Sáng thứ Ba, ngày 25 tháng 3 năm 1969 (tức ngày mồng 8 tháng 2 năm Kỷ Dậu), trên giảng đường Trường Đại học Văn Khoa Sài Gòn (nay là Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQG-HCM), thầy Đông Hồ vẫn vào lớp sớm như thường lệ. Hôm ấy, thầy mặc bộ comple màu xám nhạt, dáng đi nhẹ nhàng, khuôn mặt trầm lặng nhưng vui tươi. Thầy thường dạy học trò lau bảng, kê lại ghế ngồi cho ngay ngắn trước khi vào lớp
Buổi học bắt đầu trong bầu không khí vui vẻ. Thầy đi lên đi xuống hỏi thăm mọi người trong lớp học với thái độ ân cần dịu dàng. Nhân lễ Hai Bà Trưng, thầy cao hứng đọc cho học trò chép bài thơ để vịnh đền thờ Hai Bà Trưng ở làng Đồng Nhân ngoài Bắc. Bài thơ của ông Hoàng Thúc Hội, trúng giải kỳ thi do Báo Trung Bắc tổ chức. Giọng thầy vang lên chậm rãi:
“Ngựa Gióng đã lên không,
Rừng Thanh voi chửa lồng
Một chồi hoa nụ Lạc
Muôn dặm nước non Hồng
Trăng tỏ gương hồ Bạc,
Mây tan dấu cột đồng
Nên hương lòng cố quốc,
Xin khấn một lời chung.”
Thầy ngâm xong, học trò khen nức nở. Nhưng thầy bảo:
- Chưa hay! Các học trò nghe tiếp sẽ thấy hay hơn.
Tiếng học trò lại vang lên đầy lao xao:
- Còn hay nữa hở thầy?
Thầy tiếp lời:
- Nói về vịnh Hai Bà Trưng thì nhiều vô cùng. Nhưng đại loại đều như nhau, đều khen Hai Bà là anh thư liệt nữ, đều ca tụng chiến thắng của Hai Bà. Nhưng có một điều không một nhà thơ nào nói tới, đó là dù sao Bà Trưng cũng là phụ nữ, bà có một tình cảm rạt rào. Vì vậy, dù chiến thắng oai hùng, bà vẫn buồn rầu, vì phải chịu tang chồng. Điểm tâm lý đó không ai nhắc đến cả, tội nghiệp cho Bà Trưng quá. Phải đợi tới sau này Ngân Giang nữ sĩ trong tập thơ Tiếng vọng sông Ngân mới nhắc tới, khiến cho thơ vịnh Hai Bà có một giá trị đặc biệt, khác hẳn những thơ vịnh trước kia. Để thầy đọc cho các trò nghe:
“Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa
Giáp vàng, khăn lạnh trở đầu voi
Chàng ơi, điện ngọc bơ vơ quá
Chênh chếch trăng tà bóng lẻ soi.” (*)
Nghe bốn câu thơ, ai cũng thích chép cả. Đợi cho học trò chép xong thầy cất giọng:
- Câu đầu diễn tả chiến thắng của Bà Trưng: “Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa”. Nhưng dù chiến thắng, Bà Trưng vẫn là người đàn bà chịu tang chồng: “Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi”. Còn hai câu cuối thì thật tuyệt.
Rồi hứng khởi, thầy ngâm cả bốn câu thơ cho học trò nghe. Giọng ngâm của thầy lần này nghe hay lạ khiến cho học trò cứ xuýt xoa khen. Thầy ngâm hai câu:
“Chàng ơi điện ngọc bơ vơ quá
Chênh chếch trăng tà bóng lẻ soi.”
thêm nhiều lần, rồi bảo:
- Trong một buổi họp văn hữu, chính thầy đã được Ngân Giang nữ sĩ ngâm cho bốn câu này.
Nhưng ngay lúc đó, thầy bỗng trở nên khác thường, miệng thầy hơi méo qua một bên và thầy khuỵu xuống. Lớp học trở nên náo loạn. Một học trò săn sóc thầy, cởi cà vạt, nới cúc áo, xoa dầu, đánh gió. Một tốp khác chạy xuống phòng giáo sư báo tin.
Thầy vẫn không tỉnh. Gương mặt thầy tái xanh, mắt mở nhưng lạc thần, viên phấn trên tay rơi xuống mặt bàn. Cả lớp quyết định đưa thầy đến nhà thương Grall, nhưng người ta bảo không đủ phòng nên sinh viên đã đưa thầy qua dưỡng đường Saint Paul. Song thầy đã không qua khỏi, bác sĩ chẩn đoán thầy bị đứt mạch máu thái dương.
Lúc 7 giờ 25 phút thầy “đi” xa, không bao giờ trở về lớp nữa, để lại lũ học trò lòng đầy thẫn thờ tiếc nuối. Nhiều người có thể thay Đông Hồ về môn Văn học miền Nam nhưng cái “không khí” của giáo sư Đông Hồ, của “thầy đồ” Hồ thì không ai tạo nên nổi.
Sự ra đi của thầy Đông Hồ gây thương tiếc lớn trong giới văn học nghệ thuật thời bấy giờ. Có lẽ trời đã cố tình lựa cho thầy Đông Hồ một cái chết rất hợp với cuộc đời của ông, mà có lẽ cũng rất hợp ý ông. Ông ngất đi trong khi ngâm thơ về Hai Bà Trưng, giữa giảng đường Văn Khoa lộng gió và trong vòng tay của những sinh viên yêu quý, đúng như câu của Lương Khải Siêu: “Chiến sĩ tử ư sa trường, học giả tử ư giảng toạ”.
Nhà thơ Chiêu Dương đã viết bài cảm thương, trong đó có hai câu:
“Ai đem tang tóc vào thơ
Ngâm câu “Điện ngọc…”, Đông Hồ ra đi”.
Ai đó đã khóc ông bằng đôi câu đối:
“Sông Thái ôm trăng, Lý Bạch quy.
Trường văn nhả ngọc, Đông Hồ tịch”.
học.
(Tổng hợp từ nhóm TAG và Yume.vn)___
(*) Có bản chép là “Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ soi”.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét