành bãi chiến trường tan hoang. Tám vị Kim Cương không thắng nổi Liễu Hạnh đành nhờ Phật bà giúp đỡ mới bắt được Liễu Hạnh đưa về kinh…Liễu Hạnh xưng mình là con Trời và việc nàng trừng trị bọn đàn ông xấu, thường chọc ghẹo con gái là hợp phép nước.  Nhà vua nghe xong, đổi giận làm lành, thả nàng về núi, khuyên không nên làm hại dân lành.

Ít lâu sau, công chúa Liễu hạnh sinh một con trai, mỗi bàn tay đều có 6 ngón. Lúc ấy cũng là lúc hết hạn đi đày, nàng đem con gửi cho một vị sư trên núi Ngàn Hống nhờ nuôi hộ và giúp con mình về sau được lừng danh, rồi về trời*…”

Về sau, nhân dân địa phương lập miếu thờ Liễu Hạnh công chúa trên vùng đất tương truyền là chợ Ba Đồng, nơi công chúa Liễu Hạnh mở quán ngày xưa. Dân gian hay gọi là “quán bà chúa Liễu” hay “Miếu bà chúa sơn”. Ngôi miếu nhỏ này hiện vẫn còn gần dưới chân Đèo Ngang. Trong miếu có 3 pho tượng( Tam tòa thánh mẫu) và câu đối:
Lục quý linh thông thần tự tại
Tam thừa diệu ứng Phật như lai”**

Chú:
* Theo lời kể của người Hà Tĩnh và sách của Lăng-đờ (Truyện Kể và truyện cổ tích An Nam)
** Tam tòa Thánh Mãu, ở Hà Tĩnh có rất nhiều nơi thờ Liễu Hạnh công chúa, Tam tòa thánh Mẫu –còn gọi là Tứ vị hay Tứ phủ, Mã Voòng công chúa.

            This image has an empty alt attribute; its file name is lieuhanhcongchua.jpg
Đền Liễu Hạnh công chúa

4.18. Chùa Phúc Toàn (Chùa Dền)
Chùa Phúc Toàn (Phúc Toàn tự) thường gọi là chùa Dền, là chùa ở làng Hiệu Thuận, nay thuộc xã Kỳ Châu, gần huyện thành Kỳ Anh xưa.*

Theo một tài liệu của thủ chỉ làng Hiệu Thuận, Lê Xuân Tiu, ghi lại thì vào cuối đời Lê, có người đàng trong (Quảng Trị hay Thừa Thiên) tên Thái Như Nguyện ra buôn bán, làm ăn ở thôn Vạn Cảnh và lấy vợ ở đây. Nhưng ông bà không có con, ông bèn bàn với các người già ở địa phương quên góp lập nên ngôi chùa nhỏ. Trong chùa có 2 bức tượng Phật bằng sứ, mãi về sau mới có mấy bức tượng Phật “ Tam thế” son son thiếp vàng.

Năm Nhâm Tuất đời Gia Long (1802) Vạn Cảnh đổi tên là Hiệu Thuận, chùa được trùng tu, có 2 ngôi nhà nhỏ, tự khí được mua sắm thêm, số tượng Phật cũng nhiều thêm, có 14 pho.

Đến năm Tân Tỵ, đời Bảo Đại (1941), làng Hiệu Thuận làm thêm ngôi hạ đường 4 gian, cũng cột lim, mái ngói. Trong chùa, ngoài tự khí có tới gần 50 pho tượng. Ở hạ đường có treo tấm biển gỗ khắc ba chữ “Phúc Toàn tự”**

Ngày nay chùa vẫn giữ được gần nguyên trạng, nhưng cả ba ngôi nhà đều hư hỏng ít nhiều. Trong chùa còn có một cỗ kiệu và đôi liễn ở miếu Tiên Thánh (thờ Phạm Hoành ở đền Chào) đưa về hợp tự ở đây.

Ghi chú:
* Chùa Phúc Toàn không phải là chùa lớn hay có tiếng như các chùa Bàn Độ, Phú Dẫn, Lý Nhân…, nhưng hiện nay chùa này còn tương đối nguyên vẹn, trừ cảnh quan bị hư hỏng nhiều.
** Trên tấm biển đại tự này, chữ “Phúc”, đứng bên tay phải, chữ “Toàn” bên tay trái, và chữ “Tự” ở giữa, nên có tài liệu chép sai thành “Phúc Tự Toàn”. Chúng tôi nghĩ tên chùa phải là: “Toàn Phúc Tự”

    This image has an empty alt attribute; its file name is phuctoan.jpg
Chùa Phúc Toàn (chùa Dền)

4.19. Lũy cũ Lâm Ấp

Thạch thành Lâm Ấp trúc – thành đá người Lâm Ấp xây(thơ Bùi Dương Lịch) là dãy lũy trên núi Hoành Sơn nằm giữa hai tỉnh Hà Tĩnh-Quảng Bình. Một số sách chép rằng lũy này do chúa Lâm Ấp (Chiêm Thành) là Phạm Văn (345-375) khởi công xây dựng để bảo vệ biên giới phía bắc. Lũy bắt đầu từ địa phận làng Ngưu Sơn, tổng Hoàng Lễ (nay là các xã Kỳ Nam, Kỳ Phương) kéo lên đến các làng Xuân Quan, Xuân Sơn, tổng Vọng Liệu (Kỳ Lạc) dài khoảng 30km.

Sách “ Địa dư tỉnh Hà Tĩnh” của đốc học Trần Kinh xuất bản năm 1939 mô tả: ‘ …lũy đoạn thì đắp dọc theo chân núi, đoạn thì băng qua những hòn đơn, đoạn thì thẳng đoạn thì cong…Hiện nay còn thấy rải rác mỗi nơi một đoạn, có đoạn dài 4-5 km, có đoạn vài ba chục thước, đoạn thì bằng đá, đoạn thì bằng đất. Những đoạn bằng đá thấy còn hình dáng rõ ràng, bề cao chừng 1,5m, bề dày hơn 1m. Những đoạn bằng đất thì đã vở lở phần nhiều, không còn mấy nơi nguyên vẹn…”.

Theo khảo sát thực địa năm 1965 thì ở phía đông có nhiều đoạn lũy đá cao tới 3-4 m, và rộng hơn 1m, có chổ cây lớn mọc trên lũy vẫn đứng vững.

Điểm chót của dảy lũy là ở làng Xuân Sơn (Kỳ Lạc). Ở đây đời Lê có đồn thống lĩnh, chưa biết đặt từ bao giờ, đời Lê vẫn là thành đá, đến đời Nguyễn, đời Minh Mạng thứ 13 (1832) đắp bằng đất, đặt quân đồn trú.

 4.20. Di tích trấn lỵ Dinh Cầu
Được lập vào năm 1631 bởi Tây quận công Trịnh Tạc thời Lê-Trịnh và bị đốt cháy vào năm 1768 bởi trấn thủ Bùi Thế Toại cuối thời Lê-Trịnh.

Trấn lỵ Dinh Cầu đặt trên ngọn đồi của thôn Biểu Duệ, nay thường gọi là “Cụp Cồn Chòi” xóm Văn Miếu, xã Kỳ Tân. Dinh trấn thủ, cũng là quân dinh, đóng chính giữa (có thể vào khoảng vị trí trường THCS Kỳ Tân hiện nay), nay không còn dấu vết gì. Mé đông, trước dinh có “Cồn Chòi” (cũng gọi là cột cờ) là một mô đất cao chừng 4-5m, rộng khoảng 1 sào Trung bộ, gần đây vẫn còn, nay bị địa phương đào lấy đất, san bằng để sản xuất. Dưới chân đồi có hồ Chèo, thông với khe Lau, nay cũng bị lấp một phần, còn lại biến thành ruộng lúa, có chiều dài khoảng 600m. Hồ này xưa là nơi cung cấp nước cho trấn thành. Tương truyền mé tây là kho dầu, mé bắc là kho thuốc, một vòng lũy đất, đá xây quanh dưới chân đồi, bao cả hồ Chèo, nay còn dấu vết ở một số đoạn, không còn thấy dấu tích của các cổng thành.

Phía đông bắc “Cụp Cồn Chòi” có ngọn đồi, trước gọi là xóm Tả Trấn. Đây chính là đồn của cơ Tả Trấn. Đối diện đồn Tả trấn, ở phía đông nam thành, gần hồ Mạ, mé quốc lộ 1A bây giờ là đồn cơ Hữu trấn. Xa hơn, ở phía tây bắc thành, trên cụp Nhà Cao (nay là xóm Tả Ninh, xã Kỳ Văn) là đồn trại của cơ Tả Ninh, ở đây còn nền cột cờ cao chừng 3m, gần đó có 2 cái hố gọi là “ đấu lường quân”, có giếng Tả Ninh, hồ Rèn, hồ Chùa. Bên cạnh cơ Tả Ninh là cơ Hữu Ninh mà đồn sở nay thuộc địa phận xã Kỳ Tân.

Phía bắc dinh Trấn thủ nay còn có nơi gọi là “kho súng” và phía nam có vùng đồi cỏ gọi là “tùng ngựa”, tương truyền là trại nuôi ngựa. Ở xã Kỳ Hoa lại có vùng đất gọi là “cửa kho” và có dấu vết nhà cửa. Có thể đây là kho lương vùng nam trấn Nghệ An như có một số sách cổ có nói đến.

Dọc phía tây Trấn dinh, từ Kỳ Hoa qua Kỳ Tân đến Kỳ Văn còn dấu vết nhiều đoạn lũy, nhân dân gọi là “lũy ông Ninh”. Cách Trấn thành không xa còn có hai cồn “hỏa hiệu”, một ở làng Huy Lôi dưới chân núi Yên Ngựa,(nay thuộc xã Kỳ Tân), một ở làng Lạc Dị (nay thuộc Kỳ Trinh). Ở cửa Khẩu, tại thôn Tả Hãn ? (Kỳ Hải) xưa là nơi đóng quân của đội giã (thủy quân) Tả hãn.

4.21. Trại Tuần Tượng
Trại Tuần Tượng, dân quen gọi theo tên Nôm là trại Voi hay xứ Voi, thời cuối Lê, đầu Nguyễn là xã Cấp Dẫn, tổng Cấp Dẫn, trước cách mạng (1945) là các làng Hữu Lạc, Phương Giai, Tuần Tượng, Hữu Lệ, Sơn Kinh. Sau năm 1945 là xã Cấp Đình, khoảng 1950-1952 là xã Kỳ Nam, từ 1954 lại nay là hai xã Kỳ Bắc và Kỳ Phong.

Đất Hà Hoa xưa kia vốn nhiều voi. Từ đời Lê triều đình đã cho lập trại nuôi voi, luyện voi chiến, voi tải…

Trong cuộc chiến tranh Trịnh-Nguyễn (1627-1672) và cả về sau, trại Tuần Tượng không chỉ là nơi luyện voi mà còn là căn cứ hậu cần quan trọng của trấn lỵ Dinh Cầu.

Đời Tây Sơn, vua Quang Trung sai viên tướng tâm phúc là Nguyễn Tiến Thiệu đóng quân tại Kỳ Hoa, chuyên việc luyện voi. Trong đoàn quân của Nguyễn Huệ ra Bắc tiêu diệt quân Thanh mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789) có những đội tượng binh được huấn luyện tại trại voi này.

Đời Nguyễn, trại voi này mới bãi bỏ. Nhưng đội tượng binh trấn Nghệ An gồm 21 thớt voi, chủ yếu là voi rừng ở Kỳ Hoa. Trên đường Thiên lý Bắc—Nam, ở trại voi có dịch trạm, đóng ở làng Hữu Lạc, gọi là trạm Tĩnh Lạc, thường gọi là trạm Voi.
Quán Voi là nơi nổi danh với bánh tày Voi, gói bằng nếp rồng ở địa phương.

4.22. Di tích huyện thành Kỳ Anh

Huyện thành Kỳ Anh, đời đầu Nguyễn là phủ thành Kỳ Hoa (từ 1841 là phủ Hà Thanh), đặt tại làng Nhân Canh, sau cách mạng (1945) là xã Kỳ Châu, nay thuộc thị trấn Kỳ Anh.

Đầu đời Gia Long (khoảng 1802-1805) thành bắt đầu đắp bằng đất, đến năm Minh Mạng thứ tư (1823) được xây bằng đá ong. Thành hình vuông, có 4 góc lồi kiểu vô-băng (vauban), chu vi 167 trượng (668m), dày 2 thước 1 tấc (0,84m), cao 7 thước 3 tấc (2,92m), có 3 cửa tiền (hướng nam), tả, hữu. Quanh thành có hào rộng 1 trượng 6 thước (6,4m), sau 4 thước 5 tấc (1,8m)

Phía nam thành, đối diện với mặt tiền, xưa kia là trường học (Hán học) phủ Hà Hoa, xây dựng năm Minh Mạnh thứ 10 (1830), từ năm Tự Đức thứ 6 (1854) đổi là trường huyện Kỳ Anh và sau năm 1920 thì bị bãi bỏ.

Trong thành, con đường thẳng nối cửa tả và cửa hữu cắt ngang, chia thành hai khu. Khu phía trước, chính giữa, thẳng từ cửa tiền vào là công đường, sau công đường là tư thất, bên trái công đường có ngôi miếu nhỏ, thường gọi là đền Nha, bên phải là trại lính lệ và trại giam, trước mặt trại này là trường tiểu học Pháp-Việt. Khu phía sau là trại lính…Chợ họp trước thành, nay là xóm Chợ Huyện. Thành Kỳ Anh đã bị phá trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

4.23 Đền Phương Giai
Đền ở làng Phương Giai, tổng Cấp Dẫn, nay là xã Kỳ Bắc, có ba toà thượng, trung, hạ đường xếp theo hình chữ “tam” xây trên khu vườn rộng khoảng 1 mẫu rưỡi, xung quanh cây cối xanh tốt. Đền Phương Giai thờ ông Dương Trí Tri (có sách chép Phùng Trí Tri), người xã Duy Liệt, sau là Liệt Thượng (nay là xã Kỳ Phú). Ông đỗ Nhị giáp tiến sĩ (Hoàng giáp) khoa Đinh Mùi niên hiệu Vĩnh Định đời Mạc Phúc Nguyên (1547), làm quan đến chức Hàn lâm, thường gọi “Quan Hoàng Liệt Thượng”.

Ở địa phương có giai thoại: Sau khi ông đỗ, vua gả công chúa, ông không chịu lấy, nên vua bắt phải tự sát. Chuyện ấy chắc là những người nhà Lê bịa ra để nói xấu nhà Mạc, vì Đăng khoa lục chép là ông làm quan nhà Mạc đến chức Hàn lâm.

Sau khi ông mất, dân làng Phương Giai và một số làng khác dựng đền thờ. Tương truyền “Quan Hoàng” rất giỏi thuốc, ai đau ốm đến cầu Thần xin thuốc đều lành bệnh. Có lần, trong vùng có dịch đậu mùa, Thần cho thuốc chữa, nên không có ai chết…Về sau, dân trong vùng không nhớ tên Thần là gì, chỉ biết đền Phương Giai thờ ông thầy thuốc”.

Đầu thế kỷ XX các đảng viên Tân Việt và Cộng sản đều lấy đền Phương Giai làm nơi lui tới, gặp gỡ, bàn bạc công việc. Trong hai ngày 4 và 5 tháng 6 năm 1930, đền Phương Giai là nơi được chọn làm địa điểm họp Hội nghị thành lập Đảng bộ Đảng cộng sản huyện Kỳ Anh, bầu Ban huyện uỷ 7 người, do ông Nguyễn Tiến Liên làm Bí thư (Theo “ Lịch sử Đảng bộ huyện Kỳ Anh ” XB. 6/2003). Năm 1994, được Bộ Văn hóa – Thông tin cấp bằng di tích Lịch sử – Văn hóa cấp Quốc gia.

This image has an empty alt attribute; its file name is phuonggiai.jpg
Đền Phương Giai

4.24. Đền thờ Lan quận công Lê Thát

là một võ tướng thời Lê-Trịnh, đánh nhà Mạc có công, được phong Lan quận công. 
Lan Quận công Lê Thát là người quê hương được Nhân dân thờ từ lâu đời. Đền thờ Ngài đã được Nhà nước xếp hạng di tích LS - VH.

 

4.25. Chùa Hữu Lạc
Chùa Hữu Lạc tọa lạc ở cồn Bình Xuyên, làng Hữu Lạc, nay là thôn Bắc Tiến, xã Kỳ Bắc, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Kỳ Bắc có truyền thống văn hóa từ lâu đời; từ xưa đến nay, xã là địa điểm sinh hoạt văn hóa của trò kiều, tuồng, hát sắc bùa, dân ca, ví đối đáp. Xã là nơi ra đời chi bộ Đảng đầu tiên của huyện Kỳ Anh.

Chùa chiền được thành lập ở đây cuối thời Lê, đầu thời Nguyễn.

Chùa Hữu Lạc là địa điểm sinh hoạt văn hóa tâm linh gắn liền với lịch sử địa phương. Làng Hữu Lạc cùng với các làng xung quanh lập nên xứ Voi hình thành từ lâu đời. Trong thời kỳ phong kiến có trạm Tĩnh Lạc, nơi nghỉ chân của các vị quan lại và nhân dân trên đường thiên lý Bắc – Nam và trại huấn luyện voi chiến Tuần Tượng. Cư dân làng Hữu Lạc đông đúc vì đất đai màu mỡ và đường sá đi lại thuận tiện. Hữu Lạc có chợ Voi sầm uất, nơi giao thương của nhân dân trong vùng.

Chợ Voi gạo trắng nước trong
Ai về voi chợ thong dong con người

Vào thời kỳ hoạt động bí mật của Đảng, làng Hữu Lạc là trung tâm giao lưu của các xã phía nam Cẩm Xuyên và bắc Kỳ Anh. Các đảng viên cộng sản ở Cẩm Xuyên thường bí mật vào Voi để xây dựng phong trào kết nạp đảng viên mới và kêu gọi quần chúng đấu tranh. Chùa Hữu Lạc âm u, yên tĩnh, nơi các đồng chí lợi dụng lễ chùa để bàn kế hoạch hoạt động. Chùa Hữu Lạc đã trở thành nơi họp đảng viên. Tại chùa Hữu Lạc có cơ sở in với các bàn in bằng đá in các tài liệu bí mật của Đảng. Từ những cuộc họp bí mật ở chùa Hữu Lạc, phong trào của Đảng được cũng cố và phát triển để đến năm 1930 mới có hội nghị thành lập Đảng bộ huyện Kỳ Anh tại đền Phương Giai.

Khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, chính quyền còn non trẻ, đời sống nhân dân còn khó khăn, lực lượng du kích đầu tiên ở Kỳ Anh thành lập để bảo vệ chính quyền và tham gia kháng chiến. Lực lượng vũ trang đầu tiên của Kỳ Anh do ông Nguyễn Tiến Chương phụ trách, được tổ chức huấn luyện ở chùa Hữu Lạc nhằm giúp anh em chiến sĩ nắm được kỹ thuật, chiến thuật, đường lối quân sự của Đảng. Nhờ vậy, lực lượng này đã góp phần giữ vững an ninh, chính trị, tham gia kháng chiến. Phong trào bình dân học vụ phát triển, chùa Hữu Lạc được dùng làm lớp học, thu hút nhiều tầng lớp: già, trẻ, trai, gái đến tham gia xóa mù chữ.

20 năm kháng chiến chống Mỹ, vùng Voi là trọng điểm đánh phá ác liệt của máy bay, tàu chiến Mỹ. Vùng Voi, Kỳ Xuân, Kỳ Bắc là điểm quan trọng của tuyến đường Quốc lộ 1A nên ngày nào cũng có bộ đội hành quân, xe đạn, xăng dầu, lương thực, đạn dược được trung chuyển qua đây phục vụ miền Nam chiến đấu. Chùa Hữu Lạc cũng là nơi tập kết, nghỉ chân của đồng bào Vĩnh Linh, Quảng Trị sơ tán ra Bắc trong thời kỳ chiến tranh ác liệt (1966 – 1968).

Chùa Hữu Lạc ngoảnh mặt về hướng Nam, mát mẽ về mùa hạ, ấm áp về mùa đông. Phía sau tựa lưng vào dãy núi Kỳ Đầu (núi Bằng Sư). Trước mặt là khe Thăng Làn (Thặng Lặng) uốn lượn, nước trong xanh và dãy Cồn Đá làm tiền án. Núi Voi (Ngọc Thạch) chầu về phía bên phải, núi Hương chầu về phía bên trái, trông rất đẹp và uy nghiêm.

Chùa Hữu Lạc nằm trong quần thể  di tích lịch sử - văn hóa làng Hữu Lạc xưa: Miếu thờ thần Nông, điện thờ Thánh Mẫu, chùa Hữu Lạc. So với chùa Yên Lạc ở xã Cẩm Nhượng – Cẩm Xuyên, chùa Dền ở xã Kỳ Châu – Kỳ Anh thì chùa Hữu Lạc cùng thời.

Xưa kia, chùa Hữu Lạc kết cấu theo lối chữ Nhị (). Ngoài cổng tam quan đi vào là bệ đặt tượng Phật, nhà chờ đón khách 3 gian, nhà giữa có 3 gian bằng gỗ lim 4 vì, 8 cột, mái lợp ngói âm dương dùng tổ chức lễ và thượng điện đặt các tượng đúng quy định của nhà Phật. Hai bên thượng điện là tả vu, hữu vu đặt các pho tượng nhỏ. Phía hai bên nhà trung điện có miếu thờ cúng cô hồn và miếu ghi công thờ người có công góp tiền lập chùa. Tòa thượng điện bố trí theo chiều dọc, toàn bộ đều được làm bằng đá núi. Từ ngoài nhìn vào, phía trước chùa là bàn thờ ngoài trời được chia làm 2 cấp. Mặt tiền thượng điện trổ 3 cửa vào, phía trên gắn 3 chữ Hán: 有樂寺 (Hữu Lạc tự) bằng mảnh gốm theo phong cách thời Nguyễn. Nằm xen kẻ ở giữa các cửa là cột quyết giả được tạo bằng cách đắp gờ trang trí, phía trên chạm các đôi câu đối như sau:

Nguyên văn:
誠心香燈洳德
泈道奉事得平

Phiên âm:

Thành tâm hương đăng nhờ đức Phật
Trọn đạo phụng sự đắc bình an
Tạm dịch:
Thành tâm dâng hương nhờ đức Phật
Trọng đạo thờ phụng sẽ bình yên

Nguyên văn:

灵清彰日
殿廟壽山

Phiên âm:
Linh thanh chương nhật nguyệt
Điện miếu thọ sơn hà
Tạm dịch:
Khí tinh anh sáng tỏ chùng nhật nguyệt
Đền miếu trường tồn với núi sông.

Thượng điện cao 3,90m, được bít đốc 2 đầu với 12 cột bê tông. Các đốc được xây dày 0,35m, tường bao dày 0,30m. Vì kết cấu kiểu vì kèo.

Nội thất chùa chủ yếu được bố trí ở 3 gian trong cùng, gian ngoài dùng để hành lễ. Ở không gian được giới hạn bởi 2 hàng cột cái 3 gian trong cùng, người ta xây bàn thờ theo kiểu hương án, chia thành nhiều cấp bậc cao dần. Bậc cao nhất đặt bộ tượng tam thế, tiếp đó đặt 6 tượng còn lại và các đồ tế khí khác.

Với những giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học như trên, chùa Hữu Lạc đã được UBND tỉnh Hà Tĩnh công nhận là di tích lich sử - văn hóa cấp tỉnh tại Quyết định số 2648/QĐ-UBND ngày 13 tháng 11 năm 2006.


Chùa Hữu Lạc

[1] Sách “Kỳ Anh phong thổ ký” do Lê Đức Trinh viết năm 1931, bản dịch của Thanh Minh.
[2]Sách “Kỳ Anh phong thổ ký” do Lê Đức Trinh viết năm 1931, bản dịch của Thanh Minh.
**. Sát Hải tướng quân là vị tướng đời Trần, tên là Hoàng Tá Thốn, quê ở cửa Vích (Quỳnh Lưu-Nghệ An) dân nhiều nơi lập bàn thờ. Ở Kỳ Anh còn có truyền thuyết: Ông quan giữ cửa Khẩu báo việc bão tố, rồi bị giết oan dân lập bàn thờ.
[3]Tức Lan quận công Lê Thát, quê ở Hữu Lệ, sống vào thế kỷ 16

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét