10.1.22

Xuân Diệu người thơ & người lính

Tùy bút của Xuân Lộc

Thưa, tôi là người ngoại đạo với làng văn, chỉ tếu táo ghi lại cảm xúc của mình làm quà cuộc sống, để cho mình là chính, bạn bè ai có cùng sự đồng cảm và lòng trắc ẩn, đọc, góp ý, khen hay chê cũng xin được chân thành cảm tạ, lấy đó làm vui.

Không dấu gì, tôi yêu văn chương, thích đọc sách từ nhỏ nhưng cũng chỉ là người đọc quyển sau quên dần quyển trước chứ không say thần tượng của mình đến mức tìm hiểu kỹ, sâu như các nhà phê bình lý luận chuyên nghiệp, nhưng thích tác giả này hơn tác giả kia, yêu người này hơn người khác… thì cũng là lẽ thường tình.

Vừa rồi có người viết bài với ý đồ hạ bệ thần tượng, tố Xuân Diệu đạo thơ mà là thơ Pháp, ăn cắp ý tưởng… không xứng với danh hiệu ông hoàng thơ tình, coi bạn đọc gần 100 năm nay yêu thơ Xuân Diệu như đàn cừu ngô nghê và chê cả chính quyền Hà Nội sao đi  đặt tên đường mang tên Xuân Diệu…

Ừ, thì đấy là quyền của ông ta, chỉ buồn cũng có người hùa theo mà chẳng cần lý lẽ gì cả, thôi cũng kệ họ, nhưng thấy sự đánh giá một thần tượng thơ đã đi vào lòng quần chúng và được thời gian thẩm định như Xuân Diệu thì không thể hời hợt một chiều, bằng thái độ hằn học không nên có của người cầm bút chuyên nghiệp.

Khách quan mà nói không phải bài thơ nào của Xuân Diệu cũng hay, không phải lúc nào Xuân Diệu  cũng làm được thơ hay. Nhưng Xuân Diệu là ông hoàng thơ tình Việt nam trong thế kỷ 20 thì khỏi cần bàn cãi. Bởi đấy là danh hiệu do bạn đọc yêu thơ tặng cho ông chứ không phải chữ ký và con dấu của ai cả. Phủ nhận điều đó chẳng khác gì phủ nhận sự sàng lọc của thời gian và sự thẩm định của bạn đọc về một thời đại vinh quang trong thơ ca Việt đầu thế kỷ 20 và phong trào thơ mới.
Theo cảm nhận riêng của mình, tôi nhìn Xuân Diệu khách quan như một người thơ và một người lính, theo hai giai đoạn trong cuộc đời ông.

1- Thế hệ của Xuân Diệu và các nhà thơ tiền chiến trong phong trào thơ mới đều được học tập và đào tạo trong các trường bảo hộ của Pháp, tất nhiên họ đều thông thạo tiếng pháp và chịu ảnh hưởng của văn hoá Pháp, trong đó có cả văn chương. Đừng chày cối phủ nhận, đấy là một nền văn hoá nhân bản, tự do và bác ái. Đến bây giờ sau 75 năm xây dựng nền văn hoá mới XHCN người ta càng thấm thía, nuối tiếc và phải công nhận những người được đào tạo trong các trường Pháp bảo hộ đều là những người uyên thâm và có tầm văn hoá rất cao.

Các nhà thơ tiền chiến, trong phong trào thơ mới, dù sống trong đất nước nô lệ nhưng họ vẫn tự do sáng tạo, tự do vui buồn, thương hay ghét đều tự do thể hiện không bị hạn chế, ràng buộc nên thơ chỉ có thể được đánh giá hay, dở mà thôi.

Những bài thơ hay nhất của Xuân Diệu, Huy Cận, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Hàn Mạc Tử, Tế Hanh, Nguyễn Bính, Bích Khê, Nguyễn Nhược Pháp, Vũ Hoàng Chương, LEIBA, Thái Can, Yến Lan… đều ra đời vào thời gian này, trong phong trào thơ mới 1930-1945.

Đấy là thời Xuân Diệu như một chàng hoàng tử Tây phương, phong lưu, nho nhã, mũ phớt, com lê, giày da bóng loáng, ba tông cầm tay, hiên ngang bước ra sân khấu với một nụ cười hiền hậu và đầy kiêu hãnh, khác hẳn những thầy đồ xứ An nam èo ọt trong bộ cánh khăn vấn, áo dài, guốc mộc… làm rúng động làng văn, làm say đắm, thổn thức trái tim bao người. Thanh niên, thiếu nữ, những người đang yêu, sắp yêu, đã yêu và đau khổ vì yêu chờ thơ Xuân Diệu như con trẻ chờ quà của mẹ mỗi buổi chợ về.

Để thỏa mãn tự do theo đuổi nàng thơ, Xuân Diệu bỏ quan để làm thi sĩ, để được:

Ru với gió, mơ theo trăng và vơ vẫn cùng mây / Để tâm hồn treo ngược ở cành cây / Hay rã rích như mưa dầm tháng hạ…

Thời nay người ta bỏ thơ làm quan chứ thử hỏi còn mấy ai dám bỏ quan làm thơ như Xuân Diệu?

Đấy là thời Xuân Diệu người thơ.

Và tượng đài ông hoàng thơ tình Xuân Diệu được người hâm mộ thơ dựng lên từ đó. Những tượng đài to đùng, bằng vàng, đồng hay xi măng cốt thép hiện hữu do chính quyền cai trị dựng lên có thể sụp đổ bất cứ lúc nào, nhưng tượng đài vô hình trong lòng dân, do dân dựng thì chớ dại dột mất công tìm cách hạ bệ. Làm chuyện đó một là kẻ đốt đền để được lưu danh, hai là thẳng dở hơi rảnh rỗi.

2- Sau năm 1945, Xuân Diệu và một số nhà thơ có danh trong phong trào thơ mới mang thơ theo cách mạng, bây giờ người ta vẫn thích gọi một cách mỹ miều là đi làm cách mạng cho oách. Thực chất đấy là hai việc hoàn toàn khác nhau, chỉ cần động não một chút là có thể hiểu việc đi làm cách mạng và đi theo cách mạng không giống nhau thế nào.

Không ai có quyền trách cứ hay phê phán các thi nhân có danh trong phong trào thơ mới như Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh, Lưu Trọng Lư… mang túi thơ theo kháng chiến, bởi đấy là xu thế của thời đại, của lịch sử, của ý thức công dân và trên hết là của lòng yêu nước. Trãi chín năm kháng chiến trường kỳ, thắng lợi với: lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu, Xuân Diệu người thơ hiên ngang thành Xuân Diệu người lính.

Và tiếc thay, khi là thi sĩ-người thơ, Xuân Diệu bắn phát nào cũng trúng tâm hồn người yêu thơ phát ấy, nhưng khi là người lính, Xuân Diệu bắn trật lất, có khi đạn bay vèo vào trái tim đồng đội. Không ai còn yêu thơ Xuân Diệu nữa.

Tôi đã đọc toàn bộ tuyển tập thơ Xuân Diệu trong cả hai thời kỳ, cả hai con người trong một hình hài Xuân Diệu và nhận ra người lính Xuân Diệu làm thơ cổ động dở ẹt, chẳng có bài nào ra trò cả. So với Tố Hữu, Chế Lan Viên, Xuân Diệu tụt lại khoảng cách rất xa.

Cũng may nửa đời sau làm người lính, Xuân Diệu vớt vát được danh tiếng của mình trong lòng bạn đọc, với hai tập lý luận phê bình: Các nhà thơ cổ điển Việt Nam I & II. Lời bình uyên bác và sâu sắc, tôi đã đọc rất say mê và tâm đắc vô cùng. Có lẽ vì khi viết về các nhân vật lịch sử, các nhà thơ cổ điển, ít liên quan tới thời hiện tại, ít ràng buộc ý thức hệ nên ngòi bút của Xuân Diệu vung vẫy tự do, phóng khoáng hơn chăng? Hay khi ngòi bút không phải lách thì câu văn dễ thấm vào lòng người?

Không thể không trách, không giận, không buồn khi đọc lại những bài viết của Xuân Diệu như những viên đạn bắn vào tim các nhà văn, nhà thơ trong nhóm Nhân văn-giai phẩm. Tôi không muốn nhắc lại đây thêm nữa vì chẳng lợi lộc gì khi bới lên chuyện buồn, nó cũng là một phần của lịch sử, và lịch sử đã phán xét công tâm lắm.

Ngày nay thế hệ trẻ nhắc nhiều hơn về những cái tên Trần Dần, Lê Đạt, Thụy An, Nguyễn Hữu Đang, Trần Đức Thảo, Văn Cao, Nguyễn Mạnh Tường, Hoàng Cầm, Quang Dũng, Phùng Quán, Tuân Nguyễn, Hữu Loan… những người bị vùi dập bất công trong phong trào Nhân văn giai phẩm mà quên dần Xuân Diệu và Tố Hữu rồi, ngay cả thế hệ U70,80 cũng chẳng còn mấy người mặn mòi với Xuân Diệu nữa. Đấy là lẽ công bằng vậy.

Nhưng cũng phải nhìn nhận một cách quảng đại khi đánh giá về Xuân Diệu. Khi nói về ông hoàng thơ tình Xuân Diệu là nói về người thơ Xuân Diệu đó, là nói về thi sĩ Xuân Diệu thời kỳ 30-45 của thế kỷ 20 đó. Và tượng đài “ông hoàng thơ tình Xuân Diệu” khó bị hạ bệ trong lòng người yêu thơ lắm.

Xuân Lộc
Saigon, đêm 2-10-2020

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét