Âm nhạc sang trọng bậc nhất nước Việt của ông còn sống mãi. Những bài hát rất hay, rất quý phái cao sang đầy chất thánh ca của ông vẫn hằng tụng ca con người, tụng ca Cái Đẹp, như một cứu cánh góp phần cứu chuộc dân tộc ta, đất nước ta đang có cơ bị diệt vong bởi chính sự băng hoại của những tà thuyết phi nhân. Xin được gọi ông bằng tên gọi thường nhật trìu mến nhất mà thế hệ đi sau ông vẫn hằng được gọi thầm tên ông: ANH VĂN; như ngày xưa thi thoảng được hầu rượu ông nơi quán rượu gần rạp xiếc. Vâng, anh Văn suốt một đời sống chết cũng chỉ vì hai chữ Nhân Văn thiêng liêng, cao cả này mà thôi...
Năm 2013 này là năm kỷ niệm 90 năm ngày sinh của thiên tài
văn nghệ Văn Cao - người đã tự lưu đầy mình vào vĩnh cửu bằng ba tài năng lớn:
hội họa, thi ca và âm nhạc. Văn Cao nhà cải cách tiền phong cả ba nghệ thuật: hội
họa, âm nhạc và thi ca. Bài này chỉ nói về kiếp nhạc của Văn Cao.
Không đợi khi xuân đến, tết về như dịp này, chúng tôi mới
nghe lại bản nhạc bất hủ: “Mùa xuân đầu tiên” Văn Cao khởi viết cuối tháng
12-1975, hoàn thành trong dịp tết Bính Thìn năm 1976.
Đây là bài hát có số phận đặc biệt nhất trong cuộc đời sáng
tác của Văn Cao. Đây cũng là bài hát mang nhiều tâm trạng đối lập, hòa trộn nước
với lửa: vui ít, buồn nhiều, mừng ít, tủi nhiều, hoan ca ít, bi ca nhiều, tha
thiết ít, nghẹn ngào nhiều, bâng khuâng ít, đau đáu nhiều, tự sự ít, ai oán nhiều,
mê say ít, thở than nhiều, cứng cỏi ít, run run nhiều, da diết ít, nỉ non nhiều,
cười ít, khóc nhiều, sum họp ít, cô đơn nhiều, yêu thương ít, đau thương nhiều,
gặp gỡ ít, bơ vơ nhiều...
Hầu như tất cả các trạng thái tình cảm trái ngược nhau của
con người đều có trong bản nhạc kỳ lạ này: ai vui hát lên thì nghe vui, ai buồn
hát lên thấy buồn não ruột, ai đau khổ hát lên thấy một trời đau khổ, ai sầu thảm
hát lên thấy cả một thế giới sầu thảm đang đồng cảm cùng mình…
Nghe đi nghe lại bản nhạc này, ta thấy xuất hiện trong tâm
trí mình rất nhiều tâm trạng không thể dùng ngôn ngữ diễn đạt. Nếu bạn đã hoặc
đang đi qua bể khổ trần gian, nghe bản nhạc “Mùa xuân đầu tiên” bạn sẽ cảm
thương, nhờ nước mắt diễn đạt nỗi lòng mình.
Riêng lời bài hát đã là một bài thơ hay:
Rất nhiều chim én, nhiều nắng gió, có nước mắt vui gặp gỡ của
đàn con nay đã về, có cuộc đời êm ấm... nhưng sao hình ảnh “khói bay trên sông,
gà đang gáy trưa trên sông” lặp lại hai lần làm không gian của “Mùa xuân đầu
tiên” xa xôi, bơ thờ thế, xao xác thế, hoang vắng thế, hiu quạnh thế, đơn độc
có phần cô đơn thế? Chợt nhớ nỗi buồn thiếu quê hương của Thôi Hiệu trong Hoàng
Hạc lâu xưa, cũng một tiếng gà trưa Văn Cao nay, một khói sóng trên sông xa Văn
Cao nay, u hoài khôn xiết: “một trưa nắng thôi hôm nay mênh mông”:
Chợt nhớ Lưu Trọng Lư “thời con nai vàng ngơ ngác” với câu
thơ tiền chiến xưa sao rất đồng cảm với nỗi vui não nùng Văn Cao nay: “Tiếng gà
trưa xao xác não nùng”.
Bài hát như một điệu valse bằng nước mắt; sự thướt tha, quý
phái của một giai điệu bi thương; sự sang trọng của ngậm ngùi, day dứt; sự lãng
mạn của một phiêu linh, xô dạt; sự mê đắm của một vu vơ; sự đoan trang của cái
đẹp lỡ thì; sự liêu trai của ngơ ngác, đìu hiu; sự dịu dàng của nỗi thương đau,
xót nhớ...
Chừng như đã mấy chục năm chiến tranh liên miên chưa từng có
xuân về? Chừng như gần hết cả đời người bận chuyện đấu tranh giai cấp giành giật
miếng ăn chưa từng thấy chim én báo xuân? Chừng như đã rất lâu rồi sự căm thù
trùm lên xã hội không còn ai biết thương người? Chừng như đã lâu lắm rồi ta tha
hương trên chính quê hương mình? Chừng như suốt mấy cuộc chém giết kinh hoàng mạo
danh cách mạng, không còn ai biết yêu con người? Chừng như mấy mươi năm rồi con
người đã quên mình còn nước mắt? Chừng như lâu rồi tâm hồn người không được sưởi
nắng mùa xuân?
Và chừng như lâu lắm rồi Văn Cao quên không còn nhớ mình từng
là nhạc sĩ lãng mạn đã có cả chục ca khúc vào hàng kiệt tác? Chừng như cây đàn
piano cũ kỹ do Hội nhạc sĩ Việt Nam cho Văn Cao thuê mỗi tháng 07 đồng, (thuê
căn gác chật hẹp cũ kỹ 108 Yết Kiêu 15 đồng) đã bị thời gian phủ bụi đầy rêu mốc?
Chừng như đôi tai Văn Cao đã bị súng đạn thời cuộc, sự hò hét xướng ca hò vè phục
vụ chính trị một thời làm ù đặc, khi tất cả các kiệt tác âm nhạc của ông đều bị
chế độ Việt Nam dân chủ cộng hòa (Miền Bắc) cấm hát, trừ bài quốc ca (kể cả thơ
Văn Cao cũng bị cấm)?
Và chừng như toàn bộ vết thương cuộc đời Văn Cao, vết thương
cuộc đời dân tộc, bỗng mượn ngón tay ông mà nhỏ xuống cây đàn piano những giọt
nước mắt giai điệu, khiến những vết thương chợt mở miệng ca hát: “Mùa xuân đầu
tiên”
Chừng như nỗi niềm ngày 30 tháng tư năm 1975: “có một triệu
người Việt Nam vui thì cũng có một triệu người Việt Nam buồn” (lời ông cựu thủ
tướng Võ Văn Kiệt) đã hiện ra nơi bài hát: “Mùa xuân đầu tiên” của Văn Cao?
Trong bài hát ấy, kỳ lạ thay, tôi nghe có một nửa nước vui thắng trận trào nước
mắt và một nửa nước buồn thua trận cũng trào nước mắt, chợt ôm chầm lấy nhau mà
quằn quại, mà dằn vặt giằng xé nhau, cười khóc mếu máo bầm dập nhau, nên vui ấy
sao buồn hiu hắt thế, lênh đênh phiêu bạt thế, nức nở nghẹn ngào thế?
Có lẽ, chính vì những điều trên mà kiệt tác “Mùa xuân đầu
tiên” của Văn Cao sau khi được báo “Sài Gòn giải phóng” in trước tết Bính Thìn:
01-01-1976, được hát trên Đài Tiếng nói Việt Nam mấy lần liền bị cấm suốt 24
năm (1976-2000). Sinh thời, Văn Cao không được nghe, được nhìn thấy đứa con
tinh thần lớn lao này của mình được trình diễn. Sau khi ông mất (1995) 05 năm, “Mùa
xuân đầu tiên” mới ra khỏi nhà tù kiểm duyệt của chế độ.
Xin quý bạn đọc hãy nghe nhà thơ, họa sĩ Văn Thao, con trai
trưởng của nhạc sĩ Văn Cao kể sơ qua về sự ra đời của bài hát này:
“Sau khi bài "Tiến về Hà Nội" ra đời cuối năm
1949, bố bị đưa ra kiểm điểm và bị phê phán khắp nơi. Từ đó bố đã thề, sẽ không
sáng tác ca khúc chính trị nữa... Nhưng rồi những năm tháng sau này đôi lúc hứng
khởi bố vẫn sáng tác. Vẫn biết có sáng tác ra cũng chẳng được dàn dựng...
Tôi còn lưu giữ được một số tác phẩm của ông sáng tác sau
này nên tôi hiểu những điều ông nói. Giá như ông không bị rơi vào cái nạn “Nhân
văn” và bị “vô hiệu hoá” mất 30 năm thì tôi chắc rằng ông sẽ còn sáng tác được
thêm nhiều tác phẩm cho nền âm nhạc Việt Nam.
Những ngày tháng sau đó, căn gác nhỏ nhà Văn Cao không lúc
nào ngớt khách. Những khuôn mặt bừng sáng. Những nụ cười rạng rỡ. Những giọt nước
mắt sung sướng bên những ly rượu tràn đầy và có cả những khuôn mặt, một thời
không dám bước chân đến căn gác nhỏ này vì sợ “bị vỗ vai”.
Văn Cao đã sáng tác xong ca khúc MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN vào đúng
dịp tết Bính Thìn.” - Trích bài “Văn
Cao với ca khúc “Mùa xuân đầu tiên” của Văn Thao in trên “Tạp chí Sông
Hương” số 179-180
Văn Thao tiết lộ tiếp rằng, bài hát bị cấm ở Việt Nam nhưng
bên nước Liên Xô người ta lại dịch sang tiếng Nga, phát trên Đài phát thanh
Matxcova:
“Nhưng cũng thật bất ngờ (không hiểu bằng con đường nào),
trong cái năm 1976 ấy MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN đã được in ở nước Nga và được Liên Xô
trả nhuận bút cho tác giả 100 Rúp. Văn Cao phải viết giấy uỷ quyền qua sứ quán
để con gái ông đang học bên đó lĩnh hộ. Ông bảo con gái: “Con cứ lấy mà tiêu, ở
nước mình bao lâu nay bố có được biết đến đồng nhuận bút tác phẩm nào đâu.””
Qua tiết lộ trên của anh Văn Thao, con trưởng nhạc sĩ thì
nhà ông Văn Cao trên căn gác nhỏ 108 Yết Kiêu suốt một thời luôn luôn có công
an ngầm canh gác, ai đến đều “bị vỗ vai” hỏi tên tuổi, xem đến nhà tên phản động
“Nhân Văn” làm gì? Người viết bài này sau năm 1975 có lần đến thăm nhạc sĩ Văn
Cao để cho ông mượn cuốn tiểu thuyết vĩ đại: “Giờ thứ 25” của văn hào Romania
Constantin Virgil Gheorghiu (1916-1992) mang ra từ Sài Gòn như đã hứa, cũng đã
từng bị công an mật “vỗ vai” hỏi đi đâu? Bèn bảo: đi phỏng vấn tác giả “Quốc
ca” viết bài in báo cũng bị cấm à? Người “vỗ vai” hất đầu cộc lộc: “Vào đi”.
Người ta đã cầm giữ Văn Cao như một tù nhân lương tâm bị
giam lỏng, một thứ nhà tù tại chỗ, nhà tù nhân dân kiểu xã hội chủ nghĩa. Rằng
Văn Cao bị vô hiệu hóa suốt 30 năm vì tội Nhân Văn - Giai Phẩm. Rằng suốt 30
năm ấy, nhạc sĩ Văn Cao sống rất nghèo khổ, “bố có được biết đến đồng nhuận bút
tác phẩm nào đâu”.
Chúng ta lại được nghe người con trai thứ của nhạc sĩ Văn
Cao, nhà thơ Nghiêm Bằng kể sơ qua về sự ra đời của “Mùa xuân đầu tiên”:
“Đó là một đêm vào giữa tháng 12-1975. Chúng tôi đang sống với
cha mẹ trong ngôi nhà số 108 Yết Kiêu. Mùa đông Hà Nội rét tê tái. Cha tôi đã từ
lâu rồi không đàn. Vậy mà trong đêm ấy, tôi nghe có tiếng chân nhè nhẹ lần từng
bước từ phòng trong ra gần chiếc đàn piano - đối diện với chiếc đivăng tôi đang
ngủ.
Một giai điệu khe khẽ vang lên, nó được đàn bởi một bàn tay
phải. Cũng phải nói thêm là cha tôi đã đàn trên chiếc đàn vốn được Hội Nhạc sĩ
VN cho thuê lại với giá 7 đồng rưỡi một tháng (lương tôi hồi đó là 63 đồng, còn
tiền thuê nhà là 15 đồng); từ ngày kỷ niệm 30 năm Tiến quân ca (1974), chiếc
đàn mới được tặng hẳn cho cha tôi thì cha lại rất ít có dịp dùng đến.
Bài hát đã được báo Sài Gòn Giải Phóng số năm mới 1-1-1976
in trang trọng ở bìa 4 và thu thanh ngay sau đó, được phát trên sóng Đài Tiếng
nói Việt Nam, nếu tôi không nhầm thì do ca sĩ Trần Khánh và đoàn ca nhạc Đài Tiếng
nói Việt Nam trình bày. Bài hát được phát khoảng mươi lần trong chừng một tháng
(hồi ấy ca khúc được truyền bá chủ yếu qua sóng phát thanh), rồi không hiểu sao
lặng lẽ chìm đi, như thể bị quên lãng.
Như mọi lần, trong suốt mấy chục năm, cha không tỏ ra bực bội
gì, chỉ hơi buồn thôi. Cha tôi nói chắc chắn bài hát sẽ có ngày được hát lại và
mọi người sẽ yêu nó. Và như mọi lần, cha tôi lại đúng. Chỉ có điều lúc đó cha
tôi không còn nữa. Khi bài hát lần đầu tiên được phát trên sóng truyền hình Việt
Nam năm 2000, cha tôi đã mất được năm năm.” - Nhà
thơ NGHIÊM BẰNG - THU HÀ ghi
Nhà văn Vũ Thư Hiên, trong tác phẩm “Đêm giữa ban ngày”, kể
lại lời Văn Cao nói với ông về Tố Hữu hay Trường Chính chủ trương đánh “Nhân
Văn”, kể lại chuyện ông lãnh tụ Trường Chinh cho gọi Nguyễn Tuân và Văn Cao lên
cảnh cáo sau vụ “Nhân Văn – Giai Phẩm” < *1 *> (xem thú thích dưới bài)
Xuân Diệu đấu tố Văn Cao là trùm phản động, là đầu sỏ chống
cộng < *2*> (xem chú thích cuối bài)
Với tất cả tội trạng tày trời do Xuân Diệu đấu tố Văn Cao
công khai trên báo chí, tội của Văn Cao có khi còn to hơn tội của bà nhà văn Thụy
An và ông Nguyễn Hữu Đang (cùng bị án 15 năm tù giam, 05 năm quản thúc vì hai
người này bị cho là đầu sỏ gây ra vụ án chống đảng “Nhân văn – giai phẩm”). Sở
dĩ Văn Cao thoát tù mọt gông vì ông chính là tác giả Quốc ca.
Ngay sau vụ “Nhân Văn”, nhà nước cộng sản tính lấy một bài
hát “Cách mạng tiến quân” của Đỗ Nhuận làm bài quốc ca, thay bài “Tiến quân ca”
của Văn Cao nhưng việc không thành. Mấy năm sau, năm 1981 nhà nước mở cuộc thi
quốc ca trong suốt hai năm, quyết thay bài hát của tên phản động đang bất đắc
dĩ dùng làm quốc ca; nhưng mấy trăm bài dự thi thay đổi quốc ca, không bài nào
được chọn (vì quá tẻ nhạt) để thay thế bài ca lịch sử của Văn Cao.
Nếu không có bài quốc ca che chắn, có lẽ Văn Cao có thể đã
chết trong tù Cộng sản? Một Văn Cao mềm mỏng, nồng nàn, say đắm, lãng mạn tận
cùng (với các ca khúc bất diệt: “Buồn tàn thu”, “Suối mơ”, “Bến xuân”, “Trương
Chi”, “Thiên Thai”...) trong một Văn Cao tỉnh bơ, quyết liệt, lạnh băng, thần
kinh thép, thậm chí dữ dằn, sắt máu: “thề ăn gan uống máu quân thù”... “đường
ta đi xây xác quân thù”... đến cùng tận khi một mình một xe đạp, đến tiệm hút
thuốc phiện ở Hải Phòng, dương khẩu súng lục số 7165 của tổ chức (do Nguyễn
Đình Thi trao) nhắm thẳng vào đầu Đỗ Đức Phin (bị Việt Minh cho là tay sai của
Nhật) tuyên án từng lời đanh thép: tao bắn mày vì mày là Việt gian tay sai giặc
Nhật! Đoạn, Văn Cao bóp cò súng cái đoàng, đầu Đỗ Đức Phin nức toác, tóe máu; rồi
ông thủng thẳng nhét súng vào thắt lưng, đủng đỉnh đạp xe đi như đang dạo
mát...
Sau này, cả cuộc đời còn lại, Văn Cao vô cùng ân hận vì đã bắn
chết một con người là Đỗ Đức Phin. Đến nỗi, sự sám hối quằn quại khôn xiết này
đã khiến ông không còn dám gõ lên piano những giai điệu lãng mạn tuyệt đẹp thuở
ban đầu kiểu “Suối mơ”, “Bến xuân”... nữa; vì ông có cảm giác tay mình còn nhuốm
máu đồng loại. Thế mà, có những kẻ vô lương tâm, can dự vào việc giết chết hàng
chục triệu đồng bào vô tội của mình mà vẫn vênh mặt tự hào, chẳng một chút ăn
năn sám hối!
Nghe nói Văn Cao còn bắn sẩy (bắn hụt) hai mật thám Nhật tại
Hà Nội là Cung Đình Vạn và Võ Văn Cẩm (không biết có phải vì ông căm thù quân
Nhật từng giết bố vợ mình là cụ Nghiêm Xuân Huyến - một chủ báo, chủ xuất bản lớn
Hà Nội từng bị Nhật thủ tiêu trong tù?). Một con người như thế không dễ gì thỏa
hiệp, đầu hàng, thà chết cho điều mình tin yêu hơn là phải sống như một chiếc
bóng trong suốt hơn ba mươi năm bị giam lỏng trong án tù thả rông: “Nhân văn -
Giai phẩm”...
Có lần, Văn Cao kể cho người viết bài này (trong một bàn rượu
đơn sơ “cuốc lủi”, lạc rang, đậu phụ mắm tôm, với bạn tâm giao: nhà văn Mạc
Phi, nhà văn Sơn Tùng...) rằng: “Sau vụ Nhân Văn, anh em “chống đảng” chúng
tôi, ngoài mấy người bị án tù 15 năm, tất cả đều bị đi cải tạo lao động trên
Tây Bắc. Trong chặng đường đi đày trên tàu hỏa, dù tôi đang đau dạ dày nặng sắp
chết vẫn bị điệu đi, mấy lần tôi đã toan nhảy xuống đường tự tử khi tàu chạy,
nhưng hình bóng đàn con lóe lên trong đầu như ánh chớp, hình bóng bà Băng (bà
Nghiêm Thúy Băng – phu nhân nhạc sĩ) còng lưng nuôi đàn con bơ vơ mất bố, tôi
liền bỏ ý định tự sát để tiếp tục sống hèn mà trở về nuôi con...”
Có lẽ men “cuốc lủi” làm Văn Cao cảm động, tay ông run run,
kể tiếp: “Thảm nhất là khi ở nơi cải tạo lao động, đến bữa ăn, cứ thấy mình ngồi
bàn nào là anh em (cùng bị đi đày lao động) lại tìm sang bàn khác ngồi, không
ai chịu ngồi cùng bàn ăn với kẻ đầu sỏ Nhân Văn, đến nỗi chị nuôi trại đi đày
phải xẻ một suất cơm ôi cá thối cho tôi ngồi một mình một bóng mà ăn cho khỏi
chết đói chứ nào có ngon lành gì...”
Ngày 30 tháng tư 1975, ngày kết thúc 30 năm chiến tranh,
theo mấy người con và mấy người bạn thân của nhạc sĩ kể lại, Văn Cao im lặng
không nói gì, không reo mừng hò hét vỗ tay vỗ chân rầm rập trong hàng nghìn ca
khúc khẩu hiệu điếc tai như phần lớn đồng nghiệp đã hét. Có lẽ, ông nghĩ rằng,
nhờ chiến thắng này mà có thể thân phận “tù tại ngoại” của ông cũng sẽ được giải
phóng, thoát án giam lỏng nhân văn chăng?
Dồn nén khát vọng tự do mấy chục năm, dồn nén khát vọng hòa
bình mấy chục năm, dồn nén khát vọng mùa xuân mấy chục năm, dồn nén khát vọng
thoát khỏi “nhà giam tư nhân” mấy chục năm, dồn nén khổ đau buồn hận mấy chục
năm, dồn nén oan ức bị chà đạp mấy chục năm, chợt một sáng cuối đông, đầu xuân
năm 1976, vỡ òa cảm xúc, vỡ òa nước mắt nhỏ giọt yêu thương, nhỏ giọt mật đắng
nghẹn ngào lên từng phím đàn thành giai điệu Văn Cao “Mùa xuân đầu tiên” chăng?
Thành ra, “Mùa xuân đầu tiên” chính là lời reo vui của đắng
cay, niềm rưng rưng kiếp nạn giải thoát, nỗi hoan ca ngục tù gặp nắng gió mênh
mông...?
Xin xem thêm tài liệu tổng kết vụ án “Nhân Văn - Giai Phẩm”
(NVGP) của đại tá công an A 25 Thái Kế Toại đã in công khai trên rất nhiều
trang mạng, để thấy thân phận của Văn Cao suốt ba mươi năm dưới chế độ “ưu việt
gấp triệu lần tư bản” thê thảm là dường nào < *3 *> (xem chú thích cuối
bài)
Qua lời tự thú của vị đại tá công an phụ trách theo dõi văn
hóa văn nghệ trên, ta thấy số phận kẻ trọng tội NVGP bị lưu đày trong chính căn
phòng mình, trên chính quê hương mình của Văn Cao và các bạn hữu NVGP của ông hầu
như đã bị tước quyền công dân, tước hết quyền sáng tạo nghệ thuật, bị “giam tại
nhà”, bị đấu tố, bị làm nhục, bị cải tạo lao động hà khắc; không khác mấy so với
những kẻ thua trận Việt Nam cộng hòa bị tù tội trong danh phận học tập cải tạo
sau năm 1975...
Không thấu hiểu hoàn cảnh sống bị chà đạp, bị lăng nhục, vùi
dập, bị đói khổ, bị mất hết tự do nơi Văn Cao suốt ba mươi năm, chúng ta sẽ
không cảm nhận được hết nỗi vui của người tù vừa tìm thấy một khe hở gió nắng,
được vụt lóe với khói trên sông, với tiếng gà trưa hiu quạnh trong nỗi đau nghẹn
ngào “Mùa xuân đầu tiên” này...
Chính nỗi đau buồn kia đã đẩy Văn Cao tới chân tường của cô
đơn, lưu đày ông vào ly rượu và khói thuốc. Chứng nghiện rượu đã giúp Văn Cao
phần nào quên đi thực tại thê thảm, giúp ông có nghị lực để sống qua thời
thương khó. Nhiều đêm, không ngủ được, thức khuya để tìm ảo giác trong men rượu,
thấy bóng mình in trên tường, Văn Cao chợt rùng mình hoảng sợ, ngỡ là công an mật
nửa đêm xuyên tường đến hỏi cung ông, suýt nữa làm ông co cẳng ù té chạy...
Suốt một đời Văn Cao không chạy thoát khỏi bóng mình, không
thoát khỏi kiếp lưu đầy thiên bẩm của một nghệ sĩ lớn mà thời đại dường như
không đủ chỗ cho mình tỏa bóng. Đành thu bóng lại như con mèo nghệ thuật nằm cuộn
tròn trong đống tro tàn cải tạo tại gia mà ăn năn hối cải về tội chống đảng của
mình.
Đâu rồi chàng trai Văn Cao yêu đời, yêu người, tự do tự tại,
thanh bình, phiêu lãng miền thiên giới, thần tiên sống lẫn con người, lãng mạn
tới tận cùng chân trời góc bể trong những ca khúc tiền chiến tuyệt tác? Xin
cùng nghe lại bản nhạc đầu tay tuyệt diệu của trang thiếu niên 16 tuổi, và xem
lại lời của ca từ “Buồn tàn thu”:
“Buồn tàn thu” một nỗi buồn đẹp, trong veo dù tình em tưởng “chết
rơi theo lá vàng”. Cái buồn của tình yêu “em thương nhớ chàng” Văn Cao kết hợp
hồn nhạc ngũ cung với chất khải huyền Thánh ca Thiên Chúa giáo rất cổ thi; như
người chinh phụ nhớ chinh phu “Chinh phụ ngâm” Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm, như
thần thiếp nhớ quân vương “Cung oán ngâm khúc” Nguyễn Gia Thiều, Kiều nhớ Thúc
Sinh trong mùa thu chết “Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san” Nguyễn Du thuở lục
bát “người lên ngựa, kẻ chia bào” của “bụi hồng dặm cuốn chinh an”...
Cái buồn của con người gặp cái buồn của trời đất, rất “mang
mang thiên cổ sầu” Văn Cao. Chàng thiếu niên 16 tuổi đã ký thác đời mình trong
vàng thu lá chết, lấy lá vàng mùa thu làm chiếc diều của của nghệ thuật muôn đời
siêu thoát. Chàng tự lưu đày mình vào mùa thu một cách tự nguyện. Chàng chết đuối
theo vàng thu chìm nghỉm để bất tử trong giai điệu du dương, sang trọng, như
danh họa Nga gốc Do Thái Levitan phó linh hồn cho mùa thu Nga vĩnh cửu sơn dầu...
Ngay từ 16 tuổi, bằng sự lãng mạn tận cùng qua “Buồn tàn
thu”, Văn Cao đã sung sướng được đắm chìm vào vương quốc Cái - Đẹp. Chàng dùng
nỗi buồn làm rượu, làm lương thực hằng sống nuôi dưỡng những giai điệu du dương
lãng mạn đẹp nhất của nền tân nhạc Việt Nam thuở ban đầu trong năm kiệt tác vô
song: “Buồn tàn thu”, “Suối mơ”, “Bến xuân” (lời Phạm Duy) “Trương Chi” và “Thiên
Thai”...
Dường như năm bản nhạc lãng mạn trên là năm bản thánh ca của
tâm hồn con người, đưa ta thoát mọi phàm tục để được thánh hóa, được thăng hoa
tới muôn vàn mê đắm, thoát khỏi hận thù mà bất tử với thương yêu? Bản tình ca của
nỗi buồn, của Cái - Đẹp ban sơ được hát lên cùng thiên giới thiêng liêng niềm
hoài niệm trần thế; nơi suối nguồn róc rách mê ly chảy ra từ năm dòng kẻ nhạc
Văn Cao, theo giai điệu thiên thần réo rắt thanh tao kia mà rót vào hồn ta hơi
thở đất trời, rót vào tai ta chất men say của niềm ham sống, của tin yêu và
hoài vọng. Âm nhạc Văn Cao nâng cánh con người bay lên cõi đẹp, cõi mê, cõi thần
tiên, cõi hằng sống là vì thế chăng?
Chừng như Văn Cao đã ngầm ký gửi thân phận mình vào hai ca khúc
lãng mạn một cách siêu nhiên có phần kỳ bí, huyền nhiệm: “Thiên thai” và “Trương
Chi”, vừa mang phong cách cao sang, nền nã, cổ điển của nghệ thuật Apollon - thần
ánh sáng và thi ca, vừa mang phong cách ma mị, xuất thần, cuồng si của nghệ thuật
Dionysos - thần rượu nho (theo quan niệm về bi kịch Hy Lạp của Nietzsche)?
Văn Cao, ngay từ độ đôi mươi, đã tự đày ải mình lên miền
thiên giới trong đại kiệt tác “Thiên Thai”. Cuộc nhập “Thiên Thai” ấy không chỉ
có hai chàng Lưu Nguyễn mà thực ra đã có ba chàng: người tham gia khí muộn vụ
thiên hành lên cõi tiên ấy chính là Văn Cao:
Văn Cao và hai chàng Lưu Nguyễn đã nhập “Thiên Thai” nghệ
thuật. Nơi đó, Cái Đẹp chính là tiên nữ, khởi nguồn mọi xúc cảm hồn người. Nghệ
thuật, nói cho cùng KHÔNG VỊ BẤT CỨ ĐIỀU GÌ, vì nó là cái chân thiện mỹ đã được
thánh hóa, được đóng dấu thiên giới cao sang. Tột cùng của nghệ thuật là sự
thoát tục, sự thăng hoa con người lên những thế giới khác, tâm hồn khác, rung động
khác, mê ly khác, ảo diệu khác... do con đò của tưởng tượng chở ta sang bờ bên
kia của sự thật, bờ bên kia của thế giới.
Những giai điệu thần tiên mê ly hết mực Văn Cao đã đưa hồn
ta du nhập cùng ba chàng lãng tử Lưu - Nguyễn - Văn vào cõi trời. Thiên Thai ấy,
tiên nữ ấy, nghê thường ấy hóa ra không ở đâu xa, lại ở chính nơi hồn ta khi được
âm nhạc thiên tài Văn Cao đánh thức...
Văn Cao hóa thân vào bi kịch nghệ thuật Trương Chi, hay
chính hồn chàng Trương Chi đã ám lấy cuộc đời Văn Cao trong một ca khúc hay đến
rợn người, hay đến ngờ có ma trong giai điệu du dương chìm lắng, thê lương, rờn
rợn liêu trai, khuya khoắt ngồi nghe một mình có thể nổi da gà:
Bi kịch Trương Chi chính là bi kịch của nghệ thuật, bi kịch
cuộc đời, hơn nữa là bi kịch của thiên tài và thời đại, bi kịch của Văn Cao và
chế độ… Hình như Văn Cao đã đổi vai cho chàng ca sĩ thiên tài Trương Chi trong
câu chuyện cổ diễm tình, được kể lại bằng hồn Văn Cao với giai điệu bi ca, khốc
ca, hú ca, Mỵ Nương ca?
Hồn Trương Chi u uẩn, u u trong gió sương vương vấn trên
sông, đêm đêm đã lấy đi hết nước mắt nàng Mỵ nương ân hận nghìn đời. Nay hồn ấy,
tình đơn phương yêu đến chết ấy lại nhập vào hồn Văn Cao với giai điệu sầu
thương, nức nở, lấy đi bao giọt khóc của người nghe nhạc hôm nay.
Thương thay chàng Trương Chi Văn Cao đã dâng hiến cả tâm hồn
và thân xác mình cho tình yêu con người, cho tình yêu thời đại, yêu đến nỗi cuồng
điên kiểu Xuân Diệu: “Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi” nhưng đã bị thời đại
đáp lại bằng “cú đớp chính trị” Nhân Văn Giai Phẩm tàn mạt cả một đời.
Nàng Mỵ Nương cuộc đời, nàng Mỵ Nương thời đại không chấp nhận
tình yêu đơn phương tận hiến ấy, yêu và ca hát như con ve tới chết cho nàng, vì
nàng, một tình yêu phi điều kiện, phi chính trị. Cũng như Trương Chi, Văn Cao
đã bị nàng Mỵ Nương - Thời đại phụ tình, hớp hết hồn chàng, rút hết gan ruột
chàng trong các ca khúc kháng chiến bất hủ: “Trường ca Sông Lô”, trong “Tiến
quân ca”, trong “Làng tôi”, trong “Tiến vế Hà Nội”, trong “Ngày mùa”… ăn ốc đổ
vỏ, rồi nhốt chàng vào mật thất cô đơn như một huyệt mộ của tự do trá hình có
tên là căn gác chật hẹp 108 Yết Kiêu, Hà Nội, thuê 15 đồng một tháng (ở tù tại
gia mà phải thuê a?)...
Trương Chi đã yêu, đã chết cho mối tình lý tưởng đơn phương,
thân xác tan vào sông nước và hồn hóa thành đá quý làm chén ngọc cho Mỵ Nương
gieo nước mắt thương tình thành sông. Văn Cao không ném thân xác mình vào cát bụi
để được chết vì yêu như Trương Chi; nhưng linh hồn ông, âm nhạc ông đã đang và
mãi mãi sẽ được người đời yêu thương đón nhận. Hồn Văn Cao còn hát mãi tiếng
tuyệt vời Trương Chi trên dòng sông âm nhạc, nơi sẽ có hàng nghìn Mỵ Nương xinh
đẹp mong ước chàng sống lại để hậu thế được yêu chàng như lời thơ R. Tagore vẽ
hộ tình yêu mai sau dành cho chàng Trương Chi - Văn Cao:
“Nàng ơi / tất nhiên là nàng sẽ ra đời / trong một thế kỷ
nào đó / xin nàng tha thứ cho / nếu quả vì tôi kiêu hãnh / vẽ dáng nàng đang đọc
thơ tôi / khi trăng rọi im lìm qua khe chữ / tôi biết đêm nay / dưới trăng mờ /
nàng thắp đèn chờ / dù nàng biết chẳng bao giờ nhà thơ (nhạc sĩ - chua thêm
TMH) đến nữa …” (bản dịch từ tiếng Anh của Cao Huy Đỉnh)
Tiền bối Văn Cao ơi!
Âm nhạc sang trọng bậc nhất nước Việt của ông còn sống mãi.
Những bài hát rất hay, rất quý phái cao sang đầy chất thánh ca của ông vẫn hằng
tụng ca con người, tụng ca Cái Đẹp, như một cứu cánh góp phần cứu chuộc dân tộc
ta, đất nước ta đang có cơ bị diệt vong bởi chính sự băng hoại của những tà thuyết
phi nhân. Xin được gọi ông bằng tên gọi thường nhật trìu mến nhất mà thế hệ đi
sau ông vẫn hằng được gọi thầm tên ông: ANH VĂN; như ngày xưa thi thoảng được hầu
rượu ông nơi quán rượu gần rạp xiếc. Vâng, anh Văn suốt một đời sống chết cũng
chỉ vì hai chữ Nhân Văn thiêng liêng, cao cả này mà thôi...
Sài Gòn ngày 23-01-2013
Trần Mạnh Hảo
_________________________________
Phần chú thích:
Chú thích <*1*>:
“Tố Hữu ấy à? Không, không phải đâu. Cần phải công bằng. Tố
Hữu có không ưa mình, có làm khổ mình thật, do lòng đố kỵ mà ra. Mình cũng ghét
cái thằng bắng nhắng ấy lắm. Nhưng có thế nào nói thế ấy. Tố Hữu chỉ là kẻ thừa
hành thôi. Nói gì thì nói, trong lòng Tố Hữu vẫn còn một chút gì của nhà thơ chứ.
Bề ngoài thì thế đấy - Tố Hữu lãnh đạo cuộc đánh từ đầu chí cuối. Người ta tưởng
vụ Nhân văn - Giai phẩm nổ ra là bởi báo Nhân văn đăng mấy bài phê bình thơ Tố
Hữu, Tố Hữu tức, Tố Hữu đánh. Nhầm hết. Longue Marche (tiếng Pháp, có nghĩa là
cuộc quân hành dài, ý nói Trường Chinh) mới là kẻ sáng tác ra vụ Nhân văn -
Giai phẩm. Để chạy tội Cải cách ruộng đất. Để tạo ra cái hố rác mà trút mọi tội
lỗi của Lúy[2] vào đấy. Chính Longue Marche chứ không ai khác. Đừng tước bản
quyền của Lúy, tội nghiệp! Longue Marche còn cho mời mình và Nguyễn Tuân đến gặp.
Lúy nói cả tiếng đồng hồ về đảng tính, về trách nhiệm đảng viên. Chiêu hồi mà.
Nguyễn Tuân nghe, mặt hất lên, ngáp không cần che miệng. Nguyễn Tuân vẫn thế -
bất cần đời. Đôi lúc cũng có hèn một tí, hèn có mức độ thôi, trong đại đa số
trường hợp là kẻ bất chấp. Mình nói với Longue Marche: "Nếu trong vườn hồng
có sâu thì ta phải chịu khó mà bắt bằng tay, từng con một. Đổ ụp cả đống thuốc
trừ sâu vào đấy thì chết cả vườn hồng. Rồi anh sẽ thấy: qua đợt đánh phá này
không biết bao giờ nền văn nghệ Việt Nam mới ngóc đầu dậy được!" Lúy nghe,
mặt câng câng. Cái cách của Trường Chinh là thế. Lúy gọi mình đến còn có ý này
nữa: Lúy muốn mình phải hiểu - tôi đã chịu khó nghe các anh rồi đấy nhá, tôi
dân chủ lắm rồi đấy nhá! Chứ còn cái nền văn nghệ của các anh, nó đáng giá mấy
xu?.
http://vi.wikipedia.org/wiki/Phong_tr%C3%A0o_Nh%C3%A2n_V%C4%83n_-_Giai_Ph%E1%BA%A9m
Chú thích <*2*>:
"Những tư tưởng Nhân văn-Giai phẩm luồn lách như chạch;
không phải lúc nào nó cũng lộ liễu như trộn trấu, cát vào gạo cơm ta ăn, khiến
ta biết ngay; mà có khi nó giấu tay rỏ thuốc độc vào những chai thuốc dán nhãn
hiệu là “bổ”. Văn Cao vào hạng có bàn tay bọc nhung như thế. Sự giả dối đã
thành bản chất của Văn Cao, nên những cái lạc hậu, thoái hoá của Văn Cao cứ
nghiễm nhiên mặc áo chân lý và tiến bộ. (...)
Vào đời giữa thời phát-xít Nhật đổ bộ vào Đông Dương, lúc lớn
lên nhạy cảm nhất lại là lúc chủ nghĩa đế quốc Pháp Nhật toát ra cái chất cuối
mùa đồi trụy nhất, phản động nhất, Văn Cao đã ngộ độc rất nặng. (...)
Trong bài hát Trương Chi, Văn Cao gán cho người đánh cá cái
khinh bạc tột độ của mình, không coi nhân quần ra cái gì hết, chỉ có một mình
mình trên trái đất; hơi lạnh của chủ nghĩa cá nhân tuyệt đối toát ra như một âm
khí nặng nề:
Những ngày đầu Cách mạng tháng Tám, những ý nghĩ phiêu lưu,
tìm thi vị xa vời, mới lạ trong cách mạng, là một chặng đường tất yếu của tư tưởng
nhiều người; mơ ước “Hải quân Việt Nam”, “Không quân Việt Nam” lúc đó cũng là một
trạng thái của lòng yêu nước.
Nhưng ta phải giật mình khi nhớ lại những lời hát:
Ta không trách trình độ chính trị của ta và của tác giả khi
đó còn thấp. Chúng ta giật mình vì cái lối bay để mà bay, tự say lấy mình đó là
tiền thân của cái lối “Hãy đi mãi” của Trần Dần; chúng ta giật mình hơn nữa là
cái máu anh hùng chủ nghĩa làm cho Văn Cao sảng khoái nhìn thấy “những kinh
thành tan” dưới bom đạn mà không chút xót thương, và “chiến công ngang trời”
kia lại là của “không quân Việt Nam”, mà không nói là chiến tranh tự vệ!
Mấy bài thơ năm 1946, 1948 của Văn Cao, có dụng ý tốt, nhưng
cũng bộc lộ cái tính chất nghệ thuật của Văn Cao, thích khúc mắc, khó hiểu,
thích loè lên lấp lánh, pha với sự lập dị, chộ người, toát ra một màu vị tan
rã, như bài "Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc", hay như bài "Ngoại
ô mùa đông 46" (Văn nghệ số 2, tháng 4-5/1948):
Giả dối như một con mèo, kín nhẹn như một bàn tay âm mưu
trong truyện trinh thám, bài thơ Anh có nghe thấy không? lập lờ, ấp úng, bí hiểm,
hai mặt, tuy nhiên công chúng cũng hiểu nó muốn nói gì. Văn Cao gọi ai là
“chúng nó”? Đối lập với ai là “chúng ta”?
Trên đất nước ta, “chúng nó” là Mỹ-Diệm ở miền Nam, là tay
chân Mỹ-Diệm ở miền Bắc, là bọn phá hoại Nhân văn-Giai phẩm; chúng nó là thế đấy
(...)
Được đăng bởi nguyentrongtao và VANDANVIET.COM
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét