25.3.26

Nỗi ngạc nhiên về thầy Lê Mạnh Thát

 Gs. Ts Thái Kim Lan

  09:11 | Thứ ba, 24/03/2026 0

“Ngạc nhiên là thái độ của một người thực sự yêu minh triết, vâng, không có một khởi đầu nào khác cho triết học ngoài nỗi ngạc nhiên” (Theaitetos, Platon)

Ngày 10.1.2026, tôi bước vào phòng hội thảo khoa học quốc gia nhân kỷ niệm 800 năm thành lập nhà Trần (1226 - 2026) tại chính Hoàng thành Thăng Long cũ (Hà Nội), sửng sốt và vui mừng khi ánh mắt đầu tiên của tôi gặp được gương mặt của chính tác giả viết về nhà Trần - những nghiên cứu toàn diện nhất (Trần Thái Tông toàn tập, Trần Nhân Tông toàn tập), mà trong khoảng hơn hai thập niên vừa qua tôi đã sử dụng cho công việc biên khảo của chính mình: Thầy Lê Mạnh Thát.  

8.3.26

Tuyển tập “Viết về Mẹ” và những nỗi niềm yêu thương thành kính

Nhân dịp Xuân Bính Ngọ 2026, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh phát hành tuyển tập "Viết về Mẹ" gồm 104 bài thơ và 47 bài văn xuôi của nhiều tác giả. Những trang viết trong tuyển tập là tiếng lòng thành kính của những người con hướng về mẹ – biểu tượng thiêng liêng của tình yêu thương, sự hy sinh và nguồn cội. Qua những vần thơ và trang văn giàu cảm xúc, hình ảnh người mẹ Việt Nam hiện lên vừa gần gũi đời thường vừa mang vẻ đẹp bền bỉ của lịch sử và văn hóa dân tộc. Văn chương TP. HCM xin giới thiệu bài viết của nhà văn Nguyễn Quế về ấn phẩm này.

1.2.26

Yevgeny Zamyatin: Kẻ dị giáo trong Thiên đường bằng thuỷ tinh

Trần Hậu 


Yevgeny Zamyatin (1884–1937)
Nhà văn Liên Xô nổi tiếng Yevgeny Zamyatin (1884–1937) sinh ra trong gia đình một linh mục tại huyện Lebedyan, tỉnh Lipetsk. Thế nhưng, giống như nhiều đứa con của các linh mục thời bấy giờ, ông đã lựa chọn con đường nổi loạn. Yevgeny Zamyatin trở thành kỹ sư đóng tàu và đảng viên Bolshevik. Ông thiết kế những con tàu phá băng (tàu "Krasin" nổi tiếng chính là đứa con tinh thần của ông) và khao khát đập tan "lớp băng" của thế giới cũ. Ông tin rằng cách mạng là ngọn lửa sẽ thanh lọc nước Nga.

30.1.26

KỶ NIỆM 155 NĂM NGÀY SINH CỦA NHÀ VĂN NGA A. CHEKHOV (29/1/1860-2015

 Trần Hậu

Những mẫu chuyện nhỏ về nhà văn lớn


A. Chekhov.
Về cuôc đời mình Chekhov viết một cách dè sẻn, không hào hứng và khá trịnh trọng. “Tôi có một căn bệnh: sợ viết tự truyện, - nhà văn “thú nhận” năm 1899. - Đọc những tình tiết nào đó về mình, huống nữa là viết để in ấn - đối với tôi là một sự tra tấn thực sự”. Nhưng nhiều cuốn sổ ghi chép của nhà văn, thư từ, hồi ức về ông của những người đương thời và các bức ảnh còn lại là nguồn tư liệu quá đủ để khám phá con người Chekhov.

22.1.26

BÀN LUẬN: QUÊ GỐC CỦA NGUYỄN KHUYẾN.

Trần Quốc Thường

1- Nguyễn Khuyến đã làm cho Hồng Lĩnh vút cao.

Núi Hồng, Sông Lam và văn hóa xứ Nghệ đã sinh ra nhiều nhà văn, nhà thơ lớn, tên tuổi của họ đã làm rạng rỡ quê hương Hà Tĩnh như Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Du… Nhưng Hà Tĩnh là quê hương của Tam Nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến thì người biết đến vẫn chưa nhiều.

19.1.26

Bao giờ anh đau khổ, hãy tìm đến với em

Nguyễn Thị Bình

TÂM HỒN

Bao giờ anh đau khổ
hãy tìm đến với em
(chút hương đời dịu ngọt,
hòa trong mảnh thơ riêng).

31.12.25

Happy New Year 2026

Xuân Lộc


Thế là qua một năm đầy bão tố 
Thêm dấu chân chim, thêm trắng mái đầu 
Thu cạn dần và đường đời ngắn lại 
Tóc em giờ cũng thưa bớt còn đâu.

26.12.25

Bolero bị chôn mà không chết


Đỗ Trung Quân 
Những cuộc “phục thù ngọt ngào“ đang và đã diễn ra. Khán giả chọn lựa nó, thứ âm nhạc chôn mà không chết. Muốn nó chết, dễ thôi! Các anh hãy làm nhạc hay hơn nó, có tài năng hơn nó để vĩnh cửu như nó… Dèm pha, mai mỉa, xúc phạm nó vô nghĩa! Nó càng bất tử! Mấy năm trước, một nhóm nhạc sĩ Hà Nội dự định làm một cuộc cách mệnh lật đổ một thể loại âm nhạc đại chúng của Sài Gòn: BOLERO. 

11.12.25

"Nỗi buồn chiến tranh & Nỗi đau hoà bình"

Tôi cũng không muốn tham gia vào cuộc tranh luận vang lừng cõi mạng về cuốn tiểu thuyết nỗi tiếng Nỗi buồn chiến tranh nữa, nhưng thấy đây là một bài viết hay của một người tham gia trong cuộc chiến và cả trong hoà bình nên mang về vườn nhà. Mong có một tiếng nói khách quan của một người trong cuộc, góp phần hạ hoả trận cuồng phong bất tận hôm nay mà thực ra chẳng có ai thắng cả, chỉ có làm xã hội rối loạn thêm mà thôi - Xuân Lộc

Dương Nguyên Tường.
"Ta đọc Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh năm 1991 sau khi cuốn tiểu thuyết này được giải thưởng văn học. Hồi đó còn đang vật lộn mưu sinh nên chẳng quan tâm mấy đến văn học nghệ thuật nhưng thấy cái tên là lạ, hay hay lại được giải thưởng nên vì tò mò mà đọc thôi.

9.12.25

Con đường dẫn đến Nobel văn học cho Việt Nam đã khai thông

 Tôi dìm cơn hoảng hốt và cảm giác hoang mang vào lòng, cố bình tâm để lắng - nhìn những con sóng hung dữ gào thét, điên cuồng ập vào một tác phẩm văn học được nhà nước vinh danh và cha dẻ của nó với sự ngỡ ngàng tột độ. 

Chỉ nghe, nhìn mà không lên tiếng vì thú thật đến giờ tôi vẫn chưa đọc Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh. Nên tôi không bàn về nội dung tác phẩm và cũng không thấy nỗi buồn chiến tranh qua những trang sách của nhà văn, nhưng tôi biết rất rõ nỗi đau của chiến tranh qua chính gia đình mình. 

24.11.25

Thương lắm miền Trung

Xuân Lộc

Thái Bình, Ninh Thuận, Phú Yên… 
Ông cha đặt những cái tên tuyệt vời 
Những tên đẹp ấy mất rồi
Hôm nay sông lỡ, núi dời điêu linh.

21.11.25

Miền ký ức giữa rừng đước Cần Giờ

Nhà văn Đậu Thanh Sơn

Tôi trong đoàn nhà văn thành phố Hồ Chí Minh đi thực tế sáng tác tại Cần Giờ vào một buổi sáng đầy nắng. Ngồi trên mạn phà, những làn gió từ sông Nhà Bè thổi qua những ô cửa sổ mát rượi, gió mang theo hương vị của miệt vườn ngoại thành và hơi thở của những rặng dừa nước xanh ngắt đang soi bóng bên bờ sông. Đây là tháng cuối của mùa mưa phương Nam, nên thời tiết Sài Gòn dễ chịu hơn hẳn so với mấy các tháng trước đó. Người ta ví von mùa mưa Sài Gòn đỏng đảnh, thất thường như một cô gái mới lớn “sáng nắng chiều mưa” rất khó chiều. Thế nhưng, vào thời gian này thành phố Hồ Chí Minh đã ít mưa và nắng nhiều, không khí, cảnh vật mang một nét đẹp rất riêng, không thể tìm thấy ở một vùng quê nào khác.

Đoàn nhà văn dâng hoa, dâng hương tại Đền thờ Anh hùng Liệt sĩ Cần Giờ.

13.11.25

Ai đã biến Van Gogh thành bất tử?

Khi Vincent van Gogh qua đời vào năm 1890, ở tuổi 37, ông để lại sau lưng một cuộc đời thất bại, một căn phòng trống rỗng và những bức tranh chẳng ai muốn mua.

Sáu tháng sau, người em trai Theo – người duy nhất luôn tin tưởng và ủng hộ ông – cũng qua đời.

Mọi thứ dường như đã chấm dứt.
Chỉ còn lại một đứa trẻ, hàng trăm bức thư và một núi tranh chưa ai thèm đoái hoài.

12.11.25

Khi chữ làm mù mắt: Một nỗi buồn cho phê bình nghệ thuật Việt Nam

Sophie Trịnh

Có những lúc, tôi cảm thấy sợ hãi cho nghệ thuật không phải vì công chúng thờ ơ, mà vì người lên tiếng về nó lại là những kẻ không biết mình đang nói gì.
Một xã hội không thể khai sáng nếu kẻ cầm đèn cũng mù, nhưng đáng buồn là trong đời sống nghệ thuật Việt Nam hôm nay, ánh sáng đang bị thay bằng đèn màu của ngôn từ, lấp lánh, nhưng giả.

8.11.25

Từ dòng Lam đến Vàm Cỏ Đông

 (Bút ký của Đậu Thanh Sơn)

“Ở tận sông Hồng, em có biết
Quê hương anh cũng có dòng sông,
Anh mãi gọi với lòng tha thiết:
Vàm Cỏ Đông! Ơi Vàm Cỏ Đông!...”

Một đêm diễn đặc biệt tại Nhà Văn hóa Thanh niên, với tên gọi “Giai điệu từ những vần thơ”, trong chuỗi chương trình “Những ngày Văn học Nghệ thuật TP.HCM”, do Sở Văn hóa & Thể thao phối hợp với Hội Nhà văn TP. HCM tổ chức, trong khuôn khổ “Hội nghị tổng kết 50 năm, nền văn học nghệ thuật thành phố Hồ Chí Minh, sau ngày đất nước thống nhất (30/4/1975 - 30/4/2025). 

1.11.25

Về bài thơ Sông Lam của Trần Mạnh Hảo

Lê Tuyên Văn

“Sông Lam” của Trần Mạnh Hảo sáng tác 1983 là bài thơ hay nhưng không phải cái hay thông thường. “Sông Lam” không làm cho người ta rung động mà làm người ta ám ảnh. Một sự ám ảnh dễ chịu dồn vào tâm can thành một niềm thích thú sôi nổi, chực chờ tri kỷ hay cố nhân ngang qua để vồ lấy xuýt xoa, nức nở, rối rít … cho thỏa sự sung sướng. Càng đọc, “Sông Lam” càng ngấm vào lòng người như gia vị ngấm vào món ngon , dậy mùi và hương thơm làm người ta ngất ngây vì mê, vì say. Và từ ám ảnh, “Sông Lam” hình thành một nỗi xúc động lặng thầm, vừa muốn nở nụ cười nhưng cũng chực trào giọt nước mắt - hạnh phúc lặn vào tâm linh và tỏa ra mơn man da thịt trong một niềm sảng khoái âm thầm khó gọi tên kiểu như ”mần răng hay rứa hầy!”

Có một tượng đài phụ nữ trên đỉnh Đèo Ngang

Nguyễn Xuân Diện

Trong văn học Việt Nam có một người phụ nữ Hà Nội đã để lại vóc dáng đài các đã mấy trăm năm. Người phụ nữ tài hoa ấy, đứng trước thiên nhiên đất nước đã nói tâm tình của một con người cô đơn nhỏ bé trước vũ trụ, nhưng dường như đã cố giấu đi cả tên tuổi của mình. Mặc dù tên của bà có ý nghĩa là mùi hương thơm nức, nhưng bà vẫn cố giấu đi, ngay cả tên gọi của mình. Người ta cũng không gọi bà bằng tên gọi của chồng bà như những phụ nữ khác. Người ta chỉ gọi bà bằng cái chức vụ của chồng bà mà thôi. Đó là Bà Huyện Thanh Quan. Tên thật của bà là Nguyễn Thị Hinh. Hinh 馨 chữ Hán có nghĩa là hương thơm ngào ngạt.

29.10.25

Dùng dằng cổ ải trăm năm Hoành Sơn quan

Vanvn- Ngót hai thế kỷ dãi dầu mưa nắng, Hoành Sơn quan – chứng tích hùng hồn của lịch sử mở cõi phương Nam đang dần hoang phế vì “nhập nhằng” trong phân định địa giới hành chính và trách nhiệm quản lý.

Di tích thành phế tích

Trên đỉnh đèo Ngang, nơi mây trắng lưng chừng núi, di tích Hoành Sơn quan vẫn lặng lẽ đứng gác giữa ranh giới hai tỉnh Quảng Trị và Hà Tĩnh. Cổng thành rêu phong, tường đá loang lổ vết thời gian, từng dòng chữ khắc bôi xóa nham nhở như những vết thương hằn sâu trên di tích gần 200 năm tuổi.

27.10.25

Gia đình ông bà Trịnh Văn Bô

 ÔNG BÙI TÍN KỂ CÂU CHUYỆN ÉO LE VỀ GIA ĐÌNH BÀ TRỊNH VĂN BÔ…

Bùi Tín

Hôm nay, từ Paris, tôi nhận được tin buồn. Bà Trịnh Văn Bô, nhà kinh doanh thành đạt đã trút hơi thở cuối cùng ở Hà Nội, đại thọ 103 tuổi.

Tôi buồn vì tôi coi bà là bà chị 

thân thiết có lòng nhân ái, yêu nước tuyệt vời.

Tôi buồn vì bà đã nhiều lần tâm sự với tôi về hoàn cảnh éo le của bà và nhờ tôi giúp đỡ từ những năm 1976-1980 nhưng tôi không sao làm bà vui lòng. 

26.10.25

THỦ PHẠM CỦA "NỀN VĂN HỌC LOẠN GIÁ TRỊ"

Thanh Huyền

KỲ 1: PHÊ BÌNH VĂN HỌC

Viết về "lịch sử phê bình" ở Việt Nam, có nhiều tác giả như Trần Đình Sử, Nguyễn Hưng Quốc, Inrasara, Trịnh Bá Đĩnh, Trần Mạnh Tiến, Hoài Nam… đã công bố các chuyên luận sắc sảo, với những ý kiến xác đáng giúp làm rõ thực trạng, những tệ lậu hay triển vọng của phê bình. Trong bài viết này, tôi tiếp tục nêu ra những nhận xét cụ thể, dựa trên thực trạng phê bình văn học hiện thời.