10.1.22

3. Qúa trình hình thành và phân bổ dân cư

 3.1. Qúa trình hình thành dân cư
Đến nay chưa có một cuộc khai quật hay tài liệu khảo cổ học nào chứng minh trên đất Kỳ Anh có người tiền sử hay không. Tuy nhiên ta có thể nghĩ rằng các nhóm cư dân thời đại đá mới hậu kỳ và đồ đồng sơ kỳ (thuộc các địa điểm cư trú ở Nghi Xuân, Thạch Hà, Cẩm Xuyên-Hà Tĩnh, và Bàn Tró, Minh Cầm-Quảng Bình) không khỏi bị các rừng già, khe suối thu hút. Họ có thể đã qua lại đây ở để săn bắt, hái lượm…

Theo các nhà khảo cổ học thì Hoành Sơn có thể xem như là đường biên giới của văn hóa khảo cổ, của sự phân bố di tích lịch sử cùng truyền thuyết thời Hùng Vương. Từ Quảng Bình trở vào hầu như vắng mặt các di tích của văn hóa Đông Sơn và các di tích thời Hùng Vương. Điều này cũng phù hợp với những ghi chép trong sử cũ, và Hà Tĩnh, Quảng Bình ngày nay là vùng giáp ranh hai nước mà dãy Hoành Sơn là biên giới phía nam của nhà nước Văn Lang(1). Bên kia Hoành Sơn theo sử cũ là nước Hổ Tốn, sau này là nước Chăm Pa (Chiêm Thành(2))

Trong thời đại các vua Hùng – Thục, có lẽ trên đất Kỳ Anh đã có những nhóm dân cư ở rải rác, chủ yếu là dọc bờ biển. Một vài tài liệu cho biết dưới thời Bắc thuộc, ngoài nghề trồng lúa, cư dân vùng ven biển Nghệ Tĩnh bây giờ từ Quỳnh Lưu (Nghệ An) đến Kỳ Anh đã dùng thuyền ra khơi đánh cá, ướp cá và không chỉ nấu muối mà còn biết phơi nước biển lấy muối.

Các nhóm cư dân này chủ yếu là người Việt từ phía Bắc vào, nhưng cũng có thể là có người từ các tộc khác từ Trường Sơn (Qùy Hợp) xuống , và người Chàm từ bên kia Hoành Sơn qua. Ở ven biển còn có người Bồ-Lô mà hiện nay di huệ còn khá đông ở các vùng cửa biển Nghệ Tĩnh, Quảng Bình, trong đó có cửa Khẩu ở Kỳ Anh.

Từ đầu thời tự chủ, cư dân ở vùng này vẫn còn ít, nhưng tương đối ổn định, sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước, làm rẫy, săn bắt, đánh cá…

Dần dần dân cư phát triễn đông thêm, thì ở đây thường xuyên bị người Chiêm bên kia Hoành Sơn ra cướp phá, việc làm ăn trở nên khó khăn và bất ổn. Cho đến giữa thế kỷ XV làng xóm vẫn còn thưa thớt.

Theo gia phả một số họ ở Kỳ Anh hiện nay thì phần lớn gia đình đều từ Bắc vào và một bộ phận từ miền Nam ra dưới thời Lê-Nguyễn.

Ngoài số người đến làm ăn, sinh sống còn có những người phải trốn tránh hoặc bị đi đày, những người lính đồn thú hoặc đến làm quan rồi ở lại sinh cơ lập nghiệp-chủ yếu là quan võ. Làng Xuân Sơn (Kỳ Lạc) trước là thôn Miêu Sơn, trại Cây, Gẹo, là do Lê Siêu chiêu dân lập nên. Dân làng Yên Điềm (Kỳ Ninh) tổ họ Võ (Kỳ Lạc) là Võ Thắng quê Hảo Phòng vào đã trên 7 đời, Tổ họ Nguyễn Văn (Đào Nguyên, Kỳ Long) ở Đông Lỗ vào đã trên 9 đời, Tổ họ Trần (Kỳ Ninh) cũng quê gốc Thạch Hà, Tổ họ Phan ở Kỳ Thư, Kỳ Văn mắc “vạ voi” phải chạy vào Thanh Sơn, chợ Cầu nay đã trên 9 đời, Tổ họ Nguyễn ở Kỳ Thư là Nguyễn Doãn Tuân (Thanh Hóa)  vào làm quan võ rồi ở lại nay đã trên 10 đời, Tổ họ Phạm ở Kỳ Hưng là Thọ quận công Phạm Thiêm quê Hải Dương vào trấn thủ Nghệ An, lập ấp ở Đậu Chữ, sau về ở làng Hưng Nhân, Tổ họ Nguyễn Tiến ở Kỳ Bắc là Nguyễn Tiến Nghị, theo đoàn quân của vua Quang Trung ra Bắc rồi ở lại nay đã 16 đời, Tổ họ Nguyễn ở làng Trung Hải (Kỳ Hải) gốc giáo học Hà Đông (tỉnh Hà Tây) vào dạy học và lấy vợ rồi ở lại, đến nay cũng đã trên 8 đời…

Căn cứ các địa danh lịch sử thì những đơn vị cư dân có từ “Kẻ”, loại đơn vị có từ rất sớm ở Kỳ Anh không ít và chỉ ở gần hoặc ven biển. Loại đơn vị hành chính sớm ở Vùng biển là “ Trang”, ở vùng núi là “Trại” cũng khá nhiều. Như vậy cư dân đến sinh sống ở Kỳ Anh sớm nhất là vùng ven biển và vùng giữa sau đó mới đến vùng núi.

Theo cuốn  “La Provence De Hatinh”-Tỉnh Hà Tĩnh- của Buy-la-tô (Roland Bulateau) viết năm 1925 thì, lúc đó dân số Kỳ Anh có khoảng 29.000 người, trong đó có 4958 tráng đinh.

Sách “Kỳ Anh phong thổ” (của Lê Đức Trinh-bản dịch của Thanh Minh) chép năm 1931 số đinh của Kỳ Anh là 9102, (trong số đó, đinh đóng thuế thân là 6802 người, và số không phải đóng là 2300 người).

Đến năm 1942, tài liệu của công sứ Pháp ở Hà Tĩnh là Môn “Moll’ (bản dịch của Đặng Văn Thị) ghi dân số Kỳ Anh là 10.862 đinh và 49.124 nhân khẩu.

Sau năm 1945, dân số tăng nhanh, theo thống kê của Phòng thống kê huyện Kỳ Anh năm 1977 thì: năm 1960 Kỳ Anh có 16.472 hộ và 75.355 nhân khẩu, năm 1970 có 20.103 hộ và 93.663 nhân khẩu.

Năm 1993 dân số Kỳ Anh lên tới 36.421 hộ và 150.281 người. Như vậy từ 1925 đến 1993 số dân Kỳ Anh tăng lên hơn 5 lần.

Dân cư phân bổ không đều, các xã miền cao (Lâm, Sơn, Thượng Lạc…) mật độ dân số / km2 thấp hơn các xã vùng giữa và ven biển.

Tham khảo:
“1”: Nguyễn Mạnh Lợi – Cương vực nước Văn Lang-Hùng Vương dựng nước-tập IV-Nhà xuất bản KHXH -1974
“2’: Chiêm Thành dựng nước từ thế kỷ II, đời thuộc Đường là nước Hoàn Vương, đời thuộc Tấn là Lâm Ấp, đến năm 808 mới ấy tên chính là Chiêm Thành,

3.2 Qúa trình hình thành các làng xã
Từ thời cổ đại, vùng đất này còn là vùng biên ải hoang sơ, dân cư thưa thốt nên chưa có tổ chức xã hội rõ ràng, triều đình trung ương cũng ít quan tâm, các làng xã có lẽ chưa được định hình củ thể nên tài liệu để lại không có bao nhêu, chưa thấy nói gì về các làng xã. Đến cuối đời Trần, đầu Tiền Lê mới có sự quan tâm đến.

3.2.1. Làng xã thời Lê-Nguyễn (thế kỷ XVIII-XIX)
Theo tài liệu ghi chép ngày rằm tháng bảy năm Minh Mạng thứ 17 (1836), đối chiếu tham khảo sách “Tên làng, xã Việt Nam “- đầu thế kỷ XIX (Bản B) nxb KHXH, N 1981. Thời kỳ này đất huyện Kỳ Anh là  2 tổng: Cấp Dẫn và Đậu Chữ, thuộc huyện Kỳ Hoa, phủ Hà Hoa:

3.2.1.1- Tổng Cấp Dẫn: gồm 30 xã, thôn, trang trại
– Xã Cấp Dẫn có các thôn: Hữu Lạc, Tăng Phú, Thạch Hoa, Hữu Lệ, Xuân Cẩm, Sơn Giải, Như Nhật.
– Xã Dương Nậu có các thôn: Hoa Hạ, Dạ Độ, Mạc Khê, Nậu Thôn.
– Xã Duy Liệt có các thôn: Phú Dẫn, Liệt Thượng, Liệt Hạ, Hương Sơn.
– Xã Kỳ Nam có các thôn: Phú Thượng, Bảo Trung, Đông Hải, Long Trì, Trảo Nha, Đồng Trụ.
– Xã Suối Sa (có nơi phiên âm Lội Sa) có các thôn: Thanh Sơn, Sa Xá.
– Xã Án Đổ có các thôn: Mã Xuyên, các trại Mã Tượng, Hoa Đồng, trang Long Ngâm.

3.2.1.2- Tồng Đậu Chữ: Gồm 58 xã, thôn, trang trại, phường
– Xã Đậu Chữ có các thôn: Sơn Luật, Song Phượng, Sơn Triều, Đậu Xá, Long Ngâm, Xuân Chữ, Phú Duyệt.
– Xã Hà Trung có các thôn: Vĩnh Lộc, Văn Trường, Đôn Tẩu, Nhân Lý, Biểu Duệ, Mỹ Lũ, Chi La, Đại Đồng, Hoa Hạ, Hà Trung, Duy Lôi, Đồng Nại.
– Xã Phú Nghĩa có các thôn: Quyền Hành, Lạc Dị, Hưng Nhân, Yên Hưng.
– Xã Hoằng Lệ có các thôn: Phúc Sơn
– Xã Vĩnh Lại có các thôn: Hương Đình, Đạo Nguyên, Phao Thôn, Đại Hào, Đại Mực, Ngưu Sơn, Đầu Thôn, Nhân Hòa, Phúc Lâm.
– Xã Bỉnh Lệ có các thôn: Thượng Thôn, Ngưỡng Thôn, Phác Môn, Hòa Luật, Hải Khẩu, Vĩnh Ái, Hiệu Thuận, vạn Yêu Kính, các trang Vạn Ánh, Yên Thoại, Đồng Nghĩa, Vạn Cảnh, các phường Mỹ Hòa, Tượng Nhi, Hoa Thủy, Dục Tượng, Chú Tượng, Tượng Tích, các trại Cẩm Sơn, Vọng Liệu, Tăm Sách, Nhân Canh.

Bí chú : Bản B, trong “ Tên làng xã Việt Nam” chép
-Tồng Cấp Dẫn: Xã Cấp Dẫn, Hữu Lạc chép là Yên Lạc, Sơn Giải chép là  Sơn Ôi, Dương Nậu chép là Dị Nậu, chép thêm Sơn Kim, Hậu Độ, Hoàng Giang, nhưng không có Nậu Thôn, Duy Liệt chép là Hoài Liệt, Thanh Sơn chép là Côn Sơn, Trại Mã Tượng chép là Trại Voi, Hòa Đồng chép là Đồng Đồng, thêm trại Bản Khai, không có thôn Mã Xuyên.
-Tổng Đậu Chữ: Chép là có 57 xã, trang, thôn, trại, phường, tích.
Thôn Đậu Xá chép là Bà Đỗ, Song Phượng chép là Long Phượng, Đôn Tẩu chép là Đan Du, Duy Lối chép là Duy Suối
Xã Hoằng Lệ có các thôn: Phúc Sơn, Đào Thôn, Vĩnh Lại, Bến Đình, Địa Phác, Thôn Rào, Địa Hào, Phúc Lâm, Con Bò, Nhân Hòa, Thần Đầu.
Xã Bỉnh Lệ có các thôn: Thôn Thượng, Thôn Điều, Phác Môn,Vĩnh Trung, Hòa Luật, Nhân Phác, Vĩnh Ái, Hiệu Thuận, Xuân Điện, trang Eo Kênh, trang Vạn Ích, trang Yên Điềm, trang Đồng Nghĩa, thôn Vạn Cảnh, phường Trung Hòa, phường Vọng Nhi, trại Cây Gạo, trại Vọng Liễu, Sách Tăm, trại Bá Cảnh, xóm Long Hoa, Long Thủy, phường Diên Tượng, tích Ngân Tượng, phường Chú Tượng.
Sách này chép thêm: Các thôn trang phiêu bạt (trong huyện Kỳ Hoa) lá các thôn Bạo Tuyền, Thi Hạ, Hải Khẩu và trang Hội An.

3.2.2. Làng xã trước cách mạng tháng 8-1945
Theo tài liệu của tòa công sứ Pháp ở Hà Tĩnh năm 1942, Kỳ Hoa có 5 tổng, 97 thôn:
3.2.2.1-Tổng cấp Dẫn (có 21 xã, thôn):
– Dạ Độ, Hào Ngâm, Hoàng Giang, Hữu Lạc, Hữu Lệ, Liệt Thượng, Liệt Hạ, Mạc Khê, Nậu Độ, Như Nhật, Phú Dẫn, Phương Giai, Phương Phong, Sơn Kinh, Sơn Tịnh, Tăng Phú, Thạch Lập,Thạch Mỹ, Tuần Tượng, Xuyên Cẩm, Yên Hạ.
3.2.2.2 – Tổng Đậu Chữ ( có 22 xã, thôn):
-Ấn Độ, Bảo Trung, Đậu Chữ, Đậu Xá, Đông Hải, Đồng Nghĩa, Long Trì, Đông Trụ, Hoằng Dụ, Phú Duyệt, Phú Thượng, Quảng Ích, Quy Hòa, Sơn Luật, Sơn Triều, Tân Yên, Thuận Định, Trảo Nha, Vĩnh Ái, Vĩnh Yên, Xuân Chữ, Xuân Diệm.
3.2.2.3 – Tổng Hà Trung ( có 20 xã, thôn):
– Biểu Duệ, Duy Lối, Đại Đồng, Đa Lộc, Đan Du, Đồng Nại, Hà Trung, Hiệu Thuận, Mỹ Lũ, Ngân Tượng, Nhân Canh, Nhân Lý, Sa Xá, Thanh Sơn, Thiên Lợi, Văn Trường, Văn Yên, Vĩnh Lộc, Xuân Thủy.
3.2.2.4 – Tổng Hoằng Lệ ( có 25 xã, thôn)
– Dụ Lộc, Dụ Yên, Đại Hào, Đào Nguyên, Hải Khẩu, Hòa Luật, Hoàng Hà, Hưng Nhân, Lạc Dị, Ngưu Sơn, Nhân Hậu, Nhân Hòa, Phác Môn, Phong Dụ, Phương Đình, Phú Sơn, Quyền Hành, Thần Đầu, Thịnh Hưng, Thổ Phác, Thượng Phong, Trạch Hậu, Trường Lạc, Vĩnh Áng, Yêu Kính.
3.2.2.5 – Tổng Vọng Liệu ( có 9 thô, xã):
– Lạc Sơn, Mỹ Lý, Mỹ Sơn, Phúc Môn, Tân Liễu, Vọng Liễu, Xuân Quan, Xuân Sơn, Yên Sơn.

Bí chú: Bản của Ủy ban nhân dân huyện Kỳ Anh :
– Về tổng Đậu Chữ, không chép Tân Yên mà chép thêm Trung Giáp, không chép Xuân Diệm mà chép Yên Điềm.
– Về tổng Hoằng Lệ, không chép Thần Đầu mà chép Thiên Lý.
– Về tổng Vọng Liệu không chép Yên Sơn mà chép Độ Hợp.

3.2.3. Làng xã sau cách mạng tháng tám-1945
Theo tài liệu của UBND huyện Kỳ Anh
3.2.3.1 – Cuối năm 1945 (có 20 xã):
– Cấp Đình gồm: Hữu Lạc, Phương Giai, Tuần Tượng, Hữu Lệ, Sơn Kinh.
– Cấp Trung gồm : Yên Hạ, Nậu Độ, Dạ Độ, Thạch Mỹ, 1 phần Xuân Cẩm.
– Cấp Thăng gồm: Như Nhật, Hào Ngâm, Tăng Phú, Sơn Tịnh, 1 phần Xuân Cẩm.
– Cấp Tân gồm: Phú Dẫn, Hoàng Giang, Mạc Khê, Liệt Thượng, Liệt Hạ.
– Cấp Hà gồm: Thạch Lập, Phương Phong.
– Đậu Phú gồm: Long Trì, Phú Thượng, Yên Sơn, Bảo Trung, Đậu Thống.
– Đậu Khang gồm: Trung Giáp, Trảo Nha, Đông Hải, Vĩnh Ái, Đồng Trụ, Đậu Xá, Phú Duyệt, Quảng Ích, Phòng Dụ.
– Đậu Thọ gồm: Sơn Triều, Sơn Luật, Vĩnh Yên.
– Đậu Ninh gồm : Yên Điềm, Đồng Nghĩa, Hải Khẩu, Xuân Chử, Tân Yên, Vĩnh Lộc, Thuận Định.
– Trung Hải gồm: Quy Hòa, Văn Yên, Hà Trung, Đồng Nại, Trung Hạ, Văn Tràng.
– Trung Sơn gồm: Đan Du, 1 phần Thanh Sơn, 1 phần Biểu Duệ, Đại Đồng, Sa Xá, Mỹ Lũ, Xuân Thủy, Duy Lối, Ngân Tượng, Đa Lộc.
– Trung Châu gồm: Nhân Canh, 1 phần Nhân Lý, Hiệu Thuận, Thiện Lợi.
– Hoằng Trinh gồm: Hưng Nhân, Lạc Dị, Quyền Hành, Dụ Lộc, Thịnh Hưng, Hòa Luật.
– Hoằng Càn gồm: Thượng Phong, Phong Dụ, Trường Lại, Tây Yên.
– Hoằng Lợi gồm: Vĩnh Áng, Phác Môn, Yêu Kính, Hoàng Hà, Nhân Hậu.
– Hoằng Hanh gồm: Phương Đình, Thổ Phác, Nhân Hòa, Thần Đầu, 1 phần Đại Hào, Ngưu Sơn.
– Hoằng Nguyên gồm: Trạch Hậu, Đào Nguyên, Phú Sơn, Thiên Lý, Đại Hào.
– Xuân Lạc gồm: Xuân Quán, Lạc Sơn.
– Vọng Trung gồm: Mỹ Lý, Mỹ Sơn, Vọng Liệu, Tân Liệu.
– Vọng Thượng gồm: Phúc Môn, Đỗ Hợp.

3.2.3.2 – Năm 1950- 1952  (còn 15 xã):
– Cấp Hà, Cấp Thăng, Cấp Tân, Trung Hải, Trung Sơn, Trung Châu, Hoằng Trinh, Hoằng Hanh, Hoằng Nguyên, Xuân Lạc, Kỳ Nam (gồm Cấp Đình, Cấp Trung), Thanh Kỳ ( gồm Đậu Phú, Đậu Khang), Lĩnh Nam (gồm 1 phần Đậu Phú, Đậu Ninh), Tân Tiến (gồm Hoằng Càn, Hoằng Lợi), Vọng Sơn (gồm Vọng Trung, Vọng Liễu).

3.2.3.3 – Năm 1954 ( có 26 xã):
Chia xã Kỳ Nam thành 3 xã: Kỳ Bắc, Kỳ Phong, Kỳ Tiến; chia xã Vọng Sơn thành 4 xã: Kỳ Lạc, Kỳ Lâm, Kỳ Sơn, Kỳ Thượng; chia xã Cấp Hà thành 3 xã: Kỳ Tân, Kỳ Tây, Kỳ Văn; chia xã Lĩnh Nam thành 2 xã: Kỳ Ninh và Kỳ Thọ; chia xã Thành Kỳ thành 2 xã: Kỳ Khang và Kỳ Phú; chia xã Trung Châu thành 2 xã: Kỳ Châu và Kỳ Hoa; đổi tên xã Trung Hải thành xã Kỳ Hải; đổi tên xã Cấp Tân thành xã Kỳ Giang; đổi tên xã Cấp Thắng thành xã Kỳ Xuân.

– Các xã mới gồm: Kỳ Phong, Kỳ Bắc, Kỳ Xuân, Kỳ Tiến, Kỳ Giang, Kỳ Phú, Kỳ Khang, Kỳ Thọ, Kỳ Ninh, Kỳ Hải, Kỳ Thư, Kỳ Văn, Kỳ Tân, Kỳ Hoa, Kỳ Châu, Kỳ Hưng, Kỳ Trinh, Kỳ Thịnh, Kỳ Long, Kỳ Lợi, Kỳ Phương, Kỳ Lạc, Kỳ Lâm, Kỳ Sơn, Kỳ Thượng, Kỳ Tây

3.2.3.4 – Năm 1961 (có 27 xã):Tách làng Ngưu Sơn lập xã Kỳ Nam. 
– Kỳ Phong, Kỳ Bắc, Kỳ Xuân, Kỳ Tiến, Kỳ Giang, Kỳ Phú, Kỳ Khang, Kỳ Thọ, Kỳ Ninh, Kỳ Hải, Kỳ Thư, Kỳ Văn, Kỳ Tân, Kỳ Hoa, Kỳ Châu, Kỳ Hưng, Kỳ Trinh, Kỳ Thịnh, Kỳ Long, Kỳ Lợi, Kỳ Phương, Kỳ Nam, Kỳ Lạc, Kỳ Lâm, Kỳ Sơn, Kỳ Thượng, Kỳ Tây

3.2.3.5 – Năm 1963 (có 28 xã): Lập thêm xã Kỳ Hương

 – Kỳ Phong, Kỳ Bắc, Kỳ Xuân, Kỳ Tiến, Kỳ Giang, Kỳ Phú, Kỳ Khang, Kỳ Thọ, Kỳ Ninh, Kỳ Hải, Kỳ Thư, Kỳ Văn, Kỳ Tân, Kỳ Hoa, Kỳ Châu, Kỳ Hưng, Kỳ Trinh, Kỳ Thịnh, Kỳ Long, Kỳ Lợi, Kỳ Phương, Kỳ Nam, Kỳ Lạc, Kỳ Lâm, Kỳ Sơn, Kỳ Thượng, Kỳ Tây, Kỳ Hương. 

3.2.3.6 – Năm 1977 (có 28 xã):Tách Kỳ Hải, lập thêm xã Kỳ Hà.
– Kỳ Phong, Kỳ Bắc, Kỳ Xuân, Kỳ Tiến, Kỳ Giang, Kỳ Phú, Kỳ Khang, Kỳ Thọ, Kỳ Ninh, Kỳ Hải, Kỳ Hà, Kỳ Thư, Kỳ Văn, Kỳ Tân, Kỳ Hoa, Kỳ Châu, Kỳ Hưng, Kỳ Trinh, Kỳ Thịnh, Kỳ Long, Kỳ Lợi, Kỳ Phương, Kỳ Nam, Kỳ Lạc, Kỳ Lâm, Kỳ Sơn, Kỳ Thượng, Kỳ Tây, Kỳ Hương.
 (Nhập 2 xã Kỳ Lâm, Kỳ Sơn thành Vọng Sơn, sau lại tách ra như cũ, thành 29 xã.)

3.2.3.7 – Năm 1987 (Có 31 xã và 1 thị trấn): Thành lập thị trấn và 3 xã mới: Kỳ Đồng, Kỳ Hợp, Kỳ Liên.. (Giải thể xã Kỳ Hương, chia về cho các xã Kỳ Tây, Kỳ Tân...)
 – Kỳ Phong, Kỳ Bắc, Kỳ Xuân, Kỳ Tiến, Kỳ Giang, Kỳ Phú, Kỳ Khang, Kỳ Thọ, Kỳ Ninh, Kỳ Hải, Kỳ Hà, Kỳ Thư, Kỳ Văn, Kỳ Tân, Kỳ Hoa, Kỳ Châu, Kỳ Hưng, Kỳ Trinh, Kỳ Thịnh, Kỳ Long, Kỳ Lợi, Kỳ Phương, Kỳ Nam, Kỳ Lạc, Kỳ Lâm, Kỳ Sơn, Kỳ Thượng, Kỳ Tây, Kỳ Hương, Kỳ Đồng, Kỳ Hợp, Kỳ Liên. Thị trấn Kỳ Anh.

3.2.3.8 – Năm 2004, thành lập xã Kỳ Trung (Có 32 xã và 1 thị trấn):
– Kỳ Phong, Kỳ Bắc, Kỳ Xuân, Kỳ Tiến, Kỳ Giang, Kỳ Phú, Kỳ Khang, Kỳ Thọ, Kỳ Ninh, Kỳ Hải, Kỳ Hà, Kỳ Thư, Kỳ Văn, Kỳ Tân, Kỳ Hoa, Kỳ Châu, Kỳ Hưng, Kỳ Trinh, Kỳ Thịnh, Kỳ Long, Kỳ Lợi, Kỳ Phương, Kỳ Nam, Kỳ Lạc, Kỳ Lâm, Kỳ Sơn, Kỳ Thượng, Kỳ Tây, Kỳ Hương, Kỳ Đồng, Kỳ Hợp, Kỳ Liên, Kỳ Trung. Thị trấn Kỳ Anh.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét