7.9.24

Những bài thơ tâm tình mùa hạ

Tham luận của Lưu Thủy Hương


Phần 1: Thơ là một văn bản trữ tình
.
Chữ trữ tình ở đây không chỉ là những câu từ, ý tứ chuyển tải một thứ tình cảm cụ thể nào đó mà còn là sự lôi cuốn, quyến rũ của chính bài thơ.
Đôi lúc thơ là lời tự tình của bóng trăng khuya tìm đến tâm hồn cô đơn, khao khát.
Vầng trăng ai xẻ làm đôi
Nửa ôm gối chiếc nửa soi dặm trường - Nguyễn Du
Đôi lúc thơ là màu tím biệt ly, là mùa thu chết trong chờ đợi.
Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo
Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi - Guillaume Apollinaire
Đôi lúc thơ là niềm thương đau của kiếp tằm tơ, của ngọn nến cháy cạn lệ lòng.
Xuân tàm đáo tử ty phương tận,
Lạp cự thành hôi lệ thuỷ can – Lý Thương Ẩn
(Tằm xuân đến chết mới nhả hết tơ,
Ngọn nến thành tro mới khô nước mắt.)
Có khi thơ là nỗi nhớ nhà biền biệt trong một chiều viễn xứ.
Nhật mộ hương quan hà xứ thị?
Yên ba giang thượng sử nhân sầu - Thôi Hiệu
(Trời về chiều, tự hỏi quê nhà nơi đâu?
Khói toả trên sông khiến lòng người buồn bã.)
Thơ là cuộc tình tàn tận với những lời hờn oán từ con tim ngấm độc:
Em đến hôm nào như hoa bay
Tình không độc dược mà đắng cay
Mùa thu tàn nhẫn từ đôi mắt
Mùi hương sát nhân từng ngón tay - Đinh Hùng
Thơ là cảm xúc đi vào hồn người, dịu dàng hay thảng thốt, đắm say hay đau đớn, bên nhau ngày vui hay mất nhau mãi mãi. Đi xa hơn nữa, thơ là phương tiện truyền tải nhận thức hoặc suy nghĩ về một chủ đề, là đỉnh cao của tư duy, của trí tuệ, của ý nghĩa cuộc nhân sinh. Những khi đó, thơ không chỉ làm ta rung cảm mà còn làm ta khắc khoải, hoang mang và hoài nghi...
Khuya còn lạnh sương mù và gió lốc
Thở hơi dài cát bụi cuốn chiêm bao.
Bên cửa sổ bên kia đồi sao mọc
Một lần đi là vĩnh viễn con tàu
Đi để nhớ những chiều pha tóc trắng
Mắt lưng chừng trông giọt máu phiêu lưu. – thầy Tuệ Sĩ
*
Là người viết văn, tôi luôn đề cao sự sáng tạo, đổi mới kỹ thuật. Nhưng là người đọc thơ, tôi thủ cựu và cổ hủ lắm. Những chuyện phá cách, đổi mới kỹ thuật, xây dựng hình tượng, tạo giọng nói riêng… trong thơ, tôi ít quan tâm. Đó chỉ là những yêu cầu để thiết lập một chỗ đứng riêng biệt trên văn đàn, để thành danh, để tạo trường phái, để hình thành xu hướng… những thứ dành cho tác giả, chứ không giúp gì cho độc giả yêu thơ cảm nhận được thơ tốt hơn.
Trong cái tính cổ hủ đó, tôi thích thơ có vần, có điệu. Mặc dù, ở Đức vào thời của Goethe thế kỷ 18, những bài thơ không có vần điệu và nhịp điệu đã không còn xa lạ. Ở Pháp, vào thế kỷ 19, 20, cũng đã hình thành loại thơ không có vần, không có cấu trúc. Thì, tôi vẫn thích một bài thơ có ít nhất một vài cặp vần và có âm điệu, nhịp điệu êm tai.
Thơ cũng cần có chủ ý, nếu thơ không chuyển tải một thông điệp nào đó đến người đọc thì nó có thể mang một giá trị ngôn ngữ. Tôi thích những câu thơ chắt lọc, trau chuốt để trong một khoảnh khắc bất ngờ nào đó, ngôn từ bỗng bừng sáng và thăng hoa.
Những ngày mở cuộc thi Tâm Tình Mùa Hạ, tôi được đọc rất nhiều thơ. Tôi trở về với những ngày tháng thơ mộng của tuổi thanh xuân, trở về trong những ngày mà tâm hồn tôi còn chưa chai sạn vì sự bận rộn và giông bão cuộc đời. Mỗi bài thơ vào vòng sơ khảo đều được đọc thật chậm, đọc bằng cảm xúc và tôi thấy được nhiều “giá trị thơ” quý giá trong các tác phẩm dự thi.
Cảm ơn các bạn rất nhiều vì đã mang lại cho tôi những giờ phút ngọt ngào êm ả.

Phần 2: Thơ là một văn bản có vần điệu và nhịp điệu.
Đây là lối định nghĩa xưa cũ nhất mà cho đến nay vẫn còn được dùng trong các trường học ở châu Âu.
“Nắng thì mặc ổng mắc chi lo” là bài thơ mạnh về vần điệu và nhịp điệu, tạo nên những thang âm, nốt nhạc, tiếng ru hò. Do câu từ chắt lọc, không rề rà nên nhịp điệu trong bài thơ tương đối nhanh và hối hả. Lẽ ra với nhịp điệu nhanh đó người đọc sẽ thấy ý thơ hấp tấp, nhưng chính vần điệu du dương của bài thơ và những lời đối thoại dân dã lại tạo ra cảm giác bình dị, thong thả.
Cái nóng ập vào người ngay từ câu đầu tiên, như vừa từ phòng lạnh bước ra khoảng sân trưa hè:
Hạ róc cong trưa nắng toác chiều
Ao nhà nhớ nước nhốt khô queo
Làm sao để hiểu đúng câu đầu? Lưỡi dao mùa hạ dữ dội cỡ nào mà “róc cong” cả một buổi trưa, “róc toác” cả buổi chiều? Róc như róc mía, róc xương? Ngôn từ sáng tạo khốc liệt quá. Chỉ có hai câu mà tác giả đã diễn tả được bầu không gian để bất cứ ai cũng có thể cảm nhận được: NẮNG – NÓNG – KHÔ HẠN.
Thảng hoặc, những câu tu từ độc đáo khác trong bài cũng tạo nên tác động khác thường:
“Mồ hôi ngó mặt khuyên buông đũa”. Rõ ràng là mồ hôi không có mắt để ngó và không có miệng để khuyên. Người ta thường đọc lướt qua những câu như vậy nhưng rồi nó cứ bám theo, tạo một hình tượng về cái nóng và cảm giác uể oải, chán ăn.
Những đoạn văn tiếp theo, tác giả chuyển từ thơ tả cảnh, thơ tả không gian sang những lời đối thoại rặt giọng địa phương với âm điệu, vần điệu du dương và ngôn từ chân chất.
Rồi chỗ bay sao nơi xóm trọ
Mùa này phòng ốc hệt khổ sai?
Chính đoạn này là một thành công, nó mang lại cảm xúc gần gũi mà nhiều người thấy như có mình trong đó, thấy những ngày làm việc gian nan trong cái nóng ngốt nơi phân xưởng.
Má ơi tụi con ở xưởng không
Buổi trưa ăn nghỉ tạm văn phòng
Để rồi nghe những lời nhắn nhủ của Má. Bà má Nam Bộ nào mà không nhắn nhủ như vậy, không lo cho con như vậy. Nhưng những lời bình dân đó đi vào thơ cùng với giai điệu vọng cổ tạo một cảm giác êm ái thân thương.
Câu cuối cùng cũng là đề tựa: “Nắng thì mặc ổng mắc chi lo”, đúng tính cách Nam Bộ, lạc quan và giản dị. Nhưng rồi tôi thắc mắc, câu này là ở vùng nào của Nam Bộ. Nếu là miền Tây Nam Bộ thì phải nói là: “Nắng thì kệ ổng mắc gì lo”. Hay câu này là miền Đông Nam Bộ, nơi có pha một chút ngôn ngữ Bắc Bộ (mặc), một chút Trung Bộ (chi)?
Bài thơ “Nắng thì mặc ổng mắc chi lo” có tất cả những yếu tố độc đáo về tính sáng tạo, hiện đại, vần điệu, nhịp điệu, không gian, hình ảnh, tình cảm, tu từ, văn hóa, con người… Hơn hết, nó gần gũi và thân thương.
Tôi tặng điểm tối đa cho Nắng Thì Mặc Ổng Mắc Chi Lo.

Phần 3: Thơ là cái TÔI trữ tình
Thơ diễn đạt suy nghĩ, cảm xúc, nỗi khao khát, trải nghiệm của một cá nhân với thế giới. Đây là một trong những đặc tính quan trọng của thơ, được giảng dạy ở các trường học phương Tây.
Thơ lục bát của Nguyễn Bính được yêu thích cũng vì cái TÔI trữ tình. Những bài thơ lục bát thường mang lại cảm giác êm đềm vì luật bằng trắc của nó tự nhiên đã rất du dương. Muốn âm điệu gay gắt hay mạnh mẽ hơn, thường phải làm thơ thất ngôn với vần trắc cuối câu và vần trắc chuyển thể.
Cỏ May là thơ lục bát, thơ tình sinh viên rất nhẹ nhàng, nó nhẹ đến nỗi vừa đọc qua đã tan biến vào lòng và giấc mơ thời sinh viên êm ái quay về lúc nào không hay. Ở tuổi đời đã đi qua nhiều thăng trầm, phụ nữ đọc Cỏ May mà cảm nhận được, thì tưởng bài thơ đó viết cho một thời hoa mộng của mình. Tôi cũng vậy, thời sinh viên không có những mối tình lớn để quay quắt nhớ thương, để vật vã đau đớn, tôi chỉ có những mảnh tình mong manh như cỏ may. Nó thoảng qua đời mình, lặng lẽ ghim lên vạt áo mùa cũ, bỗng một ngày đâm bồn chồn làn da thương nhớ.
Tôi thích Cỏ May vì nó giúp tôi để lại phía sau một quãng đường mệt mỏi, mở ra trước mắt mình một khung trời yêu đương dịu dàng và bến đò đưa một người qua dòng sông ly biệt.
Biết em mùa hạ lỡ làng
Trời đem mây trắng sang ngang một mình
Thơ lục bát của Nguyễn Bính thì “chân quê”, Cỏ May cũng vậy, nó mang tình quê rất nhiều. Người thành thị có thể không thích nó, nhưng người đã quá thành thị như tôi lại xúc động vì được trở về bên người yêu chân quê.
Tôi là kẻ ở miền quê
Quen đi chân đất chớ hề cao sang
Sinh viên đại học loại “miền quê” này nhiều lắm, thời nào cũng có, nơi nào cũng có. Họ mang những tâm tình khác biệt và những nỗi niềm lẻ loi nơi phố hội, họ trốn vào trong vỏ ốc cô đơn. Ngày nay, thơ ghi lại được những điều bình dị đó, thật là đáng quý. Vì ngày nay, người ta làm thơ cốt để khoe khoang, để tự đề cao con người và trí tuệ của mình với hàng đống ngôn từ rổn rảng. Đôi lúc lời yêu đương quá thừa mứa thì nàng thơ, chàng thơ phải lôi nhau lên giường tạo cảm xúc. Những cảm xúc trần tục như vậy bây giờ tràn ngập thi đàn, nó chỉ làm người đọc thêm chán ngán và xa lánh thơ.
Là một người đọc thủ cựu tôi thích Cỏ May. Là một người phải tiếp xúc với quá nhiều ánh đèn đô thị - trong cuộc sống và trong văn chương - tôi cảm ơn Cỏ May vì những giờ phút êm đềm được quay về miền quê êm ả của tuổi hoa niên.
Cô em năm đó giờ yêu một người
Chữ “cô em” rất cũ, người trẻ tuổi ngày nay sử dụng những từ cũ như vầy là một can đảm. Nó biến bài thơ thành cũ, nhưng nó lại mang giá trị gìn giữ ngôn ngữ, trong những ngày mà tiếng Việt biến động một cách xô bồ.
Thi sĩ trẻ đã có một gia tài thơ tương đối dồi dào, phong phú mà gửi một bài thơ lục bát với lời lẽ dung dị, chân phương vào cuộc thi, cũng là một sự can đảm. Cái TÔI của tác giả nằm ở sự can đảm đầy thách thức đó. Mà, thi sĩ thì cần có một sự ngang tàng, bất cần để đi trọn con đường chông gai của riêng mình.
Tôi tặng điểm cao cho Cỏ May vì cái tôi trữ tình của thơ và cái tôi can đảm của tác giả..
Tuy nhiên, sau Cỏ May, tôi mong tác giả đầu tư nhiều hơn về chiều sâu nội tâm và chắt lọc câu từ để đá quý được mài thành ngọc sáng.
Phần 4: Thơ là chủ thể hiện sinh
Hiện sinh trong văn chương là miêu tả những điều bình dị trong cuộc sống, bày tỏ ý thức bi đát về thân phận con người. Lẽ ra tôi bỏ qua bài thơ U Uẩn Đêm Mưa Hạ mà lòng không nhiều vướng bận, nhưng câu cuối trong khổ thơ đầu đã giữ chân tôi lại:
Mòn lối cũ, vó ngựa hồng thuở trước
Thành con ngựa già gầy guộc trơ xương
“vó ngựa hồng” thì đẹp và phiêu lãng, chuyển nhanh sang “con ngựa già gầy guộc trơ xương” gây nên một cảm xúc tàn tận và bất đắc chí.
Thơ là như vậy đó, giữa ngàn ngàn bài thơ, triệu triệu câu thơ trôi nổi trong dòng đời, tác giả phải có những câu khóa mới mong giữ chân được người đọc. Giữ bằng cách nào, giữ được người nào đôi lúc còn là cơ duyên.
Bài thơ với ngôn từ rất cũ, ý tứ kín đáo cũng rất cũ và chịu nhiều ảnh hưởng của thơ Đường, nó mang dáng vóc của những Thi Phẩm Tiền Chiến. Lẽ ra sẽ không có gì nổi trội nếu nội dung không ẩn chứa tư tưởng hiện đại của thuyết hiện sinh.
Triết hiện sinh là tiếng nói ưu tư về thân phận con người. Nó không là loại triết học cổ điển nói đến những nguyên nhân xa xôi, không là thú tiêu khiển thanh nhã của giới trí thức thượng lưu, mà triết Hiện Sinh nói đến “con người bình thường sinh hoạt trong xã hội loài người”.
Giờ cam phận vì một thời lầm lỡ
Mưa đầu mùa, gác vắng, canh thâu
Ngày hai buổi cuộc đời cơ nhỡ
Nặng oằn vai, hằn trán, mắt sâu
Ở đây bối cảnh và tình tiết không rõ ràng, thân phận người được đề cập cũng không rõ ràng nhưng nó nói được một tính chất mà Heidegger gọi là sự “tầm thường” trong cái thường nhật quá lì lì một mực, nhưng con người ta không thoát ra được. Nếu cứ cam phận sống tiếp thì Sartre gọi là cuộc sống “buồn nôn”, Camus gọi là “phi lý”. Triết Hiện Sinh viết về cuộc sống tầm thường và phi lý đến độ buồn nôn mà con người phải cam chịu hay đơn giản là chấp nhận.
Giờ cam phận vì một thời lầm lỡ, là vậy.
U Uẩn Đêm Mưa Hạ không nhằm ca tụng hay oán hận bất cứ điều gì, cũng không cố gắng tạo ra cảm xúc lớn lao. Ngay cả nét đẹp ngôn từ cũng chỉ nhẹ nhàng, bảng lảng:
Tường rêu xanh vờn khói lam chiều
Nếu bài thơ có được một chữ chắt lọc thì nó cũng lẫn vào đâu đó trong cái thường nhật quá lì lì một mực của sự bế tắc:
Đường phố khuya, đêm trắng, một mình
Đêm trắng này không là đêm có màu sương trắng, hay đêm không có bóng tối trong những mùa hè ở Bắc Âu, hay đêm tình yêu trong thơ của Afanasy Afanasievich Fet. Đêm trắng của U Uẩn Đêm Mưa Hạ là đêm thức trắng đến oằn vai, sâu mắt.
Bài thơ trả lời cho tôi một phần nào những thắc mắc và nỗi ưu tư về thân phận của mình và bạn bè. Thế hệ 6x của chúng tôi chịu nhiều thiệt thòi - một thế hệ sanh ra trong chiến tranh, lớn lên trong đói nghèo và trưởng thành trong bất công - để được bước chân vào trường đại học, nhiều người phải có những cố gắng khác thường hay chịu những mất mát quá lớn. Một chút lý tưởng và niềm tin còn sót lại cũng rơi rụng dần sau khi ra trường, để rồi sống cuộc đời cam phận, hay nói theo thuyết Hiện Sinh là “không khác chi những chiếc máy. Họ làm vì người trên bảo phải làm như thế, và họ cứ thế mà làm. Tất cả chúng ta, những người sống theo thói quen, theo đà theo đóm, đều là những người sống đời máy móc”. (trích Triết Học Hiện Sinh của Tiến sĩ Trần Thái Đỉnh, trang 25, nxb Thời Mới)
Lẽ ra ý thức Hiện Sinh sẽ được đẩy cao hơn trong bài thơ nếu hai khổ thơ cuối tiếp tục diễn tả được sự nhạt nhẽo của cuộc đời. Nhưng hai câu quá rõ nét hiện thực đã làm hỏng mưu đồ hiện sinh:
Thương mẹ cha công lao khó nhọc
Nuôi con lớn khôn mỗi đứa một nơi
Có thể nhiều người đọc thơ chỉ hiểu được hai câu này, vì nó rõ ràng và dễ hiểu. Nhưng về nghệ thuật, đó lại là hai câu lạc khỏi ý tứ của bài thơ, vì nó thiếu sự kín đáo.
Bốn câu cuối thì không Hiện Sinh nữa mà chuyển sang “cái TÔI trữ tình”:
Giờ chỉ còn mình em ngoài ấy
Dù rằng anh cứ hẹn sẽ về thăm
Mang nặng trong tim một nỗi lo thầm
Chim đa đa đậu nhánh đa đa...
Kết thúc như vậy là thông minh, giữ được tình cảm lưu luyến của độc giả.
Bạn có thể ngồi trong quán cà phê hay thư phòng để viết nên những vần thơ rực rỡ, danh giá nhưng thơ cần có hơi thở cuộc sống để hiện sinh. Tôi thích U Uẩn Đêm Mưa Hạ vì nó mang nỗi trầm luân của cuộc sống, nỗi ưu tư của một trí thức, thực sự là trí thức.
04.09.2024
Lưu Thủy Hương
Berlin, tháng 9. 2024

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét