Nhà thơ Vương Trọng
Chính kinh đô Thăng Long đã tạo nên mối lương duyên giữa Tả thị lang bộ Hình (sau này là quan Tư đồ rồi Tế tướng) Nguyễn Nghiễm quê Nghi Xuân, Hà Tĩnh với cô gái Trần Thị Tần quê Từ Sơn, Bắc Ninh. Chúng ta biết rằng, Nguyễn Nghiễm lúc đó tuổi đã xấp xỉ năm mươi, còn Trần Thị Tần, xuân xanh chưa đầy hai chục, chính xác là kém Nguyễn Nghiễm 32 tuổi và kém 6 tuổi so với Nguyễn Khản, con đầu của ông. Nếu năm 1757, Nguyễn Nghiễm không được triều đình gọi về Thăng Long, thì làm gì có được mối lương duyên này, và tám năm sau, năm 1765 không thể khai sinh ra một con người mà sau này trở thành Đại thi hào của dân tộc!
Chúng ta cũng từng biết, Nguyễn Du sinh ra ở phường Bích Câu, tuổi thơ và tuổi học trò sống ở Thăng Long, tình yêu đầu tiên và câu thơ lục bát đầu tiên cũng dành cho người Thăng Long. Chuyện này chính Nguyễn Du đã thuật lại trong bài “Một mối tình hận của tôi” mà nhà giáo Nguyễn Đức Bính đã giới thiệu cách đây hơn nửa thế kỷ. Trong bài viết ấy, Nguyễn Du kể lại mối tình của mình ngày còn đi học, đã quen rồi yêu một cô gái chống đò trên sông Nhị Hà, tên là Đỗ Thị Nhật. Tình yêu không thành nhưng chuyện tình còn để lại với những dòng lục bát tỏ tình đầu tiên, với ba chấm lửng (…) kết thúc khổ thơ đầy ngụ ý:
Kẻo trời trưa trật lỡ làng tôi ra
Còn nhiều qua lại, lại qua
Giúp cho nhau nữa để mà…
Khi Nguyễn Du ra đời thì kinh đô Thăng Long đã 755 tuổi, Văn miếu, Quốc Tử Giám đã có ngót 700 năm, rùa Văn Miếu đã xếp hàng đội bia Tiến sĩ từ những thời nào. Mặc dù không thấy tài liệu nào nói chuyện Nguyễn Du ra vào khu Văn Miếu, chỉ thấy nhắc tới hồ Giám, nhưng với bản tính ngưỡng mộ hiền tài, trân trọng lịch sử, hơn nữa bốn chữ “Cổ kim nhật nguyệt” sơn son thếp vàng hiện còn treo ở nơi trang trọng nhất của Văn Miếu là chính do Nguyễn Nghiễm, thân sinh ông viết, thì ta tin rằng, Văn Miếu là địa chỉ quen thuộc của Nguyễn Du thời trai trẻ. Là con trai một vị Tể tướng, những năm sống ở Thăng Long, Nguyễn Du có điều kiện ra vào cung vua, phủ chúa, chứng kiến được cuộc sống sang trọng, có khi xa hoa, truỵ lạc của tầng lớp trên của xã hội bấy giờ, điều này tạo điều kiện cho ông có những câu thơ tả cảnh, tả người hết sức sinh động trong Truyện Kiều. Theo kết qủa nghiên cứu của các học giả có uy tín, cũng như qua sự suy xét của bản thân tôi, Nguyễn Du viết Truyện Kiều vào thời gian sống ở Tiên Điền từ năm 1796 đến năm 1802, và cụ thể hơn, chuyện Kiều được ra đời vào năm 1801. Như vậy khi viết Truyện Kiều, Nguyễn Du chưa ra làm quan cho Gia Long, chưa biết được cảnh sinh hoạt chốn vua quan triều đình Huế, thế thì những câu tả cảnh, tả người những gia đình quyền quý trong Truyện Kiều chính nhờ kinh đô Thăng Long cung cấp vốn sống. Ví như những câu tả cảnh nhà và cách sinh hoạt của bà mẹ Hoạn Thư, bà vợ của ông Thượng thư bộ Lại:
Ban ngày sáp thắp hai bên
Giữa giường thất bảo ngồi trên một bà.
Một người dù tài thơ đến mấy, nhưng nếu chưa từng tiếp xúc với tầng lớp trên của xã hội thời bấy giờ, thì khó mà nghĩ ra được những cảnh tượng ấy vốn không có trong Kim Vân Kiều truyện. Hay như hình dáng mụ chủ chứa Tú bà:
Thoắt trông nhờn nhợt màu da
Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao
Rồi: “Cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm…”là những gì Nguyễn Du sáng tạo ra từ sách vở đọc được cũng như chứng kiến ở kinh thành Thăng Long một thời.
Từ khi sinh ra đến năm 1786, trước khi về quê vợ ở Thái Bình sống “mười năm gió bụi”, chỉ trừ về quê Nghi Xuân vài lần ngắn ngủi, hầu hết thời gian Nguyễn Du sống ở Thăng Long để học hành cũng như giao du với những người sống ở Thăng Long như Đoàn Nguyên Thục, Đoàn Nguyên Tuấn, Thực Đình... Chúng ta nhớ rằng, Thăng Long là Kinh đô nên không chỉ có những người quê Thăng Long, mà nhân tài tứ xứ, đặc biệt là văn sĩ Bắc Hà sinh sống và làm việc ở đó. Xuất thân từ một gia đình khoa bảng, có truyền thống thi ca thơ, lại được giao du, tiếp xúc với những người tài sống ở Thăng Long, tài thơ bẩm sinh của Nguyễn Du như hạt giống tốt gặp đất tốt, mưa thuận, gió hoà. Nhà thơ lớn của một dân tộc phải là người hiểu được văn hoá của cả dân tộc mình chứ không phải chỉ của một vùng đất, một nhóm người. Khi không có điều kiện lăn lộn khắp các vùng của đất nước, nếu muốn hiểu văn hoá của dân tộc mình thì không sống đâu bằng ở thủ đô, nơi hội tụ tinh hoa của các vùng văn hoá. Ngoài việc khác nhau về năng khiếu bẩm sinh, Nguyễn Du thuận lợi hơn một số nhà thơ khác, ví dụ như Nguyễn Đình Chiểu, là cả một thời trai trẻ được sống ở kinh đô, nên tác phẩm ông là tiếng nói chung của cả dân tộc, thoát ly văn hoá vùng miền nên bạn đọc cả nước dễ tiếp nhận và đồng cảm. Như vậy, Thăng Long không những tạo cơ hội cho con người Nguyễn Du ra đời, mà còn tạo điều kiện, hun đúc ông trở thành Đại thi hào.
Ngoài những vần lục bát tặng Đỗ Thị Nhật, trong thơ chữ Nôm, chúng ta không thấy bài nào, dòng nào ông viết về người và cảnh Thăng Long, nhưng trong thơ chữ Hán, ông để lại năm bài. Đầu tiên là bài Đại nhân hý bút ( thay người khác viết đùa), có những câu tả cảnh Thăng Long hết sức cụ thể:
Thác lạc nhân gia Nhị Thuỷ tân
Cư nhiên biệt chiếm nhất thành xuân
Đông tây kiều các kiêm thiên khởi…
Tạm dịch:
Nhà bên sông Nhị chen chân
Nghiễm nhiên chiếm hết cảnh xuân thành này
Chạm trời, cầu, gác đông tây…
Đây là những câu thơ tả cảnh Thăng Long duy nhất của Nguyễn Du thời ông còn trai trẻ. Tuy nhiên, cảnh đó có đúng sự thật hay không, thì ta thật khó biết vì đầu đề bài thơ là Đại nhân hý bút, tức thay người khác viết đùa. Thay lời người khác đã không phải ý của tác giả rồi, lại còn viết đùa nữa thì người đọc khó biết được thực hư thế nào!
Bốn bài còn lại đều nằm trong tâm trạng hoài vãng, đau xót trước cuộc bể dâu, thương tiếc Thăng Long một thời vàng son. Chúng ta biết rằng năm Nguyễn Du rời Thăng Long về quê vợ ở Thái Bình cũng là năm Nguyễn Huệ kéo quân ra Thăng Long lần thứ nhất. Từ đó Nguyễn Du rất ít có dịp trở lại Thăng Long. Nếu như bài ghi chép “Một mối tình hận của tôi” nói về mối tình đầu và những câu lục bát đầu tiên của Nguyễn Du thời đi học ở Thăng Long, thì bài “Long Thành cầm giả ca” chứa đựng nhiều lượng thông tin nhất về mối liên hệ của Nguyễn Du với Thăng Long sau năm 1786. Theo lời Tiểu dẫn cũng như nội dung bài thơ, ta biết được rằng, khoảng năm 1793, từ quê vợ Thái Bình, Nguyễn Du lên Thăng Long thăm anh trai là Nguyễn Nễ trước làm quan trong triều Lê, nay giúp Tây Sơn. Nguyễn Du trọ gần hồ Giám, có chứng kiến cuộc “chơi sang” của quan lính Tây Sơn, xem tiền bạc như bùn đất trong một đêm xem đàn hát. Trong lời tiểu dẫn có một câu: “ Lúc đó tôi nấp trong bóng tối, không thấy rõ lắm”. Là em một ông quan triều Tây Sơn đi xem hát do quân Tây Sơn tổ chức, tại sao Nguyễn Du lại phải nấp trong bóng tổi? Là vì Nguyễn Du không muốn ai nhận ra mình, một người không chấp nhận sự đổi thay của Thăng Long do quân Tây Sơn mang lại. Nguyễn Du dùng hình tượng người gảy đàn ở Long Thành, không chỉ nói về số phận của một người ca kỹ, mà muốn nói sự đổi thay của thời thế, đổi thay của Thăng Long qua các thời kỳ nhà Lê, Tây Sơn rồi nhà Nguyễn với nỗi tiếc nuối, giống như nội dung hai câu Kiều ông từng viết: “ Trải qua một cuộc bể dâu/ Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”.Trong lời Tiểu dẫn, Nguyễn Du còn viết: “ Sau đó vài năm, tôi dời vào nam và từ đó không trở lại Thăng Long nữa”. Ta biết rằng năm 1796, một năm sau khi vợ mất, Nguyễn Du đã đưa con trai tên là Nguyễn Tứ, khi đó mới vài tuổi về Nghi Xuân. Hai chữ “ vào Nam” Nguyễn Du dùng là kể cả thời gian ông sống dưới chân núi Hồng Lĩnh cũng như thời gian làm quan dưới triều Gia Long mà ông ở Phú Xuân hoặc Quảng Bình. Như vậy là đến 20 năm Nguyễn Du không trở lại Thăng Long, kể từ năm 1793 đến năm 1813.
Khi ở ẩn dưới thời Tây Sơn hay khi làm quan dưới triều Gia Long, Nguyễn Du có lúc coi Thăng Long như nơi xuất phát của mình, dùng Thăng Long để xác định vị trí các nơi ở khác. Ví như sau khi rời Thái Bình về Nghi Xuân, trong bài “ Sơn cư mạn hứng”, ông mở đầu:
Nam khứ Tràng An thiên lý dư
Quần phong thâm xứ dã nhân cư
là ông nói mình trở thành gã nhà quê sống trong núi sâu cách Thăng Long hơn ngàn dặm. Ông chọn Thăng Long làm vật chuẩn là vì ông ra đi từ nơi ấy. Nhưng nhiều khi ông nghĩ về Thăng Long như một sự thất thế, một nỗi cảm thương. Sáu năm sống ở Tiên Điền, có khi ông ngồi lặng bến bến Giang Đình nhớ quá khứ vàng son, nhắc lại chuyện khi ông mới sáu tuổi theo cha từ Thăng Long về quê nghỉ hưu, cập bến này:
Về hưu ngày ấy cha ta
Xe bồ, ngựa tứ đã qua bến này
Thuyền kích nước tựa rồng quây
Lọng như hạc báo điềm hay giữa trời…
Nhưng đó là quá khư gần ba mươi năm trước, còn hiện tại thật đáng buồn, ông buồn cho mình và buồn cho đổi thay của Thăng Long:
Từ khi xiêm áo hết thời
Khói trên ngọn cỏ ngậm ngùi bờ sông
Trăm năm bao chuyện đau lòng
Tràng An ngày trước nay không còn gì.
(Giang Đình hữu cảm)
Đó là ông nói về Thăng Long dưới thời Tây Sơn, còn khi Gia Long lên ngôi, kinh đô chuyển vào Phú Xuân, Thăng Long đâu còn như xưa nữa, ngay ý nghĩa hai chữ Thăng Long cũng đã đổi khác: “thịnh vượng” chứ không phải “rồng bay”. Trong thời gian làm quan cho nhà Nguyễn ở Phú Xuân, ở bài “Ngẫu Hứng”, Nguyễn Du viết:
Hữu nhất nhân yên lương khả ai
Phá y, tàn lạp sắc như hôi
Tỵ nhân đản mịch đạo bàng tẩu
Tri thị Thăng Long thành lý lai.
Dịch thơ:
Ai kia trông đáng thương thay
Nón cời, áo rách, mặt mày tái xanh
Tránh người, vệ cỏ bước dành
Chắc là mới đến từ thành Thăng Long!
Ở Huế, thấy một người thất thế, rách rưới, đáng thương, đi đường thì dạt vào vệ cỏ tránh người, Nguyễn Du đoán người ấy từ Thăng Long mới vào, chứng tỏ trong ý nghĩ của Đại thi hào thời ông làm quan cho nhà Nguyễn thì Thăng Long biểu tượng cho sự thất thế đáng thương.
Và đúng thế thật, khi Gia Long lên ngôi, chuyến kinh đô vào Phú Xuân, ông cho xây dựng thay đổi diện mạo Thăng Long, mà năm 1813, trên đường đi sứ Trung Quốc, Nguyễn Du đã ghé thăm và ghi nhận:
Thành quách suy di, nhân sự cải
Kỷ xứ tang điền biến thương hải
( Thành quách đổi dời, việc người cũng khác, bao nhiêu nương dâu đã thành bãi biển)
Và cũng trong dịp này, Nguyễn Du sáng tác bài thơ Thăng Long, một tác phẩm thể hiện rõ sự nuối tiếc của nhà thơ đối với kinh đô cũ. Bài thơ mở đầu:
Tản Lĩnh, Lô Giang tuế tuế đồng
Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long
Núi Tản sông Lô bao nhiêu năm vẫn thế. Đầu bạc rồi mà còn được thấy Thăng Long. Ở đây không phải tác giả than vãn vì gặp lại Thăng Long quá muộn, khi mái đầu đã bạc, mà ngược lại tác giả tỏ rõ nỗi mừng, một sự may mắn được thấy lại Thăng Long, vì bao nhiêu năm nghĩ rằng cơ hội đó không còn nữa. Như trên đã nói, Nguyễn Du rời Thăng Long năm 1786 để về quê vợ Thái Bình, khoảng năm 1793 nhà thơ có lên thăm người anh ở bên hồ Giám. Như vậy là đã hai mươi năm ông không có dịp thăm Thăng Long, kể cả năm 1802 ra làm quan cho Gia Long được nhậm chức tri huyện Phù Dung ( Khoái Châu) và tri phủ Thường Tín và mùa đông năm 1803 được cử đi tiếp sứ nhà Thanh ở Lạng Sơn. Thế thì thời gian làm quan ở Phú Xuân và Quảng Bình, làm sao ông còn hy vọng gặp lại Thăng Long nữa nếu như năm 1813 không có dịp được triều đình cử đi sứ Trung Quốc và được Tuyên phủ Thăng Long mở tiệc tiễn. Đối với Nguyễn Du bữa tiệc tiễn đó càng thêm buồn vì gặp lại người đánh đàn ngày xưa, làm ông “bồi hồi không yên, ngửng lên, cúi xuống, ngậm ngùi cho cảnh xưa nay…”. Bên cạnh nỗi buồn cho sự đổi thay thời thế, buồn cho kiếp người, ông còn buồn vì sự thay đổi của bản thân Thăng Long:
Thiên niên cự thất thành quan đạo
Nhất phiến tân thành một cố cung
(Những ngôi nhà đồ sộ nghìn xưa thành đường cái. Dải thành mới làm mất dấu vết cung điện xưa). “Tân thành” tức thành mới mà Nguyễn Du nhắc tới chính cái thành mà Gia Long cho xây vào năm 1805, nhỏ hơn thành cũ và nằm ngay chỗ cung điện thời nhà Lê. Đó là đổi thay của vật thể, còn văn hoá phi vật thể thì:“Quản huyền nhất biến tạp tân thanh”, nghĩa là tiếng sáo, tiếng đàn cũng khác, có nhiều âm thanh mới pha tạp”. Với các từ “một cố cung” và “tạp tân thanh” thể hiện thái độ của Nguyễn Du luyến tiếc những cái Thăng Long vốn có từ xưa, những thứ ông đã lưu giữ trong ký ức từ thời trai trẻ và không muốn chấp nhận cái mới do thời Gia Long mang lại.
Nguyễn Du sinh ra, lớn lên ở Thăng Long, tiếp nhận nền văn hoá Thăng Long, đồng thời ngôn ngữ kinh đô, ngôn ngữ phổ thông thấm đẫm trong tiềm thức của ông, chứ không phải là văn hoá, ngôn ngữ của riêng một vùng miền nào. Theo tôi, nhận định này hết sức quan trọng trong quá trình nghiêm cứu, tìm hiểu các tác phẩm của đại thi hào, đồng thời góp phần cho phép chúng ta loại bỏ những tác phẩm vốn không phải của Nguyễn Du mà một thời đã ngộ nhận...
VT.
________
(*): Những câu thơ trong bài này đều rút ở “TOÀN TẬP THƠ CHỮ HÁN NGUYỄN DU”, Vương Trọng dịch thơ. Nxb HNV, 2023.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét