(Lược sử Kỳ Anh từ thời cổ đại đến hiện đại - Trọn bộ)
LỜI THƯA
Mảnh đất Kỳ Anh mƣa dầm nắng lửa, là nơi tận cùng của Xứ Nghệ địa linh nhân kiệt luôn làm thao thức lòng ngƣời. Trải bao đời từ thời khai thiên lập địa đến nay phải gồng mình chống chọi với thiên nhiên khắc nhiệt và giặc giã tàn phá để bảo tồn nòi giống và bản sắc của mình, đúng là: Tay chống trời, tay giữ nƣớc căng gân…
Từ trong gian khó đã sản sinh ra những anh hùng hào kiệt, những danh nhân và một nền văn hóa đậm đà bản sắc, đóng góp chung, làm phong phú thêm kho tàng lịch sử nƣớc nhà.
Quyển sách này mang tính đại chúng, nên chúng tôi không có kỳ vọng ghi lại tiểu tiết, đầy đủ từng sự kiện lịch sử, điều đó là bất khả thi. Việc làm này dành cho các nhà nghiên cứu chuyên sâu. Chúng tôi sẽ có những chú dẫn các sự kiện cụ thể đã đƣợc lịch sử ghi lại trong các bộ sách Lịch trình hiến chƣơng… qua các triều đại để ai thích quan tâm hơn thì tìm đọc. Chúng tôi cố gắng trình bày một cách tinh giản nhƣng khoa học nhất, đầy đủ nhất, bình dân nhất trong khả năng của mình, làm sao ai cũng đọc và hiểu một cách dễ dàng. Quyển sách có thể dùng làm bài học ngoại khóa cho các em học sinh trung học trên các trƣờng học của Kỳ Anh, đấy là mong muốn của chúng tôi khi làm quyển sách này.
Những sự kiện, những con số những tên gọi trong cuốn sách không phải do chúng tôi đặt ra, mà đó là công trình của các nhà viết sử, các nhà nghiên cứu tiền bối đã đƣợc xuất bản chính thức trong nhiều thời kỳ khác nhau. Chúng tôi tìm hiểu, chắt lọc, hiệu chỉnh, tham khảo, bổ sung thêm và sắp xếp, biên tập lại theo cách của mình.
Rất thành tâm xin các bậc tiền bối lƣợng thứ, chia sẻ, và nhận từ chúng tôi lòng biết ơn sâu sắc nhất. Chúng tôi cũng xin đƣợc cảm ơn và vui lòng đón nhận từ bạn đọc, các nhân sĩ trí thức những góp ý chân thành để cuốn sách đƣợc hoàn thiện hơn.
Thân kính.
Biên khảo: Xuân Lộc
Thủy tín Hoan Nam biên ải tráng
Bất tri khống địa kỷ trùng quan
(Mới tin biên ải Hoan Nam vững
Chẳng biết bao nhiêu lớp cửa dày)
SƠ LƯỢC MỤC LỤC
PHẦN I
KỲ ANH: HƯƠNG ĐẤT-TÌNH NGƯỜI
Chương I: Kỳ Anh - Vùng đất linh thiêng
1. Địa lý tự nhiên
2. Khí hậu - Tài nguyên:
2.1. Khí hậu
2.2. Tài nguyên:
3. Quá trình hình thành, phân bổ dân cƣ...
3.1. Quá trình hình thành dân cƣ
3.2. Quá trình hình thành các làng xã
4. Những danh thắng và di tích lịch sử...
Chương 2: Kỳ Anh trong dòng chảy lịch sử dân tộc
1. Sự phân bổ địa giới và tên gọi qua các thời kỳ
2. Những biến động lịch sử qua các thời kỳ:
2.1. Những biến động từ thời cổ đại đến năm 1841
2.2. Những biến động từ thời kỳ 1841 – 1945
2.3. Phong trào đấu tranh yêu nƣớc từ 1841-1945
2.4. Mặt trận Việt Minh - khởi nghĩa cƣớp chính quyền
2.5. Kỳ Anh trong thời đại mới 1945 - 2015
Chương 3: Sơ lược Tình hình Kinh tế - Xã hội
1. Trƣớc cách mạng tháng 8-1945
2. Sau cách mạng tháng 8-1945-2015
Chương 4: Kỳ Anh trong VHNT trước 1945
1. Phong hóa - Tín ngƣỡng - Tôn giáo
2. Thơ văn chữ Hán
3. Thơ văn chữ quốc ngữ
PHẦN II
KỲ ANH - ĐỊA LINH NHÂN KIỆT
Chương 1: Các nhân vật trong lịch sử thời phong kiến
1. Các vị Vua - quan đầu triều từng có mặt ở Kỳ Anh
2. Dinh Cầu và các quan trấn thủ
3. Các quan Tri huyện Kỳ Anh dƣới triều Nguyễn
Chương 2: Những quan chức Kỳ Anh qua các thời kỳ
1. Những nhân vật lịch sử - khoa bảng thời phong kiến
2. Các điển hình và quan chức thời hiện đại
Chương 3: Những điểm sáng về giáo dục
1. Giáo dục dƣới thời phong kiến đến 1945
2. Giáo dục thời hiện đại từ 1945 - 2015
2.1. Trường THPT Kỳ Anh
2.2. Trường THPT Nguyễn Huệ
2.3. Trường THPT Lê Quảng Chí
2.4. Trường THPT Kỳ Lâm
2.5. Trường THPT Nguyễn Thị Bích Châu
3. Những học sinh thành đạt trong thời đại mới.
Chương 4: Kỳ Anh - Vùng đất của các thi nhân
1. Văn học dân gian
2. Các nhà thơ Việt viết về Kỳ Anh
3. Các nhà thơ con em ngƣời Kỳ Anh
THAY LỜI KẾT
PHẦN I
KỲ ANH: HƯƠNG ĐẤT TÌNH NGƯỜI
Chương I
Kỳ Anh - Vùng đất linh thiêng
Từ thủa hồng hoang cho đến thời kỳ khai Thiên lập Địa, và đến cả ngày hôm nay, vạn vật, con ngƣời đều trải qua quá trình thay đổi không ngừng. Lịch sử của mỗi quốc gia, mỗi vùng đất cũng không bao giờ dừng lại, triều đại này nối tiếp triều đại kia thay nhau trị vì. Mảnh đất phên dậu Kỳ Anh cũng không là ngoại lệ.
1. Địa lý tự nhiên
- Kỳ Anh nằm về phía đông nam tỉnh Hà Tĩnh, vào khoảng 17,5 - 18,18 độ vĩ bắc, 106 - 106,28 độ kinh đông, nằm chênh lệch hƣớng tây bắc - đông nam trên bản đồ.
- Bắc và tây bắc giáp huyện Cẩm Xuyên, phía nam và tây nam giáp tỉnh Quảng Bình.
- Diện tích tự nhiên: Khoảng 1.052910 km2, bằng 1/6 diện tích toàn tỉnh. 74% là đồi núi.
Đây là mảnh đất cuối một chi của dãy Trƣờng Sơn bắc mọc lấn ra biển, dãy núi chạy dọc theo phía tây là dãy Hoành Sơn.
- Qua bờ nam sông Rác cuối huyện Cẩm Xuyên tầm mắt đã bị núi chắn ngang, rồi từ địa bàn khe Su vào tận Đèo Ngang là một mạng núi đồi dày đặc từ tây sang đông, trừ một vùng hẹp mấy xã ở hạ lƣu sông Trí, toàn bộ dãy đất này đƣợc đặt trên nền đá gốc nhƣ một tảng móng vững chãi và có tuổi địa chất cùng với khối Trƣờng Sơn bắc.
Trừ vài ngọn ở Hoành Sơn, núi ở đây chỉ có độ cao trung bình từ 200 đến 500 mét, hệ thống đồi thấp nối liền với các ngọn núi dƣờng nhƣ bị san phẳng, có khi chỉ cao hơn đồng ruộng xung quanh vài ba mét. Dọc phía tây quốc lộ 1A từ Kỳ Phong đến Kỳ Tân, Kỳ Hoa, vào tận Kỳ Trinh, Kỳ Long… tận Kỳ Nam và rải rác cả phía đông quốc lộ có những ngọn đồi cao hơn nhƣng nơi cao nhất cũng không quá 40 mét.
Liền với các núi ở Cẩm Lạc, Cầm Sơn, Cẩm Thịnh của huyện Cẩm Xuyên phía tây là khối núi đồi Vọng Liệu chứa gần nửa diện tích toàn huyện, gồm các xã vùng cao: Kỳ Thƣợng, Kỳ Tây, Kỳ Sơn, Kỳ Hợp, Kỳ Lâm, Kỳ Lạc. Giữa các vùng đồi bị chia cắt bằng những suối, rào và những thung lũng hẹp, nổi lên những đỉnh cao, đỉnh Động Cay cao 301m, Động Chùa 544m, Động Hƣơng 190m, Rú Bòi 501m, ở mạn bắc có động Le Le cao 349m, Động Nậy 646m, Rú Khe Cấy 200m, Rú Bà Hới 193m, động Kẻ Đỏ 459m, động Hồ Nhuây 494m, ở mạn nam là phần trên của dãy Hoành Sơn.
Phía bắc huyện, liền lƣng với Rú Rác, Rú Cửa (huyện Cẩm Xuyên) là dãy núi chạy từ xã Kỳ Phong phía tây nam, qua Kỳ Bắc, ra Kỳ Xuân phía đông bắc có các ngọn núi: Rú Voi (Tƣợng Tỵ, còn có tên là Ngọc Thạch hay Tiên Chƣởng) Rú Vang cao 333m, (hay rú Cờ-Kỳ Đầu-sách cổ còn chép là Yên Tâm: có ngọn Cờ, ngọn Trống, ngọn Voi…)
Dãy Hoành Sơn phía Nam, từ khối núi Vọng Liệu với nhiều ngọn cao 400 - 650m đi xuống đông nam qua các xã Kỳ Thịnh, Kỳ Long, Kỳ Phƣơng, Kỳ Nam có ngọn Ba Cốc cao tới 823m rồi thấp dần xuống cuối Mũi Đao, Mũi Độc. Đèo Ngang 256m là cửa ngõ thông sang tỉnh Quảng Bình.
Từ Võng Liệu đổ xuống phía đông, lấn tận chân các núi ven biển cũng là một mảnh đồi núi thấp. trong đó nổi lên các ngọn Động Cấp cao 376m, Ba Cụp (Tam Thai) 105m, rú Mƣời Lăm 45m, Động Chào 225m, rú Lôi Tiên 266m, rú Yên Mã 231m, rú Hỏa Hiêu (rú Mầu)…
Dọc mé biển từ Kỳ Xuân đến Kỳ Nam có nhiều ngọn núi cao thấp nhƣ những bức rèm che kín phía đông: rú Trân, rú Dân cao 243m ở Kỳ Tiến, rú Hƣơng (Càn Hƣơng), rú Ba Đọ (Bàn Độ) 441m ở Kỳ Khang, rú Đông Lĩnh ở Kỳ Ninh, rú Voong (hay rú Vƣơng - Cao Vọng) có các ngọn cao 308, 350m, và rú Sơn cao 367m, Đỉnh Chùa 230m (trên bán đảo mũi Dòn ở Kỳ Lợi)…, ngoài mũi Dòn có 2 hòn đảo: Hòn con Dê (Sơn Dƣơng) cao 133m (có sách chép là hòn yến), và hòn Con Chim (ở phía đông bắc hòn con Dê) cũng thuộc địa phận xã Kỳ Lợi.
Từ xa xƣa, toàn bộ đất Kỳ Anh bây giờ bao phủ một thảm rừng dày từ Vọng Liệu xuống tận bờ biển, hiện nay rừng đã bị tàn phá nặng nề chỉ còn lại lau và cây bụi khô cằn trên đất đỏ vàng, các ngọn đồi trƣớc núi trơ trọi một màu đất xám, bạc phếch...
Theo dòng thời gian, trên mƣời vạn năm trƣớc toàn bộ vùng đồi thấp trên đất Kỳ Anh đều ngập sâu dƣới nƣớc, còn những ngọn núi thì nhô lên nhƣ những hòn đảo. Sau đó, mặt biển hạ thấp xuống tới 120m, vịnh Bắc Bộ và mé tây biển Đông là dải đất liền nối từ đảo Hải Nam (Trung quốc) tới quần đào Nam Dƣơng (Indonesia).
Cách đây khoảng chừng vài vạn năm nƣớc biển lại dâng lên cao nhƣ hiện nay. Tuy nhiên giữa lòng địa bàn Kỳ Anh và dọc bờ biển vẫn còn là vũng biển cạn. Những ngọn rú Hƣơng, rú Đọ, rú Voong, rú Sơn… là dãy đảo. Từ sau cuộc vận động kiến tạo đầu kỷ đệ tứ, nâng rìa đá gốc lên, làm đứt rãy một phần rìa đó, tạo điều kiện cho phù sa sông suối và phù sa biển hội tụ, các vũng biển ở miền Trung, trong đó có Kỳ Anh đƣợc lấp cạn dần.
Ngày nay ta thấy từ Thanh Sơn (Kỳ Văn) xuống Kỳ Thƣ, Kỳ Châu, Kỳ Hƣng, Kỳ Hải, Kỳ Hà đồng điền khá rộng và bằng phẳng. Đó chính là vũng biển cũ đƣợc bồi lấp qua hàng vạn năm. Đến bây giờ, các sông, hói (sông Kinh, sông Trí, sông Quyền) vẫn còn đổ vào một vũng biển nhỏ cuối xã Kỳ Hà trƣớc khi chảy ra Cửa Khẩu, và vùng này vẫn tiếp tục đƣợc bồi lấp.
Ngoài dãy đồng bằng nhỏ hẹp này, ruộng nƣơng Kỳ Anh hầu hết đều ở ven núi đồi, vừa hẹp vừa bậc thang, nhƣng ruộng nƣơng thƣờng có nƣớc, bùn sục (nhƣ ở vùng Voi, vùng Vọng Liệu…), có nơi là ruộng nẫy (nhƣ ở bắc khe Miệu, Đại Hào, Du Phong). Các xã dọc sông Kinh, mạn bắc thì đồng điền nằm ven núi đá, đồi trọc, mùa mƣa thì ngập nƣớc, mùa nắng một số nơi có nƣớc ngầm. Đây là vùng đồi thấp bị sang bằng và bồi lấp lên bề mặt, nếu đào sâu xuống 3 - 4 mét thì gặp sò điệp, bùn biển, hoặc tầng đá tảng và mạch nƣớc ngầm.
Dọc biển ở mạn bắc là dải cát hẹp cao hơn đồng ruộng có nơi tới 1 - 2 m. Còn ở mạn nam từ Kỳ Lợi vào Kỳ Nam là dải phù sa biển dồn lên nhƣ những đợt sóng, cao 2 - 3 m, có nơi cao 6 – 7 m… cùng với phù sa sông nƣớc mặn tạo thành cánh đồng cát pha Hoàng Lễ (Kỳ Phƣơng, Kỳ Nam)
Kỳ Anh là vùng đất núi đồi, bị chia cắt bởi các mạng lƣới khe, hói dày đặc nhƣng không có sông lớn.
Những khe, suối vùng rú Cày, động Chùa, động Cấp… mạn tây bắc đổ vào sông Rác và hói Dành mà chảy ra Cửa Nhƣợng (Cẩm Xuyên).
Ở vùng Vọng Liệu, tây nam, hàng trăm khe suối từ cụp Thao (Cẩm Xuyên), động Chùa, động Hồ Nhuây, động Nậy, rú Mã Yên, rú Bá Bạc, rú Bà Hới… đổ vào rào Trâm, rào Móc, rào Trà, rào Mọn (26km) rồi chảy sang đất Quảng Bình.
Phía đông bắc, các khe suối từ rú Voi, rú Vang, và các đồi xung quanh đều dồn nƣớc vào sông Kinh chảy về đông nam ra cửa Khẩu.
Các khe suối vùng động Chào, hợp lƣu chảy qua Kỳ Văn, Kỳ Thọ xuống Kỳ Ninh dài khoảng 8km đổ ra cửa Khẩu.
Các khe từ vùng Trại Cày, Đồng Tràn, khe Ông, khe Côn từ Đại Đồng chảy xuống Thanh Sơn (Kỳ Văn) Đan Du (Kỳ Thƣ) và khe Cầu bắt đầu từ rú Yên Ngựa, chảy vào hói Trí, rộng dần thành sông, đi qua Nhân Lý (Kỳ Hoa), Cầu Thị (Kỳ Châu), Văn Yên (Kỳ Hà), cùng sông Đình ở Hƣng Nhân (Kỳ Hƣng) đều đổ ra cửa Khẩu.
Sông Trí dài khoảng 18km, hạ lƣu rộng từ 80-100m, là con sông quan trọng ở Kỳ Anh.
Từ phía bắc dãy Hoành Sơn, mấy con khe Khe Bò, Khe Du, Khe Di, hợp lƣu chảy qua làng Ngƣu Sơn (Kỳ Nam) thành sông nƣớc mặn Xích Mộ (hay Xích Lỗ) đổ ra cửa Nƣớc mặn.
Còn khe Lũy, khe Dâu, khe Miên, khe Lau, khe Đá Hạt, khe Đầu Voi, đều chảy theo hƣớng đông bắc đổ vào sông Quyền. Sông này tiếp tục chảy theo hƣớng bắc, qua Kỳ Phƣơng, Kỳ Long, Kỳ Lợi, Kỳ Thịnh vòng lên phía tây đến Quyền Hành (Kỳ Trinh), hợp với khe Đá Bàn và ngoặt xuống sông Vịnh - cửa Khẩu dài 25km.
Kênh Thần Đầu đào từ thời nhà Lê (có nghi vấn từ cuối đời Trần nhƣ kênh Hạ) gồm hai đoạn là kênh Sa Tắc (Cát Lấp) và kênh Trƣờng Lang nối các đoạn sông Quyền tạo nên con đƣờng thủy thông từ phía bắc huyện vào tận mé ngoài mũi Đao.
Như vậy, Sông ngòi ở Kỳ Anh thực ra chỉ là một mạng lƣới khe, hói chảy từ trên vùng núi đồi và đổ vào những con rào, con kênh đào hẹp và cạn rồi theo nhiều hƣớng khác nhau mà đi ra biển. Phía bắc đổ vào sông Rác chảy ra cửa biển Nhƣợng Bạn (Cẩm Xuyên), phía tây nam đổ vào sông Gianh (Quảng Bình), phía đông chảy ra cửa Khẩu, cửa Nƣớc Mặn (Xích Mộ).
Kỳ Anh có 63 km bờ biển, chạy dài theo hƣớng tây bắc -đông nam (chiếm gần ½ bờ biển toàn tỉnh Hà Tĩnh 135km). Từ ngoài khơi nhìn vào ta thấy nhấp nhô những dải núi lấn ra biển thành những bán đảo. Từ trong nhìn ra đó là mũi Độc, mũi Đao, mũi Con voi, mũi Dòn, mũi Thằn Lằn, mũi Dung, mũi Đa… Mũi Dòn (bản đồ ghi là mũi Ròn) có mũi Dòn con, mũi Dòn nậy là một bán đảo vƣơn ra biển tới 8km từ tây nam đến đông bắc.
Khác với các bờ biển bốn huyện phía bắc của Hà Tĩnh (Nghi Xuân, Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên) bờ biển Kỳ Anh có nhiều núi mọc lấn ra mé nƣớc (Kỳ Xuân, Kỳ Tiến, Kỳ Khang, Kỳ Ninh, Kỳ Lợi, Kỳ Phƣơng, Kỳ Nam) nên không có bãi biển dài, rộng. Bờ biển chỉ là dải cát hẹp xen giữa núi đồi. Có nơi, nhƣ ở mạn nam cát dồn lên thành gò cao tiếp liền với dải đồng hẹp phía trong, có nơi (nhƣ vùng Trảo Nha) làng xóm ruộng nƣơng cũng bị cát lấp. Tuy núi mọc sát biển nhƣng nhiều nơi khi thủy triều xuống dƣới chân núi vẫn có một dải cát hẹp dốc thoải có thể tạo thành bãi tắm đẹp hoặc đi bộ.
Mực nƣớc biển trong vòng 1 km trở vào sâu trung bình 6 - 7 m, sâu nhất nhƣ ở mạn Kỳ Khang, Kỳ Phú cũng chỉ vào khoảng 7 - 9 m.
Phía nam cửa Khẩu, vòng quanh mũi Dòn núi lấn ra biển tạo nên những vũng ăn sâu vào đất liền nhƣ: Vũng Do, vũng Lố, vũng Ná, vũng Môn. Đặc biệt có Vũng Áng có độ sâu 12m trở lên, lại đƣợc núi Cao Vọng che chắn nên lúc bão tố cũng lặng êm.
Từ Vũng Áng qua eo Rồng là sang Vũng Môn (làng Phƣớc Môn), vũng này có độ sâu lớn và kín đáo nhƣ cái ao, nên còn đƣợc gọi là Vũng Yên.
Kỳ Anh có 2 cửa biển: Cửa Khẩu và cửa Nước Mặn.
Cửa Khẩu tức Hà Hoa Hải khẩu là địa phận xã Hải Khẩu xƣa (nay là xã Kỳ Ninh). Những con sông lớn nhất huyện (sông Kinh, sông Trí, sông Quyền) và nhiều khe, hói khác từ ba hướng bắc, tây, nam đều dồn nƣớc vào sông Vịnh (sông Cửa Khẩu) rồi đổ ra biển.
Năm 1376 vua Trần Duệ Tông đi đánh Chiêm Thành qua đây và để lại câu chuyện huyền sử về nàng Nguyễn Thị Bích Châu và ngôi đền Bà Hải nổi tiếng.
Đời Lê, nhất là từ khi có trấn Dinh Cầu, cửa Khẩu là cửa biển quan trọng cung cấp vật chất, giao thƣơng hàng hóa và bảo vệ trấn thành.
Cửa Nƣớc mặn (cửa sông Xích Mộ) phía nam mé Hoành Sơn thuộc địa phận thôn Ngƣu Sơn, xã Hoàng Hóa (sau là xã Thần Đầu, nay là Kỳ Nam) nay đã bị bồi lấp. Ở thế kỷ XV còn rộng và sâu, chiến thuyền vào ra đƣợc. Nơi đây vua Lê Thánh Tông và đoàn thuyền chiến của ông đã từng dừng nghỉ qua đêm vào những năm 1470 - 1471 và để lại nhiều bài thơ đầu tiên viết về cửa biển Thần Đầu.
2. Khí hậu tài nguyên
2.1: Khí hậu
Dải Hoành Sơn không cao và chiếm khoảng 1500km2, nhƣng do hƣớng chạy của núi đã trở thành một ranh giới khí hậu thật sự. Hà Tĩnh và Quảng Bình giáp nhau nhƣng có hai chế độ khí hậu khác nhau. Hà Tĩnh thuộc về khí hậu miền Bắc trong khi từ Quảng Bình trở vào đã mang rõ nét khí hậu miền Nam. Trên đất Kỳ Anh thực tế cũng có khác chút ít với khí hậu toàn tỉnh, chủ yếu hai mùa nắng nóng và mƣa bão chứ không rõ bốn mùa nhƣ nơi khác. Do dãy Hoành Sơn chắn ngang vùng núi phía nam với vùng núi phía tây hình thành một vòng cung, Kỳ Anh trở thành một vùng đất chảo lửa túi mƣa.
Mùa nóng từ tháng Ba đến tháng Bảy có gió Lào thổi mạnh, thời tiết nóng hầm hập, nhiệt độ thƣờng trên 30 độ C, có khi lên tới 39-40 độ, hạn hán kéo dài, có năm đến 10 tháng không mƣa, cỏ cây, hoa màu thiếu nƣớc xơ xác.
Từ tháng 6 đến tháng 10, 11, thƣờng mƣa rất to, lƣợng mƣa trung bình từ 2800 - 3000 ly/năm, có năm lên đến 4000 ly, cao hơn rất nhiều so với lƣợng mƣa trung bình trong tỉnh từ 1500 - 2600 ly/năm. Thời gian này cũng là mùa bão, lụt. (Trong vòng 30 năm từ 1961 - 1991 có 37 cơn bão độ bộ vào Kỳ Anh, hơn 1/3 cấp 11, 12, riêng trong thập kỷ 80 có 14 cơn bão, lụt lớn và hai lần triều cường)
Mùa đông-xuân cũng kéo dài với gió mùa đông bắc, nhiệt độ có khi xuống tới 5 độ C.
Nắng lắm, mƣa nhiều, nhiệt độ và độ ẩm ở Kỳ Anh đều cao hơn hẳn bất cứ nơi nào trong tỉnh. Kỳ Anh quả thật là vùng khí hậu đặc biệt khắc nhiệt.
2.2: Tài nguyên
2.2.1: Tài nguyên rừng:
Kỳ Anh vốn là một vùng có tài nguyên thiên nhiên phong phú. Do khí hậu nhiệt và ẩm, thời xa xƣa toàn bộ núi đồi Kỳ Anh là một cánh rừng từ Vọng Liệu xuống tận bờ biển. Cũng nhƣ Trƣờng Sơn bắc, rừng Kỳ Anh có nhiều loại gỗ quý nhƣ: Lim xanh, táu mật, trƣờng mật, gội nếp, giỗi… và các loại nứa, dang, song, mây, lá tơi, lá nón..., rừng ở đây cũng giàu loại cây ăn củ, ăn trái… (nhƣ sắn rai, khoai mài, mận rừng, nhân diện quả…), cây làm thuốc (sa nhân, thảo khấu…), và cây dầu sơn (dầu trảo), cây tràm (khuynh diệp).
Dƣới thảm thực vật dày đặc, phong phú ấy xƣa kia cũng là nơi trú ngụ của các loại động vật hoang dã: Hổ, báo, tê ngƣu, bò rừng, trâu rừng, dê rừng, lợn rừng, nai rừng, hoãng, gấu, vƣợn, khỉ, gà lôi, trĩ, công, cu kỳ, trăn rắn, rùa… Cho đến cuối thế kỷ XIX, hổ báo cũng còn rất nhiều, ngay ở đền Chào, cạnh đƣờng quan hổ vẫn thƣờng lui tới. Khe Cà có tiếng là lắm hổ, dân gian đã có câu: Khái khe Cà, ma cồn Mụ. Đặc biệt Kỳ Anh là đất của hươu và voi,
Chợ voi ở làng Tuần Tượng xưa kia là trại nuôi voi, luyện voi chiến, voi tải.
Rất tiếc hiện nay rừng đã bị tàn phá nặng nề, rừng tự nhiên không còn bao nhiêu và đang tiếp tục bị khai thác vô tổ chức. Theo số liệu mới nhất năm 1994 đất lâm nghiệp toàn huyện có 41959 ha, rừng kinh tế 31950 ha (trong đó rừng kinh doanh là 20114 ha, rừng phòng hộ 11726 ha, đất núi đồi không có rừng 10009 ha.
Các loại động vật hoang dã nhƣ voi, hổ, báo… dƣờng nhƣ biến mất.
Rừng Kỳ Anh tuy vậy giờ vẫn còn một số it gỗ quý nhƣ: gụ, lim, giỗi, mỡ…, chim, thú quý nhƣ: khỉ, gà em…
Cần phải đƣợc tổ chức bảo vệ, khai thác có kế hoạch, không làm nguy hại hơn hệ sinh thái tự nhiên.
2.2.2: Tài nguyên Khoáng sản
Trong lòng đất, cả trên mặt đất nhiều loại khoáng sản quý vẫn còn nguyên vẹn: Than bùn, măng-gan, vàng…, trên bãi biển: Cát đen (E-mê-nhít) có trữ lƣợng khoảng 1,2-1,5 vạn tấn và các ngọn núi chứa tới hàng tỷ m3 đá gra-nit, đấy là một lợi thế cho sự phát triển.
2.2.3: Tài nguyên biển
Bờ biển Kỳ Anh nhiều rạn ngầm, nhiều eo, vũng nên có nhiều loại hải sản có giá trị với trữ lƣợng lớn, ngoài các loại hải sản thông thƣờng còn có nhiều đặc sản như: Tôm sú, tôm hùm, mực, cửu khổng, rong biển (rong câu, rong mơ, tên khoa học là Sazgesium)…
Có nơi nhƣ Vũng Áng do kín gió, nƣớc lặng, nhiều thức ăn nên cá xuất hiện dày đăc. Một trộ cá ở Eo Bạch có lần bắt đƣợc tới 70 tấn cá thiều. Hàng năm các xã ven biển có khả năng đánh bắt đƣợc khoảng 1800 tấn cá, 30 tấn mực, 40 tấn moi, 10 tấn tôm hùm, 45 tấn tôm sắt, nửa tấn vi cá nhám… (số liệu 1996).
Ở đảo Sơn Dƣơng, ngoài cửu khổng, trƣớc đây còn có yến sào (vì thế đảo này còn đƣợc gọi là đảo hòn én).
Ven biển làng Nhƣ Nhật (Kỳ Xuân) có chim Cu kỳ ( Sơn cưu.)
Bãi biển Kỳ Xuân - Tranh sơn dầu Xuân Lộc
3.Quá trình hình thành và phân bổ dân cƣ
3.1. Quá trình hình thành dân cƣ
Đến nay chƣa có một cuộc khai quật hay tài liệu khảo cổ học nào chứng minh trên đất Kỳ Anh có ngƣời tiền sử hay không. Tuy nhiên ta có thể nghĩ rằng các nhóm cƣ dân thời đại đá mới hậu kỳ và đồ đồng sơ kỳ (thuộc các địa điểm cƣ trú ở Nghi Xuân, Thạch Hà, Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh, và Bàu Tró, Minh Cầm - Quảng Bình) không khỏi bị các rừng già, khe suối thu hút. Họ có thể đã qua lại đây ở để săn bắt, hái lƣợm… Điều đó cho ta nghĩ tới vùng rừng núi kỳ Anh hẳn đã có ngƣời Việt cổ sinh sống.
Theo các nhà khảo cổ học thì Hoành Sơn có thể xem nhƣ là đƣờng biên giới của văn hóa khảo cổ, của sự phân bố di tích lịch sử cùng truyền thuyết thời Hùng Vƣơng. Từ Quảng Bình trở vào hầu nhƣ vắng mặt các di tích của văn hóa Đông Sơn và các di tích thời Hùng Vƣơng. Điều này cũng phù hợp với những ghi chép trong sử cũ, và Hà Tĩnh, Quảng Bình ngày nay là vùng giáp ranh hai nƣớc mà dãy Hoành Sơn là biên giới phía nam của nhà nƣớc Văn Lang (1). Bên kia Hoành Sơn theo sử cũ là nƣớc Hổ Tốn, sau này là nƣớc Chăm Pa (Chiêm Thành)(2)
Trong thời đại các vua Hùng - Thục, có lẽ trên đất Kỳ Anh đã có những nhóm dân cƣ ở rải rác, chủ yếu là dọc bờ biển. Một vài tài liệu cho biết dƣới thời Bắc thuộc, ngoài nghề trồng lúa, cƣ dân vùng ven biển Nghệ Tĩnh bây giờ từ Quỳnh Lưu (Nghệ An) đến Kỳ Anh đã dùng thuyền ra khơi đánh cá, ướp cá và không chỉ nấu muối mà còn biết phơi nước biển lấy muối.
Các nhóm cƣ dân này chủ yếu là ngƣời Việt từ phía Bắc vào, nhƣng cũng có thể là có ngƣời từ các tộc khác từ Trƣờng Sơn (Qùy Hợp) xuống, và ngƣời Chàm từ bên kia Hoành Sơn qua. Ở ven biển còn có ngƣời Bồ-Lô mà hiện nay di huệ còn khá đông ở các vùng cửa biển Nghệ Tĩnh, Quảng Bình, trong đó có cửa Khẩu ở Kỳ Anh.
Từ đầu thời tự chủ, cƣ dân ở vùng này vẫn còn ít, nhƣng tƣơng đối ổn định, sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nƣớc, làm rẫy, săn bắt, đánh cá…
Dần dần dân cƣ phát triển đông thêm, thì ở đây thƣờng xuyên bị ngƣời Chiêm bên kia Hoành Sơn ra cƣớp phá, việc làm ăn trở nên khó khăn và bất ổn. Cho đến giữa thế kỷ XV làng xóm vẫn còn thƣa thớt.
Theo gia phả một số họ ở Kỳ Anh hiện nay thì phần lớn gia đình đều từ Bắc vào và một bộ phận từ miền Nam ra dƣới thời Lê-Nguyễn.
Ngoài số ngƣời đến làm ăn, sinh sống còn có những ngƣời phải trốn tránh hoặc bị đi đày, những ngƣời lính đồn thú hoặc đến làm quan rồi ở lại sinh cơ lập nghiệp - chủ yếu là quan võ. Làng Xuân Sơn (Kỳ Lạc) trƣớc là thôn Miêu Sơn, trại Cây Gẹo, là do Lê Siêu chiêu dân lập nên. Dân làng Yên Điềm (Kỳ Ninh) tổ họ Võ (Kỳ Lạc) là Võ Thắng quê Hải Phòng vào đã trên 7 đời, Tổ họ Nguyễn Văn (Đào Nguyên, Kỳ Long) ở Đông Lỗ vào đã trên 9 đời, Tổ họ Trần (Kỳ Ninh) cũng quê gốc Thạch Hà, Tổ họ Phan ở Kỳ Thƣ, Kỳ Văn mắc “vạ voi” phải chạy vào Thanh Sơn, chợ Cầu nay đã trên 9 đời, Tổ họ Nguyễn ở Kỳ Thƣ là Nguyễn Doãn Tuân (Thanh Hóa) vào làm quan võ rồi ở lại nay đã trên 10 đời, Tổ họ Phạm ở Kỳ Hƣng là Thọ quận công Phạm Tiêm quê Hải Dƣơng vào trấn thủ Nghệ An, lập ấp ở Đậu Chữ, sau về ở làng Hƣng Nhân, Tổ họ Nguyễn Tiến ở Kỳ Bắc là Nguyễn Tiến Nghị, theo đoàn quân của vua Quang Trung ra Bắc rồi ở lại nay đã 16 đời, Tổ họ Nguyễn ở làng Trung Hải (Kỳ Hải) gốc thôn Hƣơng Cát, Huyện Hà Thanh, phủ Hà Đông vào dạy học và lấy vợ rồi ở lại, đến nay cũng đã trên 8 đời…
Căn cứ các địa danh lịch sử thì những đơn vị cƣ dân có từ “Kẻ”, loại đơn vị có từ rất sớm ở Kỳ Anh không ít và chỉ ở gần hoặc ven biển. Loại đơn vị hành chính sớm ở Vùng biển là “Trang”, ở vùng núi là “Trại” cũng khá nhiều. Nhƣ vậy cƣ dân đến sinh sống ở Kỳ Anh sớm nhất là vùng ven biển và vùng giữa sau đó mới đến vùng núi.
Theo cuốn “La Provence De Hatinh” - Tỉnh Hà Tĩnh - của Buy-la-tô (Roland Bulateau) viết năm 1925 thì, lúc đó dân số Kỳ Anh có khoảng 29.000 ngƣời, trong đó có 4958 tráng đinh.
Sách “Kỳ Anh phong thổ” (của Lê Đức Trinh - bản dịch của Thanh Minh) chép năm 1931 số đinh của Kỳ Anh là 9102, (trong số đó, đinh đóng thuế thân là 6802 ngƣời, và số không phải đóng là 2300 ngƣời).
Đến năm 1942, tài liệu của công sứ Pháp ở Hà Tĩnh là Môn “Moll‟ (bản dịch của Đặng Văn Thị) ghi dân số Kỳ Anh là 10.862 đinh và 49.124 nhân khẩu.
Sau năm 1945, dân số tăng nhanh, theo thống kê của Phòng thống kê huyện Kỳ Anh năm 1977 thì: năm 1960 Kỳ Anh có 16.472 hộ và 75.355 nhân khẩu, năm 1970 có 20.103 hộ và 93.663 nhân khẩu.
Năm 1993 dân số Kỳ Anh lên tới 36.421 hộ và 150.281 ngƣời. Nhƣ vậy từ 1925 đến 1993 số dân Kỳ Anh tăng lên hơn 5 lần.
Dân cư phân bổ không đều, các xã miền cao (Lâm, Sơn, Thƣợng Lạc…) mật độ dân số / km2 thấp hơn các xã vùng giữa và ven biển.
Tham khảo:
“1”: Nguyễn Mạnh Lợi - Cƣơng vực nƣớc Văn Lang-Hùng Vƣơng dựng nƣớc-tập IV-Nhà xuất bản KHXH - 1974
“2”: Chiêm Thành dựng nƣớc từ thế kỷ II, đời thuộc Đƣờng là nƣớc Hoàn Vƣơng, đời thuộc Tấn là Lâm Ấp, đến năm 808 mới ấy tên chính là Chiêm Thành,
3.2 Quá trình hình thành các làng xã
Từ thời cổ đại, vùng đất này còn là vùng biên ải hoang sơ, dân cƣ thƣa thớt nên chƣa có tổ chức xã hội rõ ràng, triều đình trung ƣơng cũng ít quan tâm, các làng xã có lẽ chƣa đƣợc định hình cụ thể nên tài liệu để lại không có bao nhiêu, chƣa thấy nói gì về các làng xã. Đến cuối đời Trần, đầu Tiền Lê mới có sự quan tâm đến.
3.2.1. Làng xã thời Lê-Nguyễn (thế kỷ XVIII-XIX)
Theo tài liệu ghi chép ngày rằm tháng Bảy năm Minh Mạng thứ 17 (1836), đối chiếu tham khảo sách “Tên làng, xã Việt Nam “- đầu thế kỷ XIX (Bản B) nxb KHXH, N 1981. Thời kỳ này đất huyện Kỳ Anh là 2 tổng: Cấp Dẫn và Đậu Chữ, thuộc huyện Kỳ Hoa, phủ Hà Hoa:
3.2.1.1- Tổng Cấp Dẫn: gồm 30 xã, thôn, trang, trại
- Xã Cấp Dẫn có các thôn: Hữu Lạc, Tăng Phú, Thạch Hoa, Hữu Lệ, Xuân Cẩm, Sơn Giải, Nhƣ Nhật.
- Xã Dƣơng Nậu có các thôn: Hoa Hạ, Dạ Độ, Mạc Khê, Nậu Thôn.
- Xã Duy Liệt có các thôn: Phú Dẫn, Liệt Thƣợng, Liệt Hạ, Hƣơng Sơn.
- Xã Kỳ Nam có các thôn: Phú Thƣợng, Bảo Trung, Đông Hải, Long Trì, Trảo Nha, Đồng Trụ.
- Xã Suối Sa (có nơi phiên âm Lội Sa) có các thôn: Thanh Sơn, Sa Xá.
- Xã Án Đổ có các thôn: Mã Xuyên, các trại Mã Tƣợng, Hoa Đồng, trang Long Ngâm.
3.2.1.2- Tồng Đậu Chữ: Gồm 58 xã, thôn, trang, trại, phƣờng
- Xã Đậu Chữ có các thôn: Sơn Luật, Song Phƣợng, Sơn Triều, Đậu Xá, Long Ngâm, Xuân Chữ, Phú Duyệt.
- Xã Hà Trung có các thôn: Vĩnh Lộc, Văn Trƣờng, Đôn Tẩu, Nhân Lý, Biểu Duệ, Mỹ Lũ, Chi La, Đại Đồng, Hoa Hạ, Hà Trung, Duy Lôi, Đồng Nại.
- Xã Phú Nghĩa có các thôn: Quyền Hành, Lạc Dị, Hƣng Nhân, Yên Hƣng.
- Xã Hoằng Lệ có các thôn: Phúc Sơn
- Xã Vĩnh Lại có các thôn: Hƣơng Đình, Đạo Nguyên, Phao Thôn, Đại Hào, Đại Mực, Ngƣu Sơn, Đầu Thôn, Nhân Hòa, Phúc Lâm.
- Xã Bỉnh Lệ có các thôn: Thƣợng Thôn, Ngƣỡng Thôn, Phác Môn, Hòa Luật, Hải Khẩu, Vĩnh Ái, Hiệu Thuận, vạn Yêu Kính, các trang Vạn Ánh, Yên Thoại, Đồng Nghĩa, Vạn Cảnh, các phƣờng Mỹ Hòa, Tƣợng Nhi, Hoa Thủy, Dục Tƣợng, Chú Tƣợng, Tƣợng Tích, các trại Cẩm Sơn, Vọng Liệu, Tăm Sách, Nhân Canh.
Bí chú : Bản B, trong “Tên làng xã Việt Nam” chép
- Tổng Cấp Dẫn: Xã Cấp Dẫn, Hữu Lạc chép là Yên Lạc, Sơn Giải chép là Sơn Ôi, Dƣơng Nậu chép là Dị Nậu, chép thêm Sơn Kim, Hậu Độ, Hoàng Giang, nhƣng không có Nậu Thôn, Duy Liệt chép là Hoài Liệt, Thanh Sơn chép là Côn Sơn, Trại Mã Tƣợng chép là Trại Voi, Hòa Đồng chép là Đồng Đồng, thêm trại Bản Khai, không có thôn Mã Xuyên.
- Tổng Đậu Chữ: Chép là có 57 xã, trang, thôn, trại, phƣờng, tích.
Thôn Đậu Xá chép là Bà Đỗ, Song Phƣợng chép là Long Phƣợng, Đôn Tẩu chép là Đan Du, Duy Lối chép là Duy Suối
Xã Hoằng Lệ có các thôn: Phúc Sơn, Đào Thôn, Vĩnh Lại, Bến Đình, Địa Phác, Thôn Rào, Đại Hào, Phúc Lâm, Con Bò, Nhân Hòa, Thần Đầu.
Xã Bỉnh Lệ có các thôn: Thôn Thƣợng, Thôn Điều, Phác Môn,Vĩnh Trung, Hòa Luật, Nhân Phác, Vĩnh Ái, Hiệu Thuận, Xuân Điện, trang Eo Kênh, trang Vạn Ích, trang Yên Điềm, trang Đồng Nghĩa, thôn Vạn Cảnh, phƣờng Trung Hòa, phƣờng Vọng Nhi, trại Cây Gạo, trại Vọng Liễu, Sách Tăm, trại Bá Cảnh, xóm Long Hoa, Long Thủy, phƣờng Diên Tƣợng, tích Ngân Tƣợng, phƣờng Chú Tƣợng.
Sách này chép thêm: Các thôn trang phiêu bạt (trong huyện Kỳ Hoa) lá các thôn Bạo Tuyền, Thi Hạ, Hải Khẩu và trang Hội An.
3.2.2 Làng xã trước cách mạng tháng 8-1945
Theo tài liệu của tòa công sứ Pháp ở Hà Tĩnh năm 1942, Kỳ Hoa có 5 tổng, 97 thôn:
3.2.2.1-Tổng cấp Dẫn (có 21 xã, thôn):
- Dạ Độ, Hào Ngâm, Hoàng Giang, Hữu Lạc, Hữu Lệ, Liệt Thƣợng, Liệt Hạ, Mạc Khê, Nậu Độ, Nhƣ Nhật, Phú Dẫn, Phƣơng Giai, Phƣơng Phong, Sơn Kinh, Sơn Tịnh, Tăng Phú, Thạch Lập,Thạch Mỹ, Tuần Tƣợng, Xuyên Cẩm, Yên Hạ.
3.2.2.2 - Tổng Đậu Chữ ( có 22 xã, thôn):
- Án Độ, Bảo Trung, Đậu Chữ, Đậu Xá, Đông Hải, Đồng Nghĩa, Long Trì, Đồng Trụ, Hoằng Dụ, Phú Duyệt, Phú Thƣợng, Quảng Ích, Quý Hòa, Sơn Luật, Sơn Triều, Tân Yên, Thuận Định, Trảo Nha, Vĩnh Ái, Vĩnh Yên, Xuân Chữ, Xuân Diệm.
3.2.2.3 – Tổng Hà Trung (có 20 xã, thôn):
- Biểu Duệ, Duy Lối, Đại Đồng, Đa Lộc, Đan Du, Đồng Nại, Hà Trung, Hiệu Thuận, Mỹ Lũ, Ngân Tƣợng, Nhân Canh, Nhân Lý, Sa Xá, Thanh Sơn, Thiện Lợi, Văn Trƣờng, Văn Yên, Vĩnh Lộc, Xuân Thủy.
3.2.2.4 – Tổng Hoằng Lệ (có 25 xã, thôn)
- Dụ Lộc, Dụ Yên, Đại Hào, Đào Nguyên, Hải Khẩu, Hòa Luật, Hoàng Hà, Hƣng Nhân, Lạc Dị, Ngƣu Sơn, Nhân Hậu, Nhân Hòa, Phác Môn, Phong Dụ, Phƣơng Đình, Phú Sơn, Quyền Hành, Thần Đầu, Thịnh Hƣng, Thổ Phác, Thƣợng Phong, Trạch Hậu, Trƣờng Lạc, Vĩnh Áng, Yêu Kính.
3.2.2.5 – Tổng Vọng Liệu (có 9 thô, xã):
- Lạc Sơn, Mỹ Lý, Mỹ Sơn, Phúc Môn, Tân Liễu, Vọng Liễu, Xuân Quan, Xuân Sơn, Yên Sơn. (có bản ghi Xuân Quán)
Bí chú: Bản của Ủy ban nhân dân huyện Kỳ Anh: - Về tổng Đậu Chữ, không chép Tân Yên mà chép thêm Trung Giáp, không chép Xuân Diệm mà chép Yên Điềm.
- Về tổng Hoằng Lệ, không chép Thần Đầu mà chép Thiên Lý.
- Về tổng Vọng Liệu không chép Yên Sơn mà chép Độ Hợp.
3.2.3 Làng xã sau cách mạng tháng tám-1945
(Theo tài liệu của UBND huyện Kỳ Anh)
3.2.3.1 – Cuối năm 1945 (có 20 xã):
- Cấp Đình gồm: Hữu Lạc, Phƣơng Giai, Tuần Tƣợng, Hữu Lệ, Sơn Kinh.
- Cấp Trung gồm: Yên Hạ, Nậu Độ, Dạ Độ, Thạch Mỹ, 1 phần Xuân Cẩm.
- Cấp Thăng gồm: Nhƣ Nhật, Hào Ngâm, Tăng Phú, Sơn Tịnh, 1 phần Xuân Cẩm.
- Cấp Tân gồm: Phú Dẫn, Hoàng Giang, Mạc Khê, Liệt Thƣợng, Liệt Hạ.
- Cấp Hà gồm: Thạch Lập, Phƣơng Phong.
- Đậu Phú gồm: Long Trì, Phú Thƣợng, Yên Sơn, Bảo Trung, Đậu Thống.
- Đậu Khang gồm: Trung Giáp, Trảo Nha, Đông Hải, Vĩnh Ái, Đồng Trụ, Đậu Xá, Phú Duyệt, Quảng Ích, Phòng Dụ.
- Đậu Thọ gồm: Sơn Triều, Sơn Luật, Vĩnh Yên.
- Đậu Ninh gồm: Yên Điềm, Đồng Nghĩa, Hải Khẩu, Xuân Chử, Tân Yên, Vĩnh Lộc, Thuận Định.
- Trung Hải gồm: Quy Hòa, Văn Yên, Hà Trung, Đồng Nại, Trung Hạ, Văn Tràng.
- Trung Sơn gồm: Đan Du, 1 phần Thanh Sơn, 1 phần Biểu Duệ, Đại Đồng, Sa Xá, Mỹ Lũ, Xuân Thủy, Duy Lối, Ngân Tƣợng, Đa Lộc.
- Trung Châu gồm: Nhân Canh, 1 phần Nhân Lý, Hiệu Thuận, Thiện Lợi.
- Hoằng Trinh gồm: Hƣng Nhân, Lạc Dị, Quyền Hành, Dụ Lộc, Thịnh Hƣng, Hòa Luật.
- Hoằng Càn gồm: Thƣợng Phong, Phong Dụ, Trƣờng Lại, Tây Yên.
- Hoằng Lợi gồm: Vĩnh Áng, Phác Môn, Yêu Kính, Hoàng Hà, Nhân Hậu.
- Hoằng Hanh gồm: Phƣơng Đình, Thổ Phác, Nhân Hòa, Thần Đầu, 1 phần Đại Hào, Ngƣu Sơn.
- Hoằng Nguyên gồm: Trạch Hậu, Đào Nguyên, Phú Sơn, Thiên Lý, Đại Hào.
- Xuân Lạc gồm: Xuân Quán, Lạc Sơn.
- Vọng Trung gồm: Mỹ Lý, Mỹ Sơn, Vọng Liệu, Tân Liệu.
- Vọng Thƣợng gồm: Phúc Môn, Đỗ Hợp.
3.2.3.2– Năm 1950- 1952 (còn 15 xã):
- Cấp Hà, Cấp Thăng, Cấp Tân, Trung Hải, Trung Sơn, Trung Châu, Hoằng Trinh, Hoằng Hanh, Hoằng Nguyên, Xuân Lạc, Kỳ Nam (gồm Cấp Đình, Cấp Trung), Thanh Kỳ (gồm Đậu Phú, Đậu Khang), Lĩnh Nam (gồm 1 phần Đậu Phú, Đậu Ninh), Tân Tiến (gồm Hoằng Càn, Hoằng Lợi), Vọng Sơn (gồm Vọng Trung, Vọng Liễu).
3.2.3.3 – Năm 1954 ( có 26 xã): chia xã Kỳ Nam thành 3 xã: Kỳ Bắc, Kỳ Phong, Kỳ Tiến; chia xã Vọng Sơn thành 4 xã: Kỳ Lạc, Kỳ Lâm, Kỳ Sơn, Kỳ Thƣợng; chia xã Cấp Hà thành 3 xã: Kỳ Tân, Kỳ Tây, Kỳ Văn; chia xã Lĩnh Nam thành 2 xã: Kỳ Ninh và Kỳ Thọ; chia xã Thành Kỳ thành 2 xã: Kỳ Khang và Kỳ Phú; chia xã Trung Châu thành 2 xã:
Kỳ Châu và Kỳ Hoa; đổi tên xã Trung Hải thành xã Kỳ Hải; đổi tên xã Cấp Tân thành xã Kỳ Giang; đổi tên xã Cấp Thắng thành xã Kỳ Xuân.
- Nhƣ vậy các xã mới gồm: Kỳ Phong, Kỳ Bắc, Kỳ Xuân, Kỳ Tiến, Kỳ Giang, Kỳ Phú, Kỳ Khang, Kỳ Thọ, Kỳ Ninh, Kỳ Hải, Kỳ Thƣ, Kỳ Văn, Kỳ Tân, Kỳ Hoa, Kỳ Châu, Kỳ Hƣng, Kỳ Trinh, Kỳ Thịnh, Kỳ Long, Kỳ Lợi, Kỳ Phƣơng, Kỳ Lạc, Kỳ Lâm, Kỳ Sơn, Kỳ Thƣợng, Kỳ Tây
3.2.3.4 – Năm 1961 (có 27 xã): Tách làng Ngƣu Sơn lập xã Kỳ Nam.
- Kỳ Phong, Kỳ Bắc, Kỳ Xuân, Kỳ Tiến, Kỳ Giang, Kỳ Phú, Kỳ Khang, Kỳ Thọ, Kỳ Ninh, Kỳ Hải, Kỳ Thƣ, Kỳ Văn, Kỳ Tân, Kỳ Hoa, Kỳ Châu, Kỳ Hƣng, Kỳ Trinh, Kỳ Thịnh, Kỳ Long, Kỳ Lợi, Kỳ Phƣơng, Kỳ Nam, Kỳ Lạc, Kỳ Lâm, Kỳ Sơn, Kỳ Thƣợng, Kỳ Tây
3.2.3.5 – Năm 1963 (có 28 xã): Lập thêm xã Kỳ Hƣơng
- Kỳ Phong, Kỳ Bắc, Kỳ Xuân, Kỳ Tiến, Kỳ Giang, Kỳ Phú, Kỳ Khang, Kỳ Thọ, Kỳ Ninh, Kỳ Hải, Kỳ Thƣ, Kỳ Văn, Kỳ Tân, Kỳ Hoa, Kỳ Châu, Kỳ Hƣng, Kỳ Trinh, Kỳ Thịnh, Kỳ Long, Kỳ Lợi, Kỳ Phƣơng, Kỳ Nam, Kỳ Lạc, Kỳ Lâm, Kỳ Sơn, Kỳ Thƣợng, Kỳ Tây, Kỳ Hƣơng.
3.2.3.6 – Năm 1977 (lúc đầu có 28 xã, nhập 2 xã Kỳ Lâm, Kỳ Sơn thành Vọng Sơn, Tách Kỳ Hải, lập thêm xã Kỳ Hà.)
(Về sau lại tách Vọng Sơn lại nhƣ cũ. Tức có 29 xã): Kỳ Phong, Kỳ Bắc, Kỳ Xuân, Kỳ Tiến, Kỳ Giang, Kỳ Phú, Kỳ Khang, Kỳ Thọ, Kỳ Ninh, Kỳ Hải, Kỳ Hà, Kỳ Thƣ, Kỳ Văn, Kỳ Tân, Kỳ Hoa, Kỳ Châu, Kỳ Hƣng, Kỳ Trinh, Kỳ Thịnh, Kỳ Long, Kỳ Lợi, Kỳ Phƣơng, Kỳ Nam, Kỳ Lạc, Kỳ Lâm, Kỳ Sơn, Kỳ Thƣợng, Kỳ Tây, Kỳ Hƣơng.
3.2.3.7 – Năm 1987 (Có 31 xã và 1 thị trấn) - Thành lập thị trấn và 3 xã mới: Kỳ Đồng, Kỳ Hợp, Kỳ Liên. Giải thể xã Kỳ Hƣơng, chia về cho các xã Kỳ Tây, Kỳ Tân...
- Kỳ Phong, Kỳ Bắc, Kỳ Xuân, Kỳ Tiến, Kỳ Giang, Kỳ Phú, Kỳ Khang, Kỳ Thọ, Kỳ Ninh, Kỳ Hải, Kỳ Hà, Kỳ Thƣ, Kỳ Văn, Kỳ Tân, Kỳ Hoa, Kỳ Châu, Kỳ Hƣng, Kỳ Trinh, Kỳ Thịnh, Kỳ Long, Kỳ Lợi, Kỳ Phƣơng, Kỳ Nam, Kỳ Lạc, Kỳ Lâm, Kỳ Sơn, Kỳ Thƣợng, Kỳ Tây, Kỳ Đồng, Kỳ Hợp, Kỳ Liên. Thị trấn Kỳ Anh.
3.2.3.8 – Năm 2004 thành lập xã Kỳ Trung (Có 32 xã và 1 thị trấn):
- Kỳ Phong, Kỳ Bắc, Kỳ Xuân, Kỳ Tiến, Kỳ Giang, Kỳ Phú, Kỳ Khang, Kỳ Thọ, Kỳ Ninh, Kỳ Hải, Kỳ Hà, Kỳ Thƣ, Kỳ Văn, Kỳ Tân, Kỳ Hoa, Kỳ Châu, Kỳ Hƣng, Kỳ Trinh, Kỳ Thịnh, Kỳ Long, Kỳ Lợi, Kỳ Phƣơng, Kỳ Nam, Kỳ Lạc, Kỳ Lâm, Kỳ Sơn, Kỳ Thƣợng, Kỳ Tây, Kỳ Đồng, Kỳ Hợp, Kỳ Liên, Kỳ Trung. Thị trấn Kỳ Anh.
4. Những danh thắng & Di tích lịch sử Kỳ Anh
4.1. Đèo Ngang
Trƣớc hết và luôn luôn Đèo Ngang là một nơi danh thắng. Là ngƣời Việt Nam không ai là không thuộc và nhớ đến Kỳ Anh qua bài thơ tuyệt bút của Bà huyện Thanh Quan để lại cho muôn đời:
Bƣớc tới Đèo Ngang bóng xế tà Cỏ cây chen đá, lá chen hoa Lom khom dƣới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà.
Nhớ nƣớc đau lòng con quốc quốc
Thƣơng nhà mỏi miệng cái gia gia
Dừng chân ngắm lại trời non nƣớc
Một mảnh tình riêng ta với ta.
Đèo Ngang vắt qua dãy núi ngang (Hoành Sơn) ở độ cao 256m.
Con đƣờng xuyên Việt qua đây đã đƣợc ông Phụ quốc Ngô Tử An mở ra từ năm 992 đời Tiền Lê. Xƣa kia Đèo Ngang luôn là nơi biên ải hiểm yếu. Cùng với những đoàn lính thú ra vào là những đoàn “vợ lính trẫy vô thăm chồng” với tiếng hát não nề: Gặp trộ mƣa dông / Đàng trơn gánh nặng / Mặt trời vừa lặn / Đèo Ngang chƣa trèo / Hòn đá cheo leo / Em trèo răng đƣợc. (vè) và cùng với họ là những ngƣời buôn bán, làm thuê: “Tháng lọn ngày thâu chỉ biết trèo” (Nguyễn Thiếp) và những: “Ông đồ Nghệ mang khăn gói đỏ... Vƣợt đèo Ngang tìm nơi cần chữ”(Xuân Diệu), là những học trò đi tìm công danh nhƣ gã Tô Tần: “Áo cừu rách rồi còn chƣa biết bao giờ trở về” (thơ Cao Bá Quát), những ông quan “Cánh cửa lẻ loi giữa gió mùa” (thơ Bùi Huy Bích), và những ngƣời bị đày viễn châu xƣa, những ngƣời tù cách mạng về sau: “Thân cùng non nƣớc trót đa mang” (khuyết danh).
Năm Minh Mạng thứ 14 (1833) nhà vua cho xây dựng Hoành Sơn quan.
Năm Minh Mạng thứ 19 (1838), đúc 9 đỉnh đồng đặt ở thành nội Huế, hình tƣợng Hoành Sơn - Đèo Ngang đã đƣợc chạm lên “Huyền đỉnh”.
Năm Nhâm Dần (1842) vua Thiệu Trị ngự giá Bắc tuần đi qua đây, đã làm bài thơ khắc lên bia đá đặt ở mé bắc Đèo Ngang, nơi bắt đầu con đƣờng ghép đá lên cổng Hoành Sơn quan nhƣ sau:
“Nhất đái miên hoành hạn tiệt san
Uyển diên khởi phục hải tần gian
Vệ nam củng bắc phân nghiêm tấn
Lịch cổ lai kim tác hiểm quan.
Tồi lũy bất tu bình vãng sự
Trùng loan vi tín khả vao phan
Tiếp thiên nham thụ thanh nhi thủy
Bán lĩnh phi vân khứ phục hoàn”.
Dịch:
Một dải chăng dài núi chặn ngang
Quanh co, chìm nổi, biển mênh mang
Gìn nam, giữ bắc chia nghiêm cửa
Suốt cổ về kim chốt chặn đàng.
Men lũy chẳng nên bàn việc cũ
Băng truông hồ dễ với tay sang
Liền trời cây ngút xanh xanh biếc
Nửa núi mây dồn, mây lại quang.
(Bản dịch của Thanh Minh)
Dƣới chân đèo có nhiều khe suối quyến rũ khách đi đƣờng dừng chân nghỉ ngơi, ngắm cảnh.
Cụ Bùi Huy Bích ngồi bên khe Mộc Miên, sảng khoái thốt lên: “Xuyyên điểm xuyến cô thôn cận / Hoa cảnh phân minh lƣỡng ngạn hƣ - Khói chiều lơ lững trên thôn vắng / Hoa sớm tƣng bừng mạn suối mơ”.
Cụ Cao Bá Quát thì xuống tắm dƣới khe Đá Bàn và ngâm: “Triêu đăng Hoành Sơn lập / Mộ hạ Bàn thạch dục / Huề thủ lƣỡng phiến thạch / Giang sơn bất dinh cúc” – “Sớm đứng ngọn Hoành Sơn / Chiều tắm khe Bàn thạch / Nhặt đá cầm trong tay / Non sông chƣa đầy vóc”.
Xƣa nay, bƣớc tới Đèo Ngang, bao nhiêu thi sĩ đã làm thơ: Từ Bùi Huy Bích, Phạm Qúy Thích, Nguyễn Thiếp, Hà Tôn Quyền... đến Nguyễn Nễ, Bùi Dƣơng Lịch, Bà Huyện Thanh Quan, từ Cao Bá Quát, Nguyễn Trƣờng Tộ... đến Lê Văn Huân, Xuân Thủy, Phạm Tiến Duật... không biết bao nhiêu mà kể. Ông vua thi sĩ làm thơ khắc thơ lên bia đá, ngƣời lao động bình dân có tâm hồn thi sĩ thì hát lên tiếng lòng thành lời ca truyền tụng trong dân gian:
“Trèo đèo hai mái chân vân
Ngƣời về Hà Tĩnh, dạ ái ân Quảng Bình”
Ngày nay, bƣớc dƣới Đèo Ngang gặp ngôi mộ nhỏ thờ Thánh Mẫu, ta đang đi vào huyền thoại bà chúa Liễu Hạnh... với chiếc quán nhỏ bên đƣờng...
Ở Mũi Đao, ngồi lại bên cửa hàng giải khát, ta đang đứng trƣớc một thị trấn du lịch bắt đầu dựng xây. Từ đây, con đƣờng nhựa ngƣợc đèo giữa rừng thông non xanh biếc lên tới đỉnh cao hai trăm rƣỡi mét, ta có thể đi qua đất Quảng Bình một đoạn rồi rẽ quặt sang trái, hoặc leo 980 bậc đá ghép theo dấu cũ quan lộ ngày xƣa mà lên Hoành Sơn quan, một phần công trình kiến trúc từ hơn 180 năm trƣớc. Xế cạnh ngôi cổng cổ kính là một cột điện cao thế hiện đại... và lần theo sƣờn núi đi ra phía đông hoặc đi về phía tây, ta sẽ gặp những phế tích cũ Lâm Ấp của mƣời sáu thế kỷ trƣớc còn sót lại.
Nhà địa lý Lê Bá Thảo viết trong cuốn “Thiên nhiên Việt Nam”: “Con đƣờng đi lên đèo chạy ngoằn ngoèo từ sƣờn đồi nay đến sƣờn đồi khác, và khi lên đến đỉnh đèo, không ai có thể kìm đƣợc sự kiêu hãnh của mình khi nhìn thấy biển Đông trƣớc mặt. Ở tít tận ngoài xa, mũi Ròn rồi Vũng Chùa và hàng loạt đảo nhỏ khác đứng lô nhô trên sóng như che bóng trắng một con tàu biển và buồm của các thuyền câu.
Một mái Đèo Ngang
4.2. Núi Hoành Sơn
Hoành Sơn - dãy núi ngang - ở phía nam huyện Kỳ Anh xƣa là biên giới tự nhiên giữa 2 quốc gia cổ Việt - Chiêm, nay là địa giới 2 tỉnh Quảng Bình - Hà Tĩnh. Khối núi này chiếm diện tích 1500km2, kéo dài từ phía tây Vọng Liệu (Kỳ Anh) đến Tuyên Hóa (Quảng Bình), đến mút phía đông là mũi Đao, mũi Độc (Kỳ Nam). Núi chỉ có độ cao trung bình 400m, nhƣng cũng có đỉnh cao tới 646m (nhƣ động Nậy), hoặc 823m (ngọn Ba Cốc). Đèo Ngang vắt qua núi, từ phía bắc vào là đèo Con, rồi đèo Nậy (256m).
Từ vùng Đèo Ngang chảy xuống có nhiều dòng khe: Khe Bò, khe Du, khe Di, khe Bàn Thạch… ở mái bắc. Khe Mộc Miên (khe Bông) ở phía nam. Sách “Lịch triều hiến chƣơng loại chí” chép: “Xã Hoàng Hóa thuộc huyện Kỳ Hoa… phía đông giáp châu Bố Chánh (Quảng Bình) có khe Mộc Miên làm giới hạn.
Hoành Sơn cũng là biên giới khí hậu bắc-nam. Phía Hà Tĩnh mùa đông có gió mùa đông bắc mạnh, mùa hè gió Lào dữ dội, lƣợng mƣa rất lớn, 3000mm/năm trong khi Quảng Bình chỉ cách 10 km thì gió mùa rất yếu.
Do điều kiện khí hậu nóng ẩm, cây cối phát triển mạnh. Ngày xƣa toàn bộ dãy Hoành Sơn phủ một thảm thực vật dày đặc, những cánh rừng bạt ngàn, trong rừng có đầy đủ các loại động-thực vật quý hiếm.
Nằm trên biên giới Việt - Chiêm thời xa xƣa và thời phân tranh Trịnh - Nguyễn, Hoành Sơn luôn là vùng đất chiến địa. Nhƣng Hoành Sơn cũng là một danh thắng nhất nhì ở Nghệ Tĩnh với cảnh Đèo Ngang tuyệt vời đi vài thi ca, làm lay động hồn người.
4.3. Núi Bàn Độ
Núi Bàn Độ tục gọi rú Đọ hay rú Ba Đọ, ở làng Đậu Xá (hay làng Phú Duyệt) tổng Đậu Chữ, nay là xã Kỳ Khang. Sách “Kỳ Anh phong thổ ký”- của Lê Đức Trinh - mô tả: “… núi nổi lên giữa thôn Đậu Xá, cao lớn, rậm rì, phía đông ra tới biển, trên đỉnh núi bằng phẳng trông giống nhƣ cái mâm vàng đặt qua mặt bể nên gọi là núi Bàn Độ”.
Trên núi có cái đầm, gọi là đầm Tiên. Tƣơng truyền ngày xƣa Tiên nữ xuống chơi đầm ấy. Lại có một tảng đá lớn nhƣ bàn cờ gọi là bàn cờ Tiên, những hòn đá nhỏ la liệt xếp trên đó nhƣ những quân cờ…
Trên núi có ngôi chùa cổ, các sách xƣa chép là chùa Bàn Độ, còn nhân dân thƣờng gọi là chùa Ngâm. Phía tả chùa có con suối dài bảy, tám trƣợng, trên không có nguồn, dƣới sâu không đáy, nƣớc chảy ngày đêm rất trong mát. Phía trƣớc chùa có cái kênh nhỏ thông ra biển… nay kênh đã bị bồi đắp thành đất bằng, nên nƣớc suối không có nguồn thông ngày đêm phun trào rất mạnh.
Trên núi Bàn Độ còn có ngôi đền Thánh Mẫu (chƣa rõ Thánh mẫu đây là bà Nguyễn Thị Bích Châu hay Thánh mẫu Càn Vƣơng, thái hậu nhà Tống nhƣ có ngƣời nói). Ở mé nam còn có di tích ngôi chùa Đá.
4.4. Núi Cao Vọng
Núi Cao Vọng - Cao Vƣợng, tục gọi rú Voong, ở xã Bình Lễ, sau là Vĩnh Áng, tổng Hoàng Lễ, nay thuộc xã Kỳ Lợi.
“Núi nổi cao hai nhỏn xế ra biển, phí nam là núi Ô tôn (phiên âm chữ Dòn), phía đông liền với biển, có vũng bao quanh nhƣ cái ao, gọi là núi Yên Ao. Dƣới chân núi có giếng đá, tục gọi là giếng Ếch, vị nƣớc rất ngọt. Thuyền buôn qua lại đều tới đây lấy nƣớc uống, trƣớc đây có đồn thú canh giữ…” (Kỳ Anh phong thổ ký)1
1 - Sách “Kỳ Anh phong thổ ký” do Lê Đức Trinh viết năm 1931, bản dịch của Thanh Minh.
Năm 1407 quân Minh mƣợn cớ đánh nhà Hồ, đƣa quân xâm lƣợc nƣớc ta, Họ Hồ thua chạy vào Châu Hoan, nhƣng Hồ Quý Ly chạy đến núi Thiên Cầm thì bị bắt, còn Hồ Hán Thƣơng cùng thái tử Nhuế cũng bị đầu mục của Mạc Thủy là Nguyễn Nhƣ Khanh bắt ở núi Cao Vọng. Ngày nay ở núi Thiên Cầm có hang Hồ Quý Ly, và ở núi Cao Vọng cũng có hang Hồ Hán Thƣơng. Sự kiện này đƣợc chép trong sử sách và đƣợc truyền bằng hai câu thơ cổ:
“Kỳ La hải khẩu ngâm hồn đoạn
Cao Vọng sơn đầu khách tứ sầu”
Dịch: Trƣớc cửa Kỳ La hồn thơ tắt
Đầu non Cao Vọng dạ ngƣời đau. (T.K.Đỉnh)
Bùi Huy Bích, trong bài thơ “Vịnh núi Cao Vọng” cũng có câu:
“Trƣơng Phụ lai thời thanh thạch lão
Hán Thƣơng khứ hậu bạch vân lƣu”
Dịch: Đá cũng bạc đầu, Trƣơng Phụ đến
Mây còn trắng núi, Hán Thƣơng đi. (T.K.Đỉnh)
Trên núi Cao Vọng còn có ngôi đền thờ thần Sát Hải2 và miếu thờ ông bà họ Chu.
2 - Sách “Kỳ Anh phong thổ ký” do Lê Đức Trinh viết năm 1931, bản dịch của Thanh Minh.
**. Sát Hải tƣớng quân là vị tƣớng đời Trần, tên là Hoàng Tá Thốn, quê ở cửa Vích (Quỳnh Lƣu - Nghệ An) dân nhiều nơi lập bàn thờ. Ở Kỳ Anh còn có truyền thuyết: Ông quan giữ cửa Khẩu báo việc bão tố, rồi bị giết oan dân lập bàn thờ.
3 - Tức Lan quận công Lê Thát, quê ở Hữu Lệ, sống vào thế kỷ 16
4.5. Núi Ngọc Thạch
Sách “Kỳ Anh phong thổ ký” chép: Núi Ngọc Thạch ở phía bắc huyện, tại thôn Hữu Lệ, thuộc xã Tuần Tƣợng (nay là Kỳ Phong, Kỳ Bắc), là ranh giới giữa hai huyện Kỳ Anh và Cẩm Xuyên. Trên đỉnh có tảng đá lớn dựng đứng, thạch nhũ rũ xuống nhƣ ngọc nên núi mang tên Ngọc Thạch. Hình núi nhƣ con voi, phía đông bắc một dãy vƣơn ra biển nhƣ cái vòi voi cuốn nƣớc, cho nên có tên gọi khác là núi Voi (Tƣợng Tỵ). Dƣới chân núi có mộ phát tích của quận công họ Lê 3. Sách “Đại Nam nhất thống chí” (tập II) lại chép một tên khác là núi Tiên Chƣởng và giải thích: “… Trên núi có đá lớn đứng sững, thạch nhũ rũ xuống trông giống hình ngón tay, nên có tên nhƣ thế”. Sách này cũng chép về núi Tƣợng Tỵ: „… Hình núi nhƣ vòi voi nên gọi nhƣ thế. Đời Lê lập trƣờng nuôi voi ở đây. Lại có núi Lạc Hạ cũng ở địa điểm xã này, hình núi nhƣ cái vạc úp”.
4.6-Núi Kỳ Đầu
Về núi Kỳ Đầu hai quyển sách trên đều chép tƣơng tự: Núi Kỳ Đầu ở địa phận thôn Nhƣ Nhật, xã Kỳ Xuân, phía tây nối liền núi Ngọc Thạch, sông Rác bao quanh, hình núi nhƣ cờ dƣơng cao nên gọi là Kỳ Đầu.
Ở đây lƣu truyền một huyền thoại: “Theo sử ký, thì khoảng thời Lê Cảnh Hƣng (1740 - 1786) có tảng đá lớn từ dƣới biển dời lên tới đỉnh núi, rồi đến thời Tự Đức (1848 - 1883) tảng đá ấy lại tự dời xuống biển, đƣờng đá trƣợt qua đến nay vẫn còn dấu ngấn.”
Cùng ở thôn Nhƣ Nhật còn có núi Yên Tâm, “thế núi tôn nghiêm, có các ngọn Cờ, ngọn Trống, ngọn Voi, ngọn Ngựa ở hai bên cùng hƣớng vào, sƣờn núi có chùa…” Ở đây có một ngọn núi sát biển, gọi là “Bằng Sƣ”, vào mùa hè và mùa thu có chim cu kỳ tụ tập nhiều, dân địa phƣơng đào lỗ chứa nƣớc rủ chim xuống uống rồi đặt bẫy bắt. Núi này cũng là nơi phong cảnh rất đẹp.
4.7. Giếng Vọt
Gọi giếng Vọt nhƣng không phải là giếng, cũng không phải là khe lộ thiên mà là một suối nƣớc ngầm, nƣớc phun ra mé một ngọn đồi nhỏ ở làng Hƣng Nhân, nay thuộc thị trấn Kỳ Anh. Sách “Nghệ An ký” mô tả: “Một dải gò động bằng phẳng, thung lũng rộng lớn, liên lạc với núi Hoành Sơn, vách đá cheo leo, cây cối xanh tốt, từ trong hang đá chảy ra một dòng suối mát, trong sạch, thơm ngon. Dân địa phƣơng lấy cây gỗ khoét rỗng làm máng hứng nƣớc nhƣ máng mái nhà hứng nƣớc mƣa. Nƣớc suối chảy ra tƣới các ruộng xung quanh nên lúa đều tƣơi tốt.
Tương truyền, ngày trƣớc có một viên đốc trấn cấm dân không đƣợc lấy nƣớc suối ấy thì tự nhiên suối bị tắc không chảy. Sau dân nghe lời một tiên sĩ giết trâu cúng thần và bãi lệnh cấm thì nƣớc chảy lại nhƣ trƣớc.
Cũng sách này (Nghệ An ký) chép: “Nƣớc ở Nghệ Tĩnh có 3 nơi đƣợc khen là giai phẩm, một là sông La ở huyện La Sơn, hai là suối Việt tỉnh ở huyện Kỳ Hoa, ba là khe Hau Hau ở núi Nam Giới huyện - Thạch Hà.
Sách “Lịch triều hiến chƣơng loại chí” cũng chép: “Suối Việt - đông (tức giếng Vọt - Thái Kim Đỉnh chú) ở bên tả trấn thành, một dãy sƣờn núi bằng phẳng thung lũng rộng dài, nối liền với dãy núi án ngự của trấn. Ở bên đó có núi đá đứng thẳng nhƣ vách, cây cối um tùm, trong khe đá chảy ra suối nƣớc trong, mát, ngọt, ngon. Ngƣời biết thƣởng thức vị nƣớc cho nƣớc suối ấy là ngon nhất ở Hoan Châu”
Giếng Vọt nƣớc quý, lại là một kỳ quan, ngày trƣớc Hoàng giáp Bùi Huy Bích (1744-1818) khi làm quan ở đây, thƣờng đến chơi bên suối và có làm bài thơ vịnh bằng chữ Hán “Vịnh Việt tỉnh” nhƣ sau:
Phiến thạch Hoàng Sơn bạn
Hoan Châu đệ nhất tuyền
Sàn sàn xuyên mật thụ
Tế tế dạng khinh yên
Lƣu thủy mạn chung cổ
Hành nhân bất ngộ tiên
Trần tâm huy mặc địa
Tẩy chƣớc tạm phiên nhiên
Bản dịch của nhà nghiên cứu Thái Kim Đỉnh:
Một phiến đá mé Hoành Sơn
Từ xƣa, đệ nhất Châu Hoan suối này
Nghe róc rách dƣới rừng cây
Lâng lâng làn khói nhẹ bay, mơ màng
Đời đời dòng nƣớc xuyên ngang
Ngƣời qua nào thấy bóng Hằng Nga đâu
Lòng tràn lay tận đất sâu
Đến đây tắm rửa sạch làu, nhẹ lâng.
4.8. Sông Kinh Hạ
Sông Kinh Hạ, thƣờng đƣợc gọi là sông Kinh, xƣa kia gọi Kênh Rác, Kênh Voi, là con sông đào cổ xƣa, nối sông Rác (Cẩm Xuyên) với cửa Khẩu, dài khoảng 35km, rộng trung bình 20-25m có vài đoạn rộng tới 100-150m, đi qua các làng Văn Thai, Tƣ Dung, Nhân Mỹ, nay là xã Cẩm Lạc (Cẩm Xuyên), Hữu Lệ (Kỳ Phong), Yên Hạ (Kỳ Tiến), Phú Thƣợng (Kỳ Phú)… chảy vào con hói qua vùng Kỳ Giang, Kỳ Khang, Kỳ Thọ đến sông Vịnh (sông cửa Khẩu) rồi ra biển.
Sách “Đại Việt sử ký” - Kỷ nhà Trần chép: “Giáp Dần, năm Long Khánh thứ 2, đời vua Duệ Tông (1374), tháng ba, chiếu xuống cho Thanh Hóa, Nghệ An đào kênh đến cửa biển Hà Hoa” (cửa Khẩu). Đó là những hệ thống, những đoạn kênh đào nối sông Đáy ở cửa Thần Phù với các sông tự nhiên khác cho đến kênh Hạ là đoạn cuối.
Đối với Trần Duệ Tông, việc đào con kênh này chỉ nhằm vào mục đích quân sự là chính. Trƣớc đó, thuyền bè từ Bắc Hà vào đến đất Hà Tĩnh bây giờ đều phải ra cửa Nhƣợng Bạn rồi vào Ô, Lý. Để tránh bớt nguy hiểm trên đƣờng biển, Duệ Tông sai đào sông, và đoàn thuyền chiến của ông lần đầu tiên đã ra cửa Khẩu để vào đánh chúa Chăm-Pa (1377).
Năm Qúy Mão (1003) vua Lê Đại Hành đã cho đào sông Gai (Đa Cát) ở Nghệ An. Đời hậu Lê, trên đất Hà Tĩnh bây giờ, một số đoạn kênh cũ đời Trần đƣợc đào nắn thẳng hoặc khơi sâu thêm (nhƣ đoạn sông Đò Trai - Đức Thọ, đoạn sông Thƣợng Trụ - Can Lộc…), do đó nhiều ngƣời quen gọi hệ thống kênh này là kênh nhà Lê.
Năm Tự Đức thứ 12 (1859), đời Nguyễn, Hiệp tá Hoàng giáp Lê Tuấn (ngƣời Mỹ Lũ - Kỳ Văn) đƣợc cử ra đổng lý việc đào khơi lại nhiều đoạn kênh để thông đường thủy với Bắc Thành. Sách “Đại Nam nhất thống chí” (Tập II) chép là:” … đào lại kênh Rác và kênh Thần Đầu”.
Đến năm Thành Thái thứ 11 và 12 (1899-1900), tuần phủ Hà Tĩnh Tôn Thất Hân và công sứ Pháp Xăng-đơ-rê (Sandré) lại tổ chức đào kênh Kinh Hạ, khơi sâu thêm 4-5 thƣớc (1,6-2m).
4.9. Kênh Thần Đầu
Trên đất Kỳ Anh có đoạn kênh Thần Đầu, đào từ đời Lê (Năm Qúy Mão (1003). Sách “Đại Nam nhất thống chí” (Tập II) chép; “Kênh mới Thần Đầu đào từ năm Tự Đức thừ 12 (1859) nay đã bị lấp”. Nhƣng từ thế kỷ XV ở vùng này đã có kênh Sa Tắc (cát lấp) và kênh Trƣờng Lang (hành lang dài) nối sông Quyền và một số khe suối. Năm Hồng Đức thứ nhất (1470) đoàn thuyền chiến của vua Lê Thánh Tông đã đi từ cửa Khẩu qua kênh này. Nguyên chú trong mấy bài thơ trong tập “Chinh tây kỷ hành” của Lê Thánh Tông chép: “… Canh tƣ đêm 13 tháng Chạp, dời thuyền bơi vào một dòng sông nhỏ. Sáng ngày 14 tiến vào kênh Sa Tắc. Mƣa to, gió lạnh, thuyền dừng lại sát bờ… Từ kênh Trƣờng Lang trở về phía trƣớc, có thể di dân tới chừng mấy vạn đinh…” Và: “Ngày 14 tháng Chạp, đóng quân ở trạm Hoành Sơn. Canh tƣ đêm ấy đốt đèn đọc sách, hạ lệnh cho ba quân ăn cơm từ sớm, sáng ra dời thuyền tiến vào Tắc Giang, gặp cây gỗ to chắn giữa dòng, bèn ra lệnh cho quân tiền khu tả dực chặt cây, thông tuyến. Đoàn thuyền trên Tắc Giang một lát qua đƣợc ngay. Giờ Mùi ngày 15 lại khởi hành”.
4.10. Cửa Khẩu
Cửa Khẩu là tên gọi tắt của “Kỳ Hoa hải khẩu”- cửa biển Kỳ Hoa.
Sách xƣa, nhƣ “Nghệ An ký” chép là: “Khẩu hải khẩu”, hay nhƣ “Lịch triều hiến chƣơng loại chí” chép là “Cửa Loan Nƣơng”.
Cửa Khẩu nằm trên tọa độ 106,21‟36” độ kinh đông và 18,06‟,48” độ vĩ bắc, thuộc địa phận xã Hải Khẩu (nay là xã Kỳ Ninh). Sông từ phía bắc, sông Trí từ phía tây, sông Quyền từ phía nam cùng đổ ra một vũng nhỏ, dài khoảng 4km, rộng từ 400 - 500m (nƣớc lên có thể rộng tới 800m), sâu 3 - 4m đến 7 - 8m, có tốc độ chảy khoảng 0,5 m/giây, gọi là sông cửa Khẩu hay sông Vịnh. Lạch sông và cửa biển thời xa xƣa đi về phía bắc, sát gần rú Đọ, còn bây giờ đã chuyển dần xuống phía nam, mé rú Voong.
Trong lịch sử, cửa Khẩu là cửa biển quan trọng ở nam Đại Việt, nhiều sự kiện quan trọng đã xảy ra ở đây.
Sự kiện sớm nhất đƣợc sử sách ghi chép là vào thời nhà Tùy, tháng giêng năm Ất Sửu (605) Hoan Châu đạo hành quân tổng quản Lƣu Phƣơng và bọn đại tƣớng Trƣơng Tốn đem thủy quân từ cửa biển quận Tỵ Ảnh (của Sót hay cửa Nhượng) vào đánh Chiêm thành, “tháng ấy quan đến cửa Hải Khẩu”.
Người Chăm-pa từ khi lập quốc (Thế kỷ thứ II), thƣờng đƣa thuyền vào cửa Khẩu và cửa Nƣớc Mặn cƣớp phá, bắt ngƣời. Trong các đợt vƣợt Hoành Sơn lấn chiếm đất Đại Việt (803-808 và khoảng 907, 910, 981), cửa Khẩu có vị trí quan trọng với quan, quân của họ. Chắc chắn là thuyền chiến, thuyền lƣơng của họ phải đóng chốt và qua lại nơi đây để phục vụ cho việc cai trị vùng chiếm đóng.
Thời Lý (Lý Nam Đế), thời Trần ngƣời Chiêm Thành thƣờng hay đến cƣớp phá ven biển hoặc bắt ngƣời bán vào Chân Lạp, nên ở cửa Khẩu có đồn binh canh giữ. Sau khi đào kênh Kinh Hạ, thuyền bè từ bắc vào thông đến cửa Khẩu ra biển.
Đời Lê, từ các cuộc nội chiến Lê-Mạc, Trịnh-Nguyễn, cửa Khẩu càng trở thành vị trí quân sự trọng yếu. Ở đây có một đội giả (thủy quân) từ 30, có khi đến 300 ngƣời đóng giữ để bảo vệ Dinh Cầu và bờ biển phía nam.
Khoảng mồng ba đến mồng 6 tháng 6 năm Bính Ngọ (1786), Tiết chế Nguyễn Huệ kéo quân ra diệt Trịnh đến cửa Khẩu. Đó là một sự kiện lịch sử quan trọng sau việc ba ông vua Trần Duệ Tông (1377), Hồ Quý Ly 1383 và Lê Thánh Tông (1470 - 1471) đi qua cửa biển này.
Đời Nguyễn, vị trí cửa Khẩu không còn nhƣ trƣớc nữa, nên ở đây chỉ đặt “tấn” cửa Khẩu, do một tấn thủ trông coi, kiểm soát thuyền bè qua lại.
Cửa Khẩu - Sông Vịnh những năm 60 của thế kỷ XX (Tranh sơn dầu của Xuân Lộc)
4.11. Cửa Xích Mộ
Cửa Xích Mộ, cũng đọc là Xích Lỗ hay Tích Lỗ - Cửa nƣớc mặn - chảy qua địa phận làng Ngƣu Sơn, tổng Hoàng Lệ, sau là thôn Minh Đức, nay là xã Kỳ Nam. Nƣớc khe Bò, khe Du, khe Di từ Đèo Ngang đổ xuống, tạo thành con sông nhỏ cùng tên, chảy mé đông bắc dãy Hoành Sơn rồi đổ xuống cửa biển này. Con sông và cửa biển Xích Mộ nằm tách biệt khỏi hệ thống sông ngòi trong huyện.
Ở thế kỷ XV, cửa biển Xích Mộ khá rộng và sâu, đoàn thuyền chiến của vua Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành (1470 - 1471) đã đổ lại đây. Nhà vua nghỉ lại cửa biển Xích Mộ, có cảm tác bài thơ “Xích Mộ hải môn lữ thứ”, Ngô Linh Ngọc dịch nhƣ sau:
“Trên sông Xích Lỗ* lƣớt chèo hoa
Đất khách bâng khuâng nỗi nhớ nhà
Phòng biển sông quay thành vách lũy
Đầu mom tre đẵn ghép rui xà
Thuyền về bến vạn cơn mƣa dục
Triều tới ven bờ ruộng Lạc xa
Chạnh nhớ ngày xƣa gƣơng sáng để
Đè mây vƣợt sóng bƣớc xông pha.”
*(Có bản chép: Trên sông Xích Mộ lƣớt chèo hoa)
Sách “An Tĩnh cổ” viết: “Trong vùng đồng bằng Hoàng Lễ…, chúng ta thấy khe Bò uốn lƣợn để đổ ra cửa Xích Mộ. Chắc rằng cách đây vài ba thế kỷ, cửa sông này phải dịch ra phía bắc, vì… có một công sự phòng thủ lội qua lại ở đây đã bị chôn vùi dƣới đồi cát, nằm theo chiều tây bắc-đông nam.”
Cửa Xích mộ xƣa đã bị bồi lấp, nằm ở vị trí thôn Minh Đức bây giờ. Cửa biển hiện nay dịch chuyển xuống phía nam, hẹp và cạn.
4.12. Vũng Áng
Dải Cao Vọng, từ mũi Dung mạn bắc chạy một vòng cung rộng, bao lấy hai thôn Vĩnh Trung, Vạn Áng (nay là Vĩnh Áng, xã Kỳ Lợi), rồi tiếp tục ăn mãi ra biển khoảng 8km, đến điểm mút là Mũi Dòn ở mạn nam (mũi Dòn gồm có Dòn Nậy, Dòn Con, có tài liệu, bản đồ ghi là ngọn Đình Chùa hay núi Ròn, sách cổ phiên âm là núi Ô Tôn). Từ hai điểm mũi Dung - mũi Dòn (khoảng 6km) trở vào là Vũng Áng.
Làng chài Vĩnh Áng ở ven bờ Vũng tựa lƣng vào núi, đối mặt với biển, tách khỏi các điểm dân cƣ khác trong xã. Từ Vũng Áng qua Eo Rồng sang phía nam là Vũng Môn (ở làng Phác Môn), vũng này hẹp nhƣng nƣớc sâu và kín đáo nhƣ cái eo.
Độ sâu trung bình trong Vũng Áng là 8 sải nƣớc (trên 12m), rộng có thể chứa hàng chục tàu lớn cùng hàng trăm thuyền bè các loại, lại có núi cao che bao nên luôn luôn nƣớc yên sóng lặng. Khi ngoài khơi có bão tố, trong vũng cũng chỉ có gió nhẹ, vừa đủ làm cho sóng dập dềnh.
Do có nhiều thức ăn và gió đứng, Vũng Áng trở thành một ao cá mênh mông. Thêm vào đó Vũng Áng là một thắng cảnh với núi, với biển, phía ngoài là hòn Sơn Dƣơng, hòn Con Chim, phía trong là ngôi đền Ao Bạch - thờ bà Nguyễn Thị Bích Châu, cung phi vua Trần Duệ Tông, ở ngay cửa Vũng, và xa hơn, phía sau là đền Sát Hải, hang Hồ Hán Thƣơng, là giếng Êch, là di tích đồn trú xƣa (sách cổ chép hai đồn, vuông và tròn).
4.13. Đền Chế Thắng phu nhân (đền Bà Hải)
Đền Chế Thắng phu nhân ở làng Hải Khẩu, tổng Hoàng Lễ (nay là xã Kỳ Ninh) nên thƣờng gọi là đền Hải Khẩu (dân gian gọi là đền Bà Hải). Đền dựng khoảng cuối thế kỷ XV, thờ bà Nguyễn Thị Bích Châu, cung phi của vua Trần Duệ Tông (1337 - 1377).
Theo truyện “Đền thiêng ở cửa bể” (Hải Khẩu linh từ) trong sách “Truyền kỳ tân phả” của Đoàn Thị Điểm (1705-1748), thì nàng họ Nguyễn, tên là Bích Châu, quê ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định con gái đại thần Nguyễn Tƣớng Công, sinh vào khoảng năm Thiệu Phong thứ 15 (1356) dƣới thời Trần Dụ Tông. Bà sớm nổi tiếng thông tuệ, hiểu văn chƣơng, biết thi phú, thạo âm luật, lại có dung mạo xinh đẹp, nên rất nổi tiếng trong vùng. Năm Long Khánh thứ 1 (1373), bà đƣợc Trần Duệ Tông tuyển vào cung.
Nhân một vế đối của nàng - đối lại vế đối của vua - có chữ phù dung, vua đặt tên hiệu cho nàng là Phù Dung, và rất yêu quý. Thấy triều đình suy kém dần, nàng bèn dâng lên vua bài “Kê minh thập sách” (Mƣời kế sách khuyên vua chăm lo sửa sang việc nƣớc. Kê minh là gà gáy - một bài thơ Tề phong trong Kinh thi nói về chuyện bà phi khuyên vua dậy trƣớc lúc gà gáy để coi chầu sớm), nhƣng không đƣợc vua nghe theo... Khi Duệ Tông muốn cất quân đi đánh Chiêm Thành, nàng lại cùng Ngự sử Lê Tích hết sức can ngăn, vua vẫn không nghe. Nàng bèn xin theo hầu...
Quân Trần xuất binh cờ xí rợp trời, chiêng trống dậy đất, trùng trùng lớp lớp, binh sĩ gƣơm giáo sáng loáng, hùng khí chất ngất từng mây. Nhƣng khi đoàn thuyền chiến vừa đến cửa bể Kỳ Hoa (nay là Kỳ Lợi, Kỳ Anh, Hà Tĩnh) trời bỗng nổi cơn phong ba bão táp. Binh thuyền phải vất vả thƣơng tổn khá nhiều mới ràng nổi dây neo. Nhƣng cơn dông bão vẫn dai dẳng càng lúc càng dữ dội hơn. Nhà vua nhất quyết đợi tan cơn bão sẽ tiến binh tiếp.
Đêm ấy, vua Duệ Tông mộng thấy vị thần muốn xin vua ban cho một ngƣời thiếp, nếu đƣợc nhƣ ý nguyện, mới làm cho bể yên, sóng lặng. Vua sợ hãi, vội cho đòi các quan tƣớng và phi tần đến kể lại giấc mơ. Trong khi các quan tƣớng chƣa biết đối ứng thế nào, thì Bích Châu từ sau trƣớng bƣớc ra, nói: "Tiện thiếp tình nguyện liều tấm thân bèo bọt này để chu toàn cho đoàn ngự giá và quan quân". Rồi Bà thanh thản để thị nữ xông trầm, trang điểm, thoáng chốc, đã trâm thoa, xiêm gấm, hài thêu lộng lẫy bƣớc ra, đến sụp quỳ lạy nhà vua, cầu chúc nhà vua bình tĩnh và đại thắng, rồi quay về hƣớng Bắc lạy cha mẹ, vái chào tử biệt hàng quan quân, trang nghiêm đến ngồi vào lòng chiếc thuyền nhỏ cắm đại hoàng kỳ (cờ nhà vua). Thuyền đƣợc quan quân thòng dây thả xuống biển giữa những cơn sóng thần liên tiếp quật nƣớc lên cao. Vừa đụng nƣớc, chiếc thuyền lập tức quay vòng ngụp lặn với sóng cả rồi chìm mất hút...
Hai ngày sau bão mới ngớt, xác Bích Châu nổi trên mặt biển, vẫn uy nghi trong bộ triều phục, nhấp nhô theo làn sóng bạc trôi dần vào bờ, đƣợc dân làng vớt lên rƣớc đi an táng tại làng Kỳ Hoa. Lúc đó đoàn thuyền chiến của vua Trần Duệ Tông đã lƣớt tiến khá xa, chở đầy những bầu máu nóng lao vào trận tiền với quyết tâm diệt giặc giữ yên bờ cõi, đền bù tâm nguyện của phu nhân Bích Châu trƣớc giờ tử biệt. Thế nhƣng, vì Trần Duệ Tông không nghe lời can gián, vẫn cho quân tiến sâu vào đất Chiêm, nên bất ngờ bị trúng mƣu của Chế Bồng Nga, toàn quân tan rã.
Một thế kỷ sau. Năm Hồng Đức (1470), vua Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành, qua cửa biển Kỳ Hoa, tới chỗ bà Bích Châu đã trầm mình. Bà hiện lên báo mộng cho vua Lê và xin làm lễ giải thoát. Biết chuyện, hôm sau nhà vua viết một tờ hịch hạch tội quỷ thần, sai thả xuống biển. Truyền thuyết kể lập tức vị này bị chém chết, xác nổi lên mặt nƣớc. Để ghi nhận và ca ngợi công lao của bà, nhà vua đã làm bài thơ “Vịnh chế thắng phu nhân”.
Sau khi thắng trận trở về, vua hạ chiếu lập đền, cấp ruộng tế và ngƣời trông coi, sắc phong cho bà là Chế Thắng, nên đền đƣợc gọi là Chế Thắng Phu Nhân. Hàng năm, vào 12 tháng 2 âm lịch, nhân dân xã Kỳ Ninh và làng Hải Phong Kỳ Lợi tổ chức giỗ bà.
Đền Bà Hải đƣợc xây dựng trên bãi đất pha cát biển rộng khoảng 4.500m², quay về hƣớng Đông Nam. Bên phải là cửa Khẩu và núi Cao Vọng, bên trái là núi Ô Tôn, trƣớc mặt là bãi biển Vũng Áng, sau lƣng là núi Bàn Độ. Lúc đầu kết cấu đền chỉ có tiền miếu hậu lăng.
Năm 1471 trong lần đem quân đi đánh Chiêm Thành thứ hai giành chiến thắng trở về vua Lê Thánh Tông cho quân dừng lại nơi đây và sai ngƣời chặt gỗ, gọt đá xây dựng ba toà điện thờ bà và sắc phong cho bà là: "Chế Thắng phu nhân".
Kiến trúc khu đền ngày nay bao gồm hai khu vực: Khu công trình phụ gồm cổng phụ, đƣờng đi, cổng chính và nhà quan tả; Khu công trình chính gồm Hạ điện, Trung điện và Thƣợng điện nhà tiếp khách, nhà sắc và khu hành lang. Ba toà điện Hạ điện, Trung điện, Thƣợng điện và nhà dâng hƣơng là hệ thống nối liền khép kín với nhau kiến trúc theo kiểu chữ Công (工). Phía sau Thƣợng điện có mộ của Quý phi Nguyễn Thị Bích Châu.
Nhƣ vậy, có hai ngôi đền thờ bà Nguyễn Thị Bích Châu ở Kỳ Anh. Ngoài đền Bà Hải ở Kỳ Ninh thì đền Eo Bạch nằm dƣới chân núi Ô tôn, Vũng Áng với lịch sử tồn tại lâu đời, đã đƣợc công nhận di tích lịch sử cấp tỉnh năm 2005, nhân dân gọi là đền Thánh mẫu, xây trƣớc đền Bà Hải. (Theo lời truyền trong dân gian thì Eo Bạch là nơi thi thể nàng Bích Châu nổi lên và tấp vào bờ nên đƣợc ngƣời dân chôn cất và lập đền thờ, sau này mới lập đền thứ hai ở cửa Khẩu).
Đền “Chế Thắng phu nhân” ở Hải Khẩu là một di tích lịch sử - văn hóa quan trọng của Hà Tĩnh.
Lời bàn: Chính sử không thấy ghi chép nhiều về Nguyễn Thị Bích Châu, nên câu chuyện trên đây chỉ là một tác phẩm văn học dựa theo truyền thuyết dân gian. Nhƣng việc một cung phi của vua Trần Duệ Tông an táng ở cửa biển Kỳ Hoa có thể là hoàn toàn thật. Khi vua Lê Thánh Tông qua đây nghe kể chuyện Nàng Bích Châu, bèn sai lập đền thờ. Cũng có thể nhân dân đã lập đền thờ trƣớc, khi vua qua đây biết chuyện mới có sắc phong.
Nhƣng xung quanh những truyền thuyết về nàng Bích Châu, chúng tôi cho rằng bài viết dƣới đây thực tế mới là chính sử hơn cả:
Năm 1376, vua Trần Duệ Tông có ý định đem quân đi đánh giặc Chiêm Thành, nhiều ngƣời khuyên can, song vua không nghe. Lúc này, bà Nguyễn Thị Bích Châu bèn viết bài biểu dâng lên vua. Bài biểu viết: "Thiếp trộm nghĩ: Việc trị đạo trƣớc gốc sau ngọn, xin nghỉ binh cho dân chúng đƣợc yên lành, muốn trị kẻ rắn nên mềm dẻo thuyết phục, muốn quy phục ta cốt lấy đức. Vua đời Ngu chỉ múa nhạc mà 7 tuần giặc Hữu Mƣu phải hàng. Vua nhà Hạ chỉ gảy đàn mà chặn một tháng rợ Hồ quy phục, đó là thƣợng sách, xin bệ hạ xét đoán cho minh...". Bài biểu dâng lên nhƣng vua không chấp thuận.
Đến khi vua Trần Duệ Tông cất binh chinh phạt Chiêm Thành, cung phi Nguyễn Thị Bích Châu nài đi theo quân lính và đƣợc vua chuẩn y. Khi quan quân nhà Trần đến cửa Thị Nại (Quy Nhơn), vua Chiêm là Chế Bồng Nga cho sứ giả đem vàng ngọc tới quan quân ta để trá hàng, nhƣng sau đó lại bất ngờ tiến đánh vào lúc nửa đêm ngày 10-2-1377 Đinh Tỵ. Nguyễn Thị Bích Châu cƣỡi ngựa tả xung hữu đột, cầm quân xung trận để bảo vệ xa giá và bị trúng tên độc, bà từ trần vào giờ Tý ngày 12-2-1377. Ba ngày sau, vì bệnh nặng lại thƣơng tiếc quý phi, nhà vua phiền não nên cũng băng hà. Quân nhà Trần đƣa thi thể đức vua và quý phi rút về kinh, khi tới Châu Hoan gặp sóng to gió lớn phải ghé vào vũng Ô Tôn (cảng Vũng Áng ngày nay).
“Ngày 28 tháng Giêng năm Hồng Vũ thứ 10 [8/3/1377], Trần Đoan [vua Trần Duệ Tông] nƣớc An Nam mang binh giao tranh với Chiêm thành, bị đại bại tại đất Chiêm Thành. Đoan tử trận." Minh Thực Lục quan hệ Trung Quốc Việt Nam, tập 1, trang 153.
Lúc này, triều đình lập vua mới, vua Trần Phế Đế lên ngôi. Nhà vua lệnh cho quần thần rƣớc linh cữu vua Trần Duệ Tông về bằng đƣờng bộ, còn linh cữu của quý phi Bích Châu đi đƣờng biển bằng tàu. Hôm sau biển lặng, đoàn tàu nhổ neo tiến về Bắc, nhƣng mới tiến đƣợc 50 dặm lại bị gió bắc tràn về không thể đi đƣợc. Quan hƣớng đạo đành thu quân vào dựa tại Vũng Áng, thuộc Kỳ Hoa. Chờ lâu ngày biển vẫn không lặng, triều đình đành xuống chiếu cho quan quân an táng linh cữu và lập miếu thờ quý phi tại núi Ô Tôn, vùng Eo Bạch, huyện Kỳ Hoa, thuộc châu Hoan.
Năm 1470, trong một lần đem quân đi đánh Chiêm Thành, vua Lê Thánh Tông dừng chân hạ lệnh soạn đồ tế lễ, dâng hƣơng tại miếu thờ quý phi Nguyễn Thị Bích Châu. Đêm đó, vua có mộng lành, liền động binh xuất cờ tiến quân dẹp giặc. Chiến thắng trở về, vua trở lại nơi đây và sai quân lính vào rừng đốn gỗ lim, lên núi đào, gọt đá, huy động các thợ nề, mộc giỏi xây dựng lên ba tòa điện thờ và sắc phong cho bà là "Chế Thắng phu nhân" (nghĩa là: Ngƣời phụ nữ đã sắp đặt mƣu lược để thắng địch).
Đền Chế Thắng phu nhân từ đó đến nay được tu sửa ngày càng to đẹp. Trước là tòa hạ đƣờng nguy nga cổ kính, phía sau là tòa thƣợng đƣờng, hậu đƣờng... Trong đền có rất nhiều tự khí, hoành phi, đối liễn sơn son thiếp vàng... do các quan tỉnh, phủ , huyện, tổng, xã... cúng.
Đây là một một trong những câu đối:
- “Ngọc diện hội giang sơn, Trần chi hậu, Lê chi tiền, nhất phiến cƣơng thƣờng phù địa trục”
-“Băng tâm bang thủy quốc, tùng chi phong, mai chi tuyết, thiên thu khí cốc trấn thiên duy”
Nghĩa là:
Mặt ngọc hội non sông, sau Trần, trƣớc Lê, một mảnh cƣơng thƣờng nâng trục đất,
|
Lòng băng ngời biển cả, gió tùng, mai tuyết, nghìn thu khí cốt trấn ven trời” 4.14. Đền Thần Đầu Đền ở làng Thần Đầu, nay là xã Kỳ Phƣơng, nên sử sách thƣờng chép là “đền Thần Đầu”, còn dân gian thì quen gọi là “Đền hai quan trạng”. Thực ra ở Thần Đầu có ba ngôi đền khác nhau: “Lãm sơn tiên sinh từ” thờ Lê Quảng Chí (1451-1533), “Bảng quận công từ” thờ Lê Quảng Ý (1453-1526). Hai ngôi đền này do dân làng Thần Đầu lập sau khi hai ông mất. Xưa có câu đối ca ngợi: “Nhất môn khoa giáp nan huynh đệ Song miếu anh linh tự cổ kim” Dịch (Thái Kim Đỉnh): Khoa giáp một nhà ai bác, chú Anh linh hai miếu tự xƣa nay Về sau, xã Hoằng Lệ, tổng Hoằng Lệ (nay là hai xã Kỳ Nam, Kỳ Phƣơng), lập thêm ngôi đền thờ ở gần mộ hai ông, ven đƣờng quan lộ (nay là quốc lộ 1A) cạnh “cầu Thánh Trạng”. Đời Tự Đức, sứ Tàu là Lao Sùng Quang qua đây có đề hai câu thơ: “Thùy gia hảo huynh đệ, Song miếu uất tinh linh” Dịch (Đặng Chu): Anh em danh tiếng một nhà Tinh linh hai miếu sáng lòa nghìn thu Khoảng năm 1875, quân triều đình Huế ra dẹp cuộc khởi nghĩa của quân Cờ Vàng do Trần Quang Cán lãnh đạo đã đốt cháy ba ngôi đền này. Đến năm Tự Đức thứ 36 (1883) nhân dân mới xây dựng lại. Năm Tân Tỵ đời Bảo Đại (1941) làng Thần Đầu lại tu bổ thêm. Sau cách mạng các ngôi đền đều đã bị phá dỡ, đền Lãm sơn tiên sinh Lê Quảng Chí ở Kỳ Phương dùng làm nhà kho, bị hư hỏng nặng, các tự khí đều mất sạch, chỉ còn lại vài tấm màn, cửa võng và 16 đạo sắc phong. (13 của Lê Quảng Chí, 3 của Lê Quảng Ý). Đạo sớm nhất vào năm Dƣơng Hòa thứ 5 (1639), đạo muộn nhất vào năm Khải Định thứ 9 (1924). Đền thờ và mộ Lê Quảng Chí - Lê Quảng Ý, hiện nay thuộc TDP Hồng Sơn, phƣờng Kỳ Phƣơng, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Đền đƣợc Bộ Văn hóa ra quyết định công nhận, xếp hạng là di tích danh nhân Lịch sử - Văn hóa cấp quốc gia tại Quyết định số 51 QĐ/BT ngày 29/01/1996, và đang được tôn tạo lại. Đền thờ và mộ Lê Quảng Chí - Lê Quảng Ý đang được tôn tạo |
4.15. Đền thờ Lan quận công Lê Thát
Quê ở Hữu Lệ (Kỳ Phong ngày nay) sống vào thế kỷ 16
Là một võ tƣớng thời Lê-Trịnh, tham gia nhiều trận đánh với quân nhà Mạc có công trạng, đƣợc phong Lan quận công. Trƣớc Thọ Quận công Phạm Tiêm Lan Quận công Lê Thát là ngƣời quê hƣơng đƣợc Nhân dân thờ từ lâu đời. Đền thờ Ngài đã hƣ hỏng, nay mới đƣợc xây lại. Đã đƣợc Nhà nƣớc xếp hạng di tích LS – VH cấp tỉnh, theo Quyết đình số 4323/ QĐ-UBND ngày 24/10/2011.Thông tin về ngài còn lại rất ít. Chúng tôi tiếp tục sƣu tìm và bổ khuyết sau này nếu có.
Đền thờ Lan quân công Lê Thát - Di tích LSV
4.16. Đền Phạm trấn tướng Thọ quận công
Phạm Tiêm là một võ quan, sinh trƣởng trong dòng họ có nhiều ngƣời làm quan, nhƣ Tĩnh Quốc công Phạm Đốc (1514-1559), Hoa Quận công Phạm Trịnh, Khuê Quận công Phạm Đinh, Điện Quận công Phạm Hoành. Ông là con trai trƣởng của Thái úy Phạm Đốc (có tài liệu cho rằng Phạm Đốc là Thƣợng thƣ Bộ Binh, con nuôi Trịnh Kiểm. Là một danh tƣớng xếp 22/26 vị danh tƣớng kể từ thời Đinh Tiên Hoàng đến thời Gia Long) quê gốc ở xã Thần Khê, huyện Vĩnh Lại, phủ Ninh Nhân, (Hải Dƣơng) Khi làm trấn thủ Nghệ An đóng tại Dinh Cầu (có núi Yên Ngựa, xã Hà Trung, Kỳ Anh) quan trấn Phạm Tiêm lập ấp ở tổng Đậu Chữ (Đỗ Chữ), nay là đất Hƣng Nhân. Ông tổ chức nhân dân khai hoang tạo nên cánh đồng xứ Đồng Nại, đắp đê ngăn mặn lấp cửa Lỗ và làm hệ thống thủy lợi dƣới chân núi Cao Vọng. Ngoài việc chăm lo đời sống cho nhân dân, ông còn có công giúp nhà Lê chống lại nhà Mạc.
Để tƣởng nhớ công đức của ông, sau khi ông mất dân làng đã lập đền thờ ngay trên mảnh đất ông sinh sống. Ông trở thành Thủy tổ dòng họ Phạm ở đây và đền thờ còn đƣợc gọi là đền Thánh Tổ (Thánh Tổ từ). Hiện đền thờ trong khuôn viên rộng rãi đƣợc cây cối bao bọc bốn phía, nằm trên vùng bán sơn địa đất đỏ bazan. Khu di tích có nơi thờ chƣ vị bách thần, nhà bái đƣờng, thƣợng điện và không xa ở phía đông là phần mộ của ông.
Trải qua thời gian và thăng trầm lịch sử, đền bị tàn phá nhiều lần cả do chiến tranh cũng nhƣ do ý thức của con ngƣời, có lúc gần nhƣ phế tích. Hiện ngôi đền khá khiêm tốn so với trƣớc nhƣng cũng là di tích hiếm hoi trong vùng còn sót lại. Đền còn giữ đƣợc các tài liệu hiện vật gốc có giá trị lịch sử nhƣ đại tự, hoành phi, câu đối,… và đặc biệt là các sắc phong của các triều vua Cảnh Hƣng, Tự Đức, Minh Mệnh, Thiệu Trị, Thành Thái, Đồng Khánh.
Trƣớc cổng đền có khắc hai câu đối:
Lê triều bút tích kim do tại
Phạm tính công danh cổ thƣợng tồn.
Tạm dịch:
Bút tích triều Lê nay vẫn đó
Công lao họ Phạm mãi trƣờng tồn.
Hàng năm ở đền có lễ giỗ Thánh tổ vào ngày 12 tháng Mƣời âm lịch.
4.17. Đền Thánh Tiên (đền Chào)
Phạm Hoành là con trai của Khuê quận công Phạm Định, cháu 4 đời của Thọ quận công Phạm Tiêm. Gia đình ông có bốn anh em, Phạm Hoành là con trai cả. Vốn xuất thân từ gia đình dòng võ tộc, có nhiều ngƣời học hành đỗ đạt làm quan nên từ nhỏ ông đã tỏ ra là một ngƣời thông minh, ham luyện cung tên, võ nghệ. Lớn lên trong hoàn cảnh đất nƣớc bị loạn giặc, với tài sử dụng binh khí, võ nghệ điêu luyện, ông đã trở thành một vị tƣớng lĩnh trung thành, giúp triều đình nhà Lê dẹp Mạc.
Trong trận chiến với nhà Mạc ở Hoan Châu (Nghệ An), sau khi giao tranh ông đang truy kích bị địch đánh tập hậu, ông bị thƣơng, sau trận này ông đã về quê điều trị rồi từ trần vào mùa xuân năm Quý Tỵ (1593) vào ngày mồng 6 tháng Giêng.
Tƣơng truyền, lúc làm trấn thủ Nghệ An, ông đóng quân ở Đá Bạc, ra trận bị chém đứt đầu, phi ngựa về đến làng Sơn triều thì ngã xuống. Dân làng Sơn Triều và làng Hƣng Nhân cùng lập đền thờ ông ở dƣới động Chào (nay là xã Kỳ Thọ), thƣờng gọi là đền Chào hay “đền Thánh Tiên”. Trong đền nghe nói từng có bức tƣợng bằng đồng đen, hàng năm ở đây có lễ giỗ Thánh Tiên vào ngày 6 tháng giêng âm lịch.
Đền Thánh Tiên-đền Chào-xƣa đứng bên đƣờng quan lộ-quốc lộ 1A - cảnh rất đẹp. Ngô Thì Nhậm (1746 - 1803) trong bài “Dinh Cẩu hữu cảm” có câu nói về cảnh đền này:
“Tế liễu lục thùy tiên thánh miếu” (Cây liễu buông mành biếc trƣớc miếu Tiên Thánh)
Đền Phạm Hoành ở Sơn Triều đã bị đổ nát, nay đang đƣợc phục hồi tu sửa. Còn đền Phạm Tiêm ở Hƣng Nhân cũng hƣ hỏng đã đƣợc tu sửa lại.
Đền Thánh Tiên-đền Chào
4.18. Đền thờ Liễu Hạnh công chúa
Ở dưới chân Đèo Ngang thuộc địa phận xã Kỳ Nam có một ngôi miếu nhỏ thờ Liễu Hạnh công chúa.
Miếu này gắn với một truyền thuyết về bà chúa Liễu:
“Liễu Hạnh là con gái Ngọc Hoàng, tính tình phóng túng, không chịu theo khuôn phép nhà trời. Ngọc Hoàng phạt đày nàng xuống trần 3 năm. Liễu Hạnh hóa thân thành cô gái đẹp cùng vài nữ tỳ dựng quán hàng ở chân Đèo Ngang, bên đƣờng Thiên Lý. Ngày nào quán cũng đông khách. Bất cứ ai lên xuống đèo đều phải ghé lại quán duy nhất ven đƣờng rừng có cô chủ quán xinh đẹp. Nhƣng hễ ai vào nghỉ ngơi, ăn bánh, uống nƣớc rồi tiếp tục lên đƣờng thì không sao, còn ai giở trò cợt nhả, làm điều bất chính, thì khi trở về không lăn ra chết thì cũng điên dại... Tiếng đồn về cô chủ quán Đèo Ngang lan ra đến đất Thăng Long. Một hoàng tử con vua Lê Thái Tông ham mê sắc dục, liền cùng một số kẻ hầu hạ, cải trang vào tận nơi để thỏa mãn tính hiếu kỳ... Liễu Hạnh đã biết trƣớc chuyện này, hóa phép thành cây đào tiên ven đƣờng, chỉ có một quả chín mọng. Hoàng tử hái định ăn thì quả đào nhỏ dần rồi biến mất. Chàng hoàng tử trẻ không hiểu Liễu Hạnh cảnh cáo mình, nên vào quán, nấn ná tới chiều rồi xin nghỉ lại... Đêm đến, cô chủ quán vẫn ngồi nói chuyện với hoàng tử đến khuya. Chàng liền buông lời chọc giẹo... bị cô từ chối bỏ vào nhà trong. Chàng theo vào thì không thấy cô chủ đâu mà lại thấy một cô gái đẹp khác. Chàng vừa đụng đến cô ta thì hóa ra đó là một con khỉ cái già. Chàng ta hoảng quá, hú lên. Bọn lính hầu ở ngoài sân nghe, xông vào, con khỉ già lại hóa thành con rắn mang hoa, bò qua ngƣời hoàng tử rồi leo lên xà nhà, miệng phun lửa phì phì... Hoàng tử đƣợc cấp tốc đƣa về Thăng Long và trở nên điên dại. Các thầy thuốc đều bó tay. Cuối cùng nhà vua hỏi ra ngọn ngành và có ngƣời mách cho, đành sai ngƣời vào Thanh nhờ tám vị Kim Cƣơng đến Đèo Ngang trị con chủ quán yêu quái... Tám vị Kim Cƣơng-bộ hạ của Phật bà-đánh nhau với Liễu Hạnh ba ngày ba đêm liền, rừng núi Đèo Ngang biến thành bãi chiến trƣờng tan hoang. Tám vị Kim Cƣơng không thắng nổi Liễu Hạnh đành nhờ Phật bà giúp đỡ mới bắt đƣợc Liễu Hạnh đƣa về kinh... Liễu Hạnh xƣng mình là con Trời và việc nàng trừng trị bọn đàn ông xấu, thƣờng chọc ghẹo con gái là hợp phép nƣớc. Nhà vua nghe xong, đổi giận làm lành, thả nàng về núi, khuyên không nên làm hại dân lành.
Ít lâu sau, công chúa Liễu hạnh sinh một con trai, mỗi bàn tay đều có 6 ngón. Lúc ấy cũng là lúc hết hạn đi đày, nàng đem con gửi cho một vị sƣ trên núi Ngàn Hống nhờ nuôi hộ và giúp con mình về sau đƣợc lừng danh, rồi về trời...”*
Về sau, nhân dân địa phƣơng lập miếu thờ Liễu Hạnh công chúa trên vùng đất tƣơng truyền là chợ Ba Đồng, nơi công chúa Liễu Hạnh mở quán ngày xƣa. Dân gian hay gọi là “quán bà chúa Liễu” hay “Miếu bà chúa sơn”. Ngôi miếu nhỏ này hiện vẫn còn gần dƣới chân Đèo Ngang. Trong miếu có 3 pho tƣợng (Tam tòa thánh mẫu) và câu đối:
“Lục quý linh thông thần tự tại
Tam thừa diệu ứng Phật nhƣ lai”**
Chú:
* Theo lời kể của ngƣời Hà Tĩnh và sách của Lăng-đờ (Truyện Kể và truyện cổ tích An Nam)
4.19. Chùa Phúc Toàn (Chùa Dền)
Chùa Phúc Toàn (Phúc Toàn tự) thƣờng gọi là chùa Dền, là chùa ở làng Hiệu Thuận, nay thuộc xã Kỳ Châu, gần huyện thành Kỳ Anh xƣa.*
Theo một tài liệu của thủ chỉ làng Hiệu Thuận, Lê Xuân Tiu, ghi lại thì vào cuối đời Lê, có ngƣời đàng trong (Quảng Trị hay Thừa Thiên) tên Thái Nhƣ Nguyện ra buôn bán, làm ăn ở thôn Vạn Cảnh và lấy vợ ở đây. Nhƣng ông bà không có con, ông bèn bàn với các ngƣời già ở địa phƣơng quên góp lập nên ngôi chùa nhỏ. Trong chùa có 2 bức tƣợng Phật bằng sứ, mãi về sau mới có mấy bức tƣợng Phật “Tam thế” son son thiếp vàng.
Năm Nhâm Tuất đời Gia Long (1802) Vạn Cảnh đổi tên là Hiệu Thuận, chùa đƣợc trùng tu, có 2 ngôi nhà nhỏ, tự khí đƣợc mua sắm thêm, số tƣợng Phật cũng nhiều thêm, có 14 pho.
Đến năm Tân Tỵ, đời Bảo Đại (1941), làng Hiệu Thuận làm thêm ngôi hạ đƣờng 4 gian, cũng cột lim, mái ngói. Trong chùa, ngoài tự khí có tới gần 50 pho tƣợng. Ở hạ đƣờng có treo tấm biển gỗ khắc ba chữ “Phúc Toàn tự”**
Ngày nay chùa vẫn giữ đƣợc gần nguyên trạng, nhƣng cả ba ngôi nhà đều hƣ hỏng ít nhiều. Trong chùa còn có một cỗ kiệu và đôi liễn ở miếu Tiên Thánh (thờ Phạm Hoành ở đền Chào) đƣa về hợp tự ở đây.
Ghi chú:
* Chùa Phúc Toàn không phải là chùa lớn hay có tiếng nhƣ các chùa Bàn Độ, Phú Dẫn, Lý Nhân..., nhƣng hiện nay chùa này còn tƣơng đối nguyên vẹn, trừ cảnh quan bị hƣ hỏng nhiều.
** Trên tấm biển đại tự này, chữ “Phúc”, đứng bên tay phải, chữ “Toàn” bên tay trái, và chữ “Tự” ở giữa, nên có tài liệu chép sai thành “Phúc Tự Toàn”. Chúng tôi nghĩ tên chùa phải là: “Toàn Phúc Tự”
Chùa Phúc Toàn (chùa Dền)
4.20. Lũy cũ Lâm Ấp
“Thạch thành Lâm Ấp trúc – thành đá ngƣời Lâm Ấp xây” (thơ Bùi Dƣơng Lịch) là dãy lũy trên núi Hoành Sơn nằm giữa hai tỉnh Hà Tĩnh - Quảng Bình. Một số sách chép rằng lũy này do chúa Lâm Ấp (Chiêm Thành) là Phạm Văn (345 - 375) khởi công xây dựng để bảo vệ biên giới phía bắc. Lũy bắt đầu từ địa phận làng Ngƣu Sơn, tổng Hoàng Lễ (nay là các xã Kỳ Nam, Kỳ Phƣơng) kéo lên đến các làng Xuân Quan, Xuân Sơn, tổng Vọng Liệu (Kỳ Lạc) dài khoảng 30km.
Sách “Địa dƣ tỉnh Hà Tĩnh” của đốc học Trần Kinh xuất bản năm 1939 mô tả: „... lũy đoạn thì đắp dọc theo chân núi, đoạn thì băng qua những hòn đơn, đoạn thì thẳng đoạn thì cong... Hiện nay còn thấy rải rác mỗi nơi một đoạn, có đoạn dài 4-5 km, có đoạn vài ba chục thƣớc, đoạn thì bằng đá, đoạn thì bằng đất. Những đoạn bằng đá thấy còn hình dáng rõ ràng, bề cao chừng 1,5m, bề dày hơn 1m. Những đoạn bằng đất thì đã vở lở phần nhiều, không còn mấy nơi nguyên vẹn...”.
Theo khảo sát thực địa năm 1965 thì ở phía đông có nhiều đoạn lũy đá cao tới 3-4 m, và rộng hơn 1m, có chỗ cây lớn mọc trên lũy vẫn đứng vững.
Điểm chót của dãy lũy là ở làng Xuân Sơn (Kỳ Lạc). Ở đây đời Lê có đồn thống lĩnh, chƣa biết đặt từ bao giờ, đời Lê vẫn là thành đá, đến đời Nguyễn, đời Minh Mạng thứ 13 (1832) đắp bằng đất, đặt quân đồn trú.
4.21. Di tích trấn lỵ Dinh Cầu
Đƣợc lập vào năm 1631 bởi Tây quận công Trịnh Tạc thời Lê - Trịnh và bị đốt cháy vào năm 1768 bởi trấn thủ Bùi Thế Toại cuối thời Lê - Trịnh.
Trấn lỵ Dinh Cầu đặt trên ngọn đồi của thôn Biểu Duệ, nay thƣờng gọi là “Cụp Cồn Chòi” xóm Văn Miếu, xã Kỳ Tân. Dinh trấn thủ, cũng là quân dinh, đóng chính giữa (có thể vào khoảng vị trí trƣờng THCS Kỳ Tân hiện nay), nay không còn dấu vết gì. Mé đông, trƣớc dinh có “Cồn Chòi” (cũng gọi là cột cờ) là một mô đất cao chừng 4-5m, rộng khoảng 1 sào Trung bộ, gần đây vẫn còn, nay bị địa phƣơng đào lấy đất, san bằng để sản xuất. Dƣới chân đồi có hồ Chèo, thông với khe Lau, nay cũng bị lấp một phần, còn lại biến thành ruộng lúa, có chiều dài khoảng 600m. Hồ này xƣa là nơi cung cấp nƣớc cho trấn thành. Tƣơng truyền mé tây là kho dầu, mé bắc là kho thuốc, một vòng lũy đất, đá xây quanh dƣới chân đồi, bao cả hồ Chèo, nay còn dấu vết ở một số đoạn, không còn thấy dấu tích của các cổng thành.
Phía đông bắc “Cụp Cồn Chòi” có ngọn đồi, trƣớc gọi là xóm Tả Trấn. Đây chính là đồn của cơ Tả Trấn. Đối diện đồn Tả Trấn, ở phía đông nam thành, gần hồ Mạ, mé quốc lộ 1A bây giờ là đồn cơ Hữu Trấn. Xa hơn, ở phía tây bắc thành, trên cụp Nhà Cao (nay là xóm Tả Ninh, xã Kỳ Văn) là đồn trại của cơ Tả Ninh, ở đây còn nền cột cờ cao chừng 3m, gần đó có 2 cái hố gọi là “đấu lƣờng quân”, có giếng Tả Ninh, hồ Rèn, hồ Chùa. Bên cạnh cơ Tả Ninh là cơ Hữu Ninh mà đồn sở nay thuộc địa phận xã Kỳ Tân.
Phía bắc dinh Trấn thủ nay còn có nơi gọi là “kho súng” và phía nam có vùng đồi cỏ gọi là “tùng ngựa”, tƣơng truyền là trại nuôi ngựa. Ở xã Kỳ Hoa lại có vùng đất gọi là “cửa kho” và có dấu vết nhà cửa. Có thể đây là kho lƣơng vùng nam trấn Nghệ An nhƣ có một số sách cổ có nói đến.
Dọc phía tây Trấn dinh, từ Kỳ Hoa qua Kỳ Tân đến Kỳ Văn còn dấu vết nhiều đoạn lũy, nhân dân gọi là “lũy ông Ninh”. Cách Trấn thành không xa còn có hai cồn “hỏa hiệu”, một ở làng Huy Lôi dƣới chân núi Yên Ngựa,(nay thuộc xã Kỳ Tân), một ở làng Lạc Dị (nay thuộc Kỳ Trinh). Ở cửa Khẩu, tại thôn Tả Hãn (Kỳ Hải) xƣa là nơi đóng quân của đội giã (thủy quân) Tả hãn.
4.22. Trại Tuần Tượng
Trại Tuần Tƣợng, dân quen gọi theo tên Nôm là trại Voi hay xứ Voi, thời cuối Lê, đầu Nguyễn là xã Cấp Dẫn, tổng Cấp Dẫn, trƣớc cách mạng (1945) là các làng Hữu Lạc, Phƣơng Giai, Tuần Tƣợng, Hữu Lệ, Sơn Kinh. Sau năm 1945 là xã Cấp Đình, khoảng 1950-1952 là xã Kỳ Nam, từ 1954 lại nay là hai xã Kỳ Bắc và Kỳ Phong.
Đất Hà Hoa xƣa kia vốn nhiều voi. Từ đời Lê triều đình đã cho lập trại nuôi voi, luyện voi chiến, voi tải...
Trong cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn (1627 - 1672) và cả về sau, trại Tuần Tƣợng không chỉ là nơi luyện voi mà còn là căn cứ hậu cần quan trọng của trấn lỵ Dinh Cầu.
Đời Tây Sơn, vua Quang Trung sai viên tƣớng tâm phúc là Nguyễn Tiến Thiệu đóng quân tại Kỳ Hoa, chuyên việc luyện voi. Trong đoàn quân của Nguyễn Huệ ra Bắc tiêu diệt quân Thanh mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789) có những đội tƣợng binh đƣợc huấn luyện tại trại voi này.
Đời Nguyễn, trại voi này mới bãi bỏ. Nhƣng đội tƣợng binh trấn Nghệ An gồm 21 thớt voi, chủ yếu là voi rừng ở Kỳ Hoa. Trên đƣờng Thiên lý Bắc - Nam, ở trại voi có dịch trạm, đóng ở làng Hữu Lạc, gọi là trạm Tĩnh Lạc, thƣờng gọi là trạm Voi.
Quán Voi là nơi nổi danh với bánh tày Voi, gói bằng nếp rồng ở địa phƣơng.
4.23. Di tích huyện thành Kỳ Anh
Huyện thành Kỳ Anh, đời đầu Nguyễn là phủ thành Kỳ Hoa (từ 1841 là phủ Hà Thanh), đặt tại làng Nhân Canh, sau cách mạng (1945) là xã Kỳ Châu, nay thuộc thị trấn Kỳ Anh.
Đầu đời Gia Long (khoảng 1802 - 1805) thành bắt đầu đắp bằng đất, đến năm Minh Mạng thứ tƣ (1823) đƣợc xây bằng đá ong. Thành hình vuông, có 4 góc lồi kiểu vô-băng (vauban), chu vi 167 trƣợng (668m), dày 2 thƣớc 1 tấc (0,84m), cao 7 thƣớc 3 tấc (2,92m), có 3 cửa tiền (hƣớng nam), tả, hữu. Quanh thành có hào rộng 1 trƣợng 6 thƣớc (6,4m), sau 4 thƣớc 5 tấc (1,8m).
Phía nam thành, đối diện với mặt tiền, xƣa kia là trƣờng học (Hán học) phủ Hà Hoa, xây dựng năm Minh Mạnh thứ 10 (1830), từ năm Tự Đức thứ 6 (1854) đổi là trƣờng huyện Kỳ Anh và sau năm 1920 thì bị bãi bỏ.
Trong thành, con đƣờng thẳng nối cửa tả và cửa hữu cắt ngang, chia thành hai khu. Khu phía trƣớc, chính giữa, thẳng từ cửa tiền vào là công đƣờng, sau công đƣờng là tƣ thất, bên trái công đƣờng có ngôi miếu nhỏ, thƣờng gọi là đền Nha, bên phải là trại lính lệ và trại giam, trƣớc mặt trại này là trƣờng tiểu học Pháp-Việt. Khu phía sau là trại lính... Chợ họp trƣớc thành, nay là xóm Chợ Huyện. Thành Kỳ Anh đã bị phá trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp.
4.24 Đền Phƣơng Giai
Đền ở làng Phƣơng Giai, tổng Cấp Dẫn, nay là xã Kỳ Bắc, có ba tòa thƣợng, trung, hạ đƣờng xếp theo hình chữ “tam” xây trên khu vƣờn rộng khoảng 1 mẫu rƣỡi, xung quanh cây cối xanh tốt. Đền Phƣơng Giai thờ ông Dƣơng Trí Tri (có sách chép Phùng Trí Tri), ngƣời xã Duy Liệt, sau là Liệt Thƣợng (nay là xã Kỳ Phú). Ông đỗ Nhị giáp tiến sĩ (Hoàng giáp) khoa Đinh Mùi niên hiệu Vĩnh Định đời Mạc Phúc Nguyên (1547), làm quan đến chức Hàn lâm, thƣờng gọi “Quan Hoàng Liệt Thƣợng”.
Ở địa phƣơng có giai thoại: Sau khi ông đỗ, vua gả công chúa, ông không chịu lấy, nên vua bắt phải tự sát. Chuyện ấy chắc là những ngƣời nhà Lê bịa ra để nói xấu nhà Mạc, vì Đăng khoa lục chép là ông làm quan nhà Mạc đến chức Hàn lâm.
Sau khi ông mất, dân làng Phƣơng Giai và một số làng khác dựng đền thờ. Tƣơng truyền “Quan Hoàng” rất giỏi thuốc, ai đau ốm đến cầu Thần xin thuốc đều lành bệnh. Có lần, trong vùng có dịch đậu mùa, Thần cho thuốc chữa, nên không có ai chết… Về sau, dân trong vùng không nhớ tên Thần là gì, chỉ biết đền Phương Giai thờ ông thầy thuốc”.
Đầu thế kỷ XX các đảng viên Tân Việt và Cộng sản đều lấy đền Phƣơng Giai làm nơi lui tới, gặp gỡ, bàn bạc công việc. Trong hai ngày 4 và 5 tháng 6 năm 1930, đền Phƣơng Giai là nơi đƣợc chọn làm địa điểm họp Hội nghị thành lập Đảng bộ Đảng cộng sản huyện Kỳ Anh, bầu Ban huyện uỷ 7 ngƣời, do ông Nguyễn Tiến Liên làm Bí thư (Theo “Lịch sử Đảng bộ huyện Kỳ Anh ” XB. 6/2003). Năm 1994, đƣợc Bộ Văn hóa – Thông tin cấp bằng di tích Lịch sử - Văn hóa cấp Quốc gia.
Đền Phương Giai
4.25. Chùa Hữu Lạc Chùa Hữu Lạc tọa lạc ở cồn Bình Xuyên, làng Hữu Lạc, nay là thôn Bắc Tiến, xã Kỳ Bắc, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Kỳ Bắc có truyền thống văn hóa từ lâu đời; từ xƣa đến nay, xã là địa điểm sinh hoạt văn hóa của trò kiều, tuồng, hát sắc bùa, dân ca, ví đối đáp. Xã là nơi ra đời chi bộ Đảng đầu tiên của huyện Kỳ Anh.
Chùa chiền đƣợc thành lập ở đây cuối thời Lê, đầu thời Nguyễn.
Chùa Hữu Lạc là địa điểm sinh hoạt văn hóa tâm linh gắn liền với lịch sử địa phƣơng. Làng Hữu Lạc cùng với các làng xung quanh lập nên xứ Voi hình thành từ lâu đời. Trong thời kỳ phong kiến có trạm Tĩnh Lạc, nơi nghỉ chân của các vị quan lại và nhân dân trên đƣờng thiên lý Bắc – Nam và trại huấn luyện voi chiến Tuần Tƣợng. Cƣ dân làng Hữu Lạc đông đúc vì đất đai màu mỡ và đƣờng sá đi lại thuận tiện. Hữu Lạc có chợ Voi sầm uất, nơi giao thƣơng của nhân dân trong vùng.
Chợ Voi gạo trắng nƣớc trong Ai về voi chợ thong dong con ngƣời
Vào thời kỳ hoạt động bí mật của Đảng, làng Hữu Lạc là trung tâm giao lƣu của các xã phía nam Cẩm Xuyên và bắc Kỳ Anh. Các đảng viên cộng sản ở Cẩm Xuyên thƣờng bí mật vào Voi để xây dựng phong trào kết nạp đảng viên mới và kêu gọi quần chúng đấu tranh. Chùa Hữu Lạc âm u, yên tĩnh, nơi các đồng chí lợi dụng lễ chùa để bàn kế hoạch hoạt động. Chùa Hữu Lạc đã trở thành nơi họp đảng viên. Tại chùa Hữu Lạc có cơ sở in với các bàn in bằng đá in các tài liệu bí mật của Đảng. Từ những cuộc họp bí mật ở chùa Hữu Lạc, phong trào của Đảng đƣợc củng cố và phát triển để đến năm 1930 mới có hội nghị thành lập Đảng bộ huyện Kỳ Anh tại đền Phƣơng Giai.
Khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, chính quyền còn non trẻ, đời sống nhân dân còn khó khăn, lực lƣợng du kích đầu tiên ở Kỳ Anh thành lập để bảo vệ chính quyền và tham gia kháng chiến. Lực lƣợng vũ trang đầu tiên của Kỳ Anh do ông Nguyễn Tiến Chƣơng phụ trách, đƣợc tổ chức huấn luyện ở chùa Hữu Lạc nhằm giúp anh em chiến sĩ nắm đƣợc kỹ thuật, chiến thuật, đƣờng lối quân sự của Đảng. Nhờ vậy, lực lƣợng này đã góp phần giữ vững an ninh, chính trị, tham gia kháng chiến. Phong trào bình dân học vụ phát triển, chùa Hữu Lạc đƣợc dùng làm lớp học, thu hút nhiều tầng lớp: già, trẻ, trai, gái đến tham gia xóa mù chữ.
20 năm kháng chiến chống Mỹ, vùng Voi là trọng điểm đánh phá ác liệt của máy bay, tàu chiến Mỹ. Vùng Voi, Kỳ Xuân, Kỳ Bắc là điểm quan trọng của tuyến đƣờng Quốc lộ 1A nên ngày nào cũng có bộ đội hành quân, xe đạn, xăng dầu, lƣơng thực, đạn dƣợc đƣợc trung chuyển qua đây phục vụ miền Nam chiến đấu. Chùa Hữu Lạc cũng là nơi tập kết, nghỉ chân của đồng bào Vĩnh Linh, Quảng Trị sơ tán ra Bắc trong thời kỳ chiến tranh ác liệt (1966 - 1968).
Chùa Hữu Lạc ngoảnh mặt về hƣớng Nam, mát mẻ về mùa hạ, ấm áp về mùa đông. Phía sau tựa lƣng vào dãy núi Kỳ Đầu (núi Bằng Sƣ). Trƣớc mặt là khe Thăng Làn (Thặng Lặng) uốn lƣợn, nƣớc trong xanh và dãy Cồn Đá làm tiền án. Núi Voi (Ngọc Thạch) chầu về phía bên phải, núi Hƣơng chầu về phía bên trái, trông rất đẹp và uy nghiêm.
Chùa Hữu Lạc nằm trong quần thể di tích lịch sử - văn hóa làng Hữu Lạc xƣa: Miếu thờ thần Nông, điện thờ Thánh Mẫu, chùa Hữu Lạc. So với chùa Yên Lạc ở xã Cẩm Nhƣợng – Cẩm Xuyên, chùa Dền ở xã Kỳ Châu – Kỳ Anh thì chùa Hữu Lạc cùng thời.
Xƣa kia, chùa Hữu Lạc kết cấu theo lối chữ Nhị (二). Ngoài cổng tam quan đi vào là bệ đặt tƣợng Phật, nhà chờ đón khách 3 gian, nhà giữa có 3 gian bằng gỗ lim 4 vì, 8 cột, mái lợp ngói âm dƣơng dùng tổ chức lễ và thƣợng điện đặt các tƣợng đúng quy định của nhà Phật. Hai bên thƣợng điện là tả vu, hữu vu đặt các pho tƣợng nhỏ. Phía hai bên nhà trung điện có miếu thờ cúng cô hồn và miếu ghi công thờ ngƣời có công góp tiền lập chùa. Tòa thƣợng điện bố trí theo chiều dọc, toàn bộ đều đƣợc làm bằng đá núi. Từ ngoài nhìn vào, phía trƣớc chùa là bàn thờ ngoài trời đƣợc chia làm 2 cấp. Mặt tiền thƣợng điện trổ 3 cửa vào, phía trên gắn 3 chữ Hán: 有樂寺 (Hữu Lạc tự) bằng mảnh gốm theo phong cách thời Nguyễn. Nằm xen kẽ ở giữa các cửa là cột quyết giả đƣợc tạo bằng cách đắp gờ trang trí, phía trên chạm các đôi câu đối nhƣ sau:
Nguyên văn:
誠心香燈洳德佛 泈道奉事得平安
Phiên âm:
Thành tâm hƣơng đăng nhờ đức Phật Trọn đạo phụng sự đắc bình an
Tạm dịch:
Thành tâm dâng hƣơng nhờ đức Phật Trọng đạo thờ phụng sẽ bình yên
Nguyên văn:
灵清彰日月 殿廟壽山河
Phiên âm:
Linh thanh chƣơng nhật nguyệt Điện miếu thọ sơn hà
Tạm dịch:
Khí tinh anh sáng tỏ chùng nhật nguyệt Đền miếu trƣờng tồn với núi sông.
Thƣợng điện cao 3,90m, đƣợc bít đốc 2 đầu với 12 cột bê tông. Các đốc đƣợc xây dày 0,35m, tƣờng bao dày 0,30m. Vì kết cấu kiểu vì kèo.
Nội thất chùa chủ yếu đƣợc bố trí ở 3 gian trong cùng, gian ngoài dùng để hành lễ. Ở không gian đƣợc giới hạn bởi 2 hàng cột cái 3 gian trong cùng, ngƣời ta xây bàn thờ theo kiểu hƣơng án, chia thành nhiều cấp bậc cao dần. Bậc cao nhất đặt bộ tƣợng tam thế, tiếp đó đặt 6 tƣợng còn lại và các đồ tế khí khác.
Với những giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học nhƣ trên, chùa Hữu Lạc đã đƣợc UBND tỉnh Hà Tĩnh công nhận là di tích lich sử - văn hóa cấp tỉnh tại Quyết định số 2648/QĐ-UBND ngày 13 tháng 11 năm 2006.
Chùa Hữu Lạc
Chương 2 Kỳ Anh trong dòng chảy lịch sừ dân tộc
Trải 4000 năm tay chống trời, tay giữ nƣớc, lịch sử dân tộc Việt là lịch sử đầy đau thƣơng và nƣớc mắt, vinh quang và cay đắng gắn liền với những chiến công hiển hách, phi thƣờng. Mảnh đất Kỳ Anh nhỏ bé cũng không nằm ngoài dòng chảy đó của lịch sử dân tộc.
1. Sự phân chia địa giới và tên gọi qua các thời kỳ
Vùng đất Kỳ Anh ngày nay, từ khi lập quốc đã là mảnh đất cực nam của bộ Cữu Đức, một trong 15 bộ của nhà nƣớc cổ Văn Lang.
Trải bao biến động theo thời gian, mỗi triều đại thay đổi là kéo theo những thay đổi tên gọi khác nhau, kể cả tên làng, tên xã cho đến tên nƣớc, đó chính là sự thiếu thống nhất, gây ra nhiều hệ lụy cho các nhà viết sử và nghiên cứu lịch sử.
- Đời Tần, đây là đất Tƣợng quận.
- Thời thuộc bắc, đời Triệu (179 - 111 trƣớc CN) là đất Cửu Chân,
- Từ đời Hán (111 TCN - 226) thuộc huyện Hàm Hoan, quận Cửu Chân.
- Từ đời Ngô, tiền Ngụy đến Tần, Tống, Tề (226 - 502) thuộc quận Cửu Đức,
- Đời Lương (502 - 542) đổi Cửu Đức thành Đức Châu.
- Nhà Tiền Lý (Lý Nam Đế) dựng nƣớc Vạn Xuân tự chủ (542 - 603) vùng đất này vẫn thuộc Đức Châu.
- Năm 598 nhà Tùy chƣa đặt đƣợc cuộc đô hộ, vẫn đổi Đức Châu thành Hoan Châu, rồi sau khi diệt đƣợc nƣớc Vạn Xuân (603) lại đổi Hoan Châu thành Nhật Nam.
- Nhà Đƣờng đổi Nhật Nam thành Nam Đức (618), đổi Nam Đức thành Đức Châu (628), lại đổi Đức Châu thành Hoan Châu (672), rồi cắt phần nam Hoan Châu lập châu ki mi Phúc Lộc (679)…
Như vậy, vùng đất Kỳ Anh xưa lần lượt thuộc Đức Châu, Hoan Châu, Nhật Nam, Nam Đức, rồi lại Đức Châu, Hoan Châu, Phúc Lộc, và có thể có nhiều thay đổi nữa nhưng chưa tìm được tài liệu ghi chép đáng tin cậy.
Từ khi dựng nƣớc (khoảng 137 - 138) ngƣời Lâm Ấp (sau đổi thành Hoàn Vƣơng - Chiêm Thành - Chăm Pa) thƣờng đem quân ra cƣớp của, bắt ngƣời ở vùng bắc Hoành Sơn.
Năm 803 quân Hoàn Vƣơng tràn sang đánh đuổi quân đô hộ nhà Đƣờng, chiếm hai châu Hoan, Ái (Nghệ Tĩnh, Thanh Hóa). Đến năm 808, tƣớng nhà Đƣờng là Trƣơng Chu sang cai trị Giao Châu, mới đẩy quân Hoàn Vƣơng lùi sâu vào vùng Nam - Ngãi bây giờ.
Một thế kỷ sau (khoảng 907 - 910) ngƣời Chiêm Thành lại lấn sang, chiếm vùng đất từ Hoành Sơn đến Nam Giới (Thạch Hà), đặt quan cai trị ngót 70 năm, cho đến năm 981, vua Đại Hành (Lê Hoàn) đƣa quân vào đánh đuổi người Chiêm Thành thu vùng đất này về Đại Việt, và thành lập châu Thạch Hà.
Năm 1010, nhà Lý chia đất nƣớc làm 24 lộ, phần cực nam là lộ Hoan Châu, năm 1025 lập trại Định Phiên ở nam Châu Hoan (tức Kỳ Anh ngày nay), năm 1036 đổi Châu Hoan làm Châu Nghệ An, rồi năm 1101 lại đổi làm phủ Nghệ An.
Đời Trần, năm 1231, đổi Nghệ An làm châu rồi làm trấn, nhƣng dƣới trấn là ba lộ: Nghệ An Bắc, Nghệ An Trung, Nghệ An Nam.
Đất Kỳ Anh lần lƣợt thuộc châu Thạch Hà, châu Nghệ An, phủ Nghệ An (đời Lý), châu Nghệ An, lộ Nghệ An nam thuộc trấn Nghệ An đời Trần.
- Đời Trần, đất Kỳ Anh là huyện Hà Hoa.
- Thời thuộc Minh (1407 - 1427), huyện Hà Hoa và huyện Kỳ La (sau là đất Cẩm Xuyên) đều thuộc châu Nam Tĩnh.
- Đời Lê (có sách chép đời Lê Thánh Tông) hợp 2 huyện Hà Hoa và Kỳ La thành Kỳ Hoa.
- Đời Nguyễn, năm Minh Mạng thứ 17 (1836) cắt 4 tổng phía bắc Kỳ Hoa (Lạc Xuyên, Vân Tán, Thổ Ngọa, Mỹ Duệ) lập huyện Hoa Xuyên.
- Năm Thiệu Trị thứ nhất (1841) kiêng tên húy, đổi Hoa Xuyên thành Cẩm Xuyên, và Kỳ Hoa thành Kỳ Anh.
Như vậy huyện Kỳ Anh thành lập năm 1836 vẫn mang tên Kỳ Hoa, bắt đầu từ năm 1841 mới đổi thành Kỳ Anh.
Đầu đời Nguyễn huyện Kỳ Hoa, sau này là Kỳ Anh vẫn do phủ Hà Hoa (từ 1841 là Hà Thanh) kiêm lý.
Từ năm 1853 vua Tự Đức bỏ tỉnh, lập đạo Hà Tĩnh, Kỳ Anh đặt tri huyện, do đạo thống hạt, đến năm 1875 lập lại tỉnh lại đặt tri phủ, kiêm lý huyện Kỳ Anh.
Năm Duy Tân thứ 9 (1915) đổi Thạch Hà làm phủ, Kỳ Anh lại do phủ Thạch Hà thống hạt cho đến năm Cách mạng tháng 8 năm 1945.
Theo cuốn “Các trấn tổng, xã danh bị lấm” (Bản dịch của Viện nghiên cứu Hán - Nôm, NXB KHXH N.1981 lấy tên “Tên làng, xã Việt Nam đầu thế kỷ 19”) thì đầu đời Nguyễn đất Kỳ Anh bây giờ còn nằm trong huyện Kỳ Hoa thuộc phủ Hà Hoa, trấn Nghệ An. Huyện Kỳ Hoa (là đất của 2 huyện Kỳ Anh và Cẩm Xuyên ngày nay), có 6 tổng, 173 xã, thôn, trang, phƣờng, trại, giáp, tích, vạn…
Riêng vùng đất Kỳ Anh có 2 tổng: Cấp dẫn (30 xã, thôn, vạn) và Đỗ Chữ (57 xã, thôn, trang, trại, phƣờng, tích, sach…). Tổng cộng có 87 đơn vị tổ chức cƣ dân và hành chính.
Sách “Kỳ Anh phong thổ ký” của Lê Đức Trinh, viết năm Bảo Đại thứ 5 (1931) - Bản dịch của Thanh Minh - cho biết đời Duy Tân về trước Kỳ Anh có 4 tổng (Cấp Dẫn, Đậu Chữ, Hà Trung, Hoằng Lễ).
Năm Duy Tân thứ 5 (1911) trích 6 thôn của tổng Hà Trung và 3 thôn của tổng Cấp Dẫn lập thêm tổng Vọng Liệu. Nhƣ vậy là lúc đó Kỳ Anh có 5 tổng gồm 96 thôn, trang… (Hà Trung 20 thôn, Cấp Dẫn 21 thôn, Đậu Chữ 21 thôn, Hoằng Lễ 25 thôn, Vọng Liêu 9 thôn). Số thôn xã từ đấy đến 1945 tƣơng đối ổn định.
- Cuối năm 1945, bỏ tổng, Kỳ Anh hợp nhất 96 làng nhỏ lại thành 20 xã lớn.
- Khoảng 1950 - 1952 tăng cƣờng xã lại nhập 10 xã cũ thành 5 xã lớn hơn, toàn huyện chỉ còn 15 xã.
- Năm 1954 lại chia những xã lớn thành những xã vừa, toàn huyện có 26 xã.
- Năm 1961, cắt làng Ngƣu Sơn, (Minh Đức) từ xã Kỳ Phƣơng thành lập xã mới Kỳ Nam. Toàn huyện có 27 xã.
- Năm 1963, lập thêm xã mới Kỳ Hƣơng (gồm dân 3 xã: Thạch Châu, Thạch Bằng, Thạch Trị từ huyện Thạch Hà di dân vào). Toàn huyện có 28 xã.
- Tháng 5 1977, nhập xã Kỳ Lâm, Kỳ Sơn thành xã Vọng Sơn (sau lại tách làm hai nhƣ cũ). Tách Kỳ Hải lập xã Kỳ Hà. Lúc này toàn huyện có 29 xã.
- Năm 1987, thành lập thêm các xã: Kỳ Đồng, Kỳ Hợp, Kỳ Liên và thị trấn Kỳ Anh, giải thể xã Kỳ Hƣơng.
Nhƣ vậy đến 1987 Kỳ Anh có 31 xã và 1 thị trấn huyện lỵ.
- 2004 Lập thêm xã Kỳ Trung, cho đến nay. Nhƣ vậy hiện Kỳ Anh có tất cả 32 xã và một thị trấn.
2. Những biến động lịch sử qua các thời kỳ
2.1. Những biến động từ thời cổ đại đến năm 1841
Thời xa xƣa, xứ Nghệ (Nghệ Tĩnh) đƣợc coi là miền đất biên viễn, mà Kỳ Anh là điểm cuối cùng (điểm mút) của Xứ Nghệ, lại càng xa xôi, hẻo lánh với mọi ngƣời.
Ngô Thời Nhậm (1746-1803) trong bài thơ “Dinh Cầu hữu cảnh” viết:
“Sự tích Hà Trung thị cực biên
Đàm đàm sƣ mạc khống thanh thiên
Chinh già suy tán thiên trì lãng
Thú cổ xao tàn hỏa hiệu yên”...
Dịch nghĩa:
Từ xưa, đất Hà Trung là biên giới tận cùng Thăm thẳm trại quân khống chế bờ cõi
Kèn trận thổi tan cả sóng biển
Trống canh khua lụi khói hỏa hiệu...
Mấy câu thơ trích trên không chỉ nói lên Kỳ Anh xƣa là vùng đất tận cùng mà còn nhắc đến cả quá trình lịch sử là vùng đất chiến địa, thƣờng xuyên sôi động vì các cuộc chiến tranh.
Cách đây trên dƣới 5000 năm, con ngƣời đã sinh sống nhiều nơi ở Nghệ Tĩnh từ miền núi tới miền biển. Các bộ lạc miền núi chuyên bắt ốc ở sông, suối và săn bắn, các bộ lạc miền biển sống bằng sò điệp nƣớc mặn và đánh cá… Nghề nông nguyên thủy dần dần bắt đầu phát triển…
Nhờ sự phát triển của nông nghiệp trồng lúa, các bộ lạc văn hóa Bàu Tró4 đã có thể sống trên nhiều địa hình khác nhau… chứ không chỉ bám vào vùng ven biển nhƣ các bộ lạc văn hóa Quỳnh Văn5 nữa…
4 - Văn hóa Bàu Tró, lấy tên một bàu nƣớc ở Đồng Hới - Quảng Bình, nơi có di chỉ khảo cổ đƣợc phát hiện năm 1923
5 - Văn hóa Quỳnh Văn, ấy tên xã Quỳnh Văn – huyện Quỳnh Lƣu - Nghệ An, ở đây có di chỉ cồn sò điệp Thống Lĩnh có 2 niên đại C14 là 4785 năm -+ 75 năm cách ngày nay và 4730 +_75 năm cách ngày nay. Ở Hà Tĩnh có cồn sò điệp Phái Nam (Thạch Lâm - Thạch Hà) muộn hơn, có 3 niên đại C14 là 4160 năm+_70 năm , 4120+_60 năm và 4030 năm+_45 năm cách ngày nay.
6 - Văn hóa Đông Sơn, ấy tên huyện Đông Sơn - Thanh Hóa, là giai đoạn các vua Hùng - Văn hóa đồ đồng.
Nghệ Tĩnh là vùng đất có nhiều di tích văn hóa Đông Sơn6. Khi nghề đúc đồng đã cực thịnh với nền văn hóa Đông Sơn rực rỡ trên đất Nghệ Tĩnh thì nghề luyện sắt và nghề chế tác sắt cũng có từng bƣớc phát triễn đáng kể.
Các nhà khảo cổ học đã phát hiện đƣợc ở Hà Tĩnh hàng loạt di chỉ đá mới (Phái Nam, Rú Trò, Thạch Lạc - Thạch Hà, Cẩm Thành - Cẩm Xuyên, bãi Phôi Phối - Nghi Xuân, Rú Dầu - Đức Thọ,…), di chỉ đồng (Xuân An - Nghi Xuân, Đức Đồng- Đức Thọ…), dấu vết lò luyện sắt (Xuân Giang - Nghi Xuân), Quảng Bình… Nhưng đến nay chƣa có một tài liệu khoa học nào cho ta biết trên địa bàn huyện Kỳ Anh ngày nay có ngƣời tiền sử sống hay không.
Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể nghĩ rằng, ít ra là vào giai đoạn văn hóa Đông Sơn - Thời các vua Hùng - con ngƣời đã cƣ trú hoặc qua lại nơi đây để hái lƣợm, săn bắt ở bờ biển và trong những cánh rừng.
Nhƣng nếu quả giai đoạn này có ngƣời sinh sống ở đây thì các biến động lớn của xã hội nhƣ cuộc tranh chấp Hùng Vƣơng - Thục Phán cũng chƣa liên liên quan gì đến họ.
Suốt nghìn năm Bắc thuộc, sử sách cũng ghi chép rất ít các sự kiện lịch sử liên quan đến vùng đất Kỳ Anh.
Sự kiện đầu tiên đƣợc “Đại Việt sử ký toàn thƣ” (ngoại kỷ-quyển IV - kỷ nhà Tiền Lý), chép là vào năm Quý Hợi (năm thứ 3 - tiền Lý Nam đế, năm thứ 9 niên hiệu Đại Đồng nhà Lƣơng - 543): “Mùa hạ, tháng 4, vua Lâm Ấp cƣớp quận Nhật Nam, vua sai tƣớng là Phạm Tu đánh tan ở quận Cửu Đức”. Sách “Trần Thƣ” quyển 1 Bản kỷ 1 (của Trung Quốc) cũng chép một sự kiện: “Năm ấy, Thái Thanh năm thứ nhất (547), anh Lý (Bôn), (tức Lý Nam Đế, còn đọc là Lý Bí) là Thiên Bảo trốn vào Cửu Chân cùng với tƣớng cƣớp là Lý Thiên Long thu thập dƣ binh đƣợc hai vạn, giết thứ sử Đức Châu là Trần Văn Giới, tiến vây Ái Châu…”.
Lúc này vùng đất Kỳ Anh hiện nay thuộc Cửu Đức, rồi Đức Châu, song không chắc các hoạt động của tƣớng Phạm Tu, của Lý Thiên Bảo, Lý Thiên Long đã diễn ra ở đây.
Còn sự kiện dƣới đây xảy ra năm Ất Sửu (605). Sau khi nhà Tùy diệt nƣớc Vạn Xuân rồi đánh thắng nhà Hậu Lý (603), năm 605 Tùy Dạng đế Quảng sai Lƣu Phƣơng làm Hoan Châu đạo hành quân tổng quản, đi đánh nƣớc Lâm Ấp để cƣớp của cải. Sử chép: “Mùa xuân, tháng giêng… Phƣơng sai bọn Thứ sử Khâm Châu Ninh Trƣởng Chân đem hơn một vạn quân bộ và quân kỵ mã, xuất từ Việt Trƣờng (vùng Đức Thọ bây giờ - Thái Kim Đỉnh chú). Phƣơng thân xuất lãnh bọn đại tƣớng quân Trƣơng Tốn đem thủy quân xuất từ quận Tỵ Ảnh7. Tháng ấy quân đến cửa Hải Khẩu.
7 -Đời Hán, huyện Tỵ Ảnh thuộc quận Nhật Nam, đời Tùy thuộc quận Tỵ Ảnh, Quân thủy của Lƣu Phƣơng có thể xuất phát từ Cửa Sót (Thạch Hà) hay Cửa Nhƣợng (Cẩm Xuyên) ra biển, qua Cửa Khẩu mà vào Ô, Lý.
8- Ngƣời Cham-Pa dựng nƣớc vào khoảng 137-137. Lúc đó nhà Hán cai trị đất Việt - Chàm, nhân khi nhà Hán có loạn, con trai viên Công tào huyện Tƣợng lâm là Khu Liên nổi lên giết quan lệnh nhà Hán, xƣng làm vua.
Trƣớc đó, năm thứ 2 niên hiệu Vĩnh Hòa nhà Tần (346) vua Lâm Ấp là Phạm Văn chiếm toàn bộ đất quận Nhật Nam và nói với thứ sử Giao Châu (của nhà Tần) đòi lấy Hoành Sơn làm biên giới. Có lẽ Hoành Sơn làm biên giới Việt - Chiêm từ đây8. Ngƣời Lâm Ấp bèn xây lũy đá trên
Người Trung Quốc chép quốc hiệu của Cham-Pa là Lâm Ấp. Giữa thế kỷ thứ VIII trung tâm nhà nƣớc Chăm-Pa là Kanthara (Nha Trang) và Panduranga (Phan Rang), nên sử Trung Quốc lại chép là nƣớc Hoàn Vƣơng. Sauk hi bị Trƣơng Chu đánh phá (805) phải dời vào vùng trong đèo Hải Vân., đóng đô ở Đồng Hƣơng - Quảng Nam (Indrapua). Sử Trung Quốc nƣớc Chăm-Pa là ChiêmThành và sử ta cũng chép theo.
núi, kéo dài từ Ngƣu Sơn - Thần Đầu lên đến Xuân Sơn - Vọng Liệu, dài khoảng 30km.
Bị tƣớng nhà Tùy đánh đuổi phải lùi vào phía nam, nhƣng đến đời Đƣờng, ngƣời Lâm Âp lại lấn ra đến Hoành Sơn. Sau đó nhiều lần bị đẩy lùi rồi lại đánh thắng, giữ đất Nhật Nam… Không chỉ có thế, từ đời thuộc Tấn, Tùy đến thời thuộc Đƣờng, ngƣời Lâm Ấp - Chiêm Thành còn nhiều lần đánh ra, chiếm đóng cả phía bắc Hoành Sơn.
Sử chép: Năm Kỷ Hợi (399), mùa xuân tháng Ba, vua nƣớc Lâm Ấp là Phạm Hồ Đạt đánh lấy Nhật Nam và Cửu Chân rồi cƣớp Giao Châu. Đỗ Viên, tƣớng nhà Tấn đánh phá đƣợc.
Năm Tân Mùi (431) vua nƣớc Lâm Ấp là Phạm Dƣơng Mại cƣớp quận Cửu Chân, năm 432 lại xin vua nhà Tống cho lĩnh (để cai trị) Giao Châu nữa.
Năm Quý Mùi (803), quân Hoàn Vƣơng đánh chiếm hai châu Hoan, Ái, đặt ngƣời cai trị cho đến năm Mậu Tý (808) mới bị tƣớng nhà Đƣờng là Trƣơng Chu đẩy lùi vào đến gần đèo Hải Vân.
Những lần ngƣời Chăm-Pa đánh ra bắc Hoành Sơn thì Kỳ Anh là nơi đầu tiên bị quân Chăm-Pa và quân xâm lƣợc Trung Quốc tàn phá.
Năm Ất Tỵ (875), ngƣời Chăm-Pa đóng đô ở Indrapua (Đồng Hƣơng - Quảng Nam), nhân khi nhà Đƣờng suy đồi, mất (936) ở Trung Quốc nam-bắc phân tranh, khoảng 907-910 ngƣời Chăm-Pa đánh qua và chiếm hẳn vùng đất phía bắc Hoành Sơn, ra tận núi cửa Sót (tức núi Quỳnh Viên, cũng gọi là núi Long Ngâm). Vùng đất này bị sát nhập vào Chăm-Pa, do ngƣời Chăm-Pa đặt quan cai trị.
Địa giới phía bắc vùng đất này, theo một số tài liệu là dọc phía nam sông Ngàn Mọ từ Bạch Thạch (Cẩm Xuyên) xuống cầu Phủ, cửa Sót (Thạch Hà) bây giờ, dài khoảng 15km đƣờng chim bay. Phía tây đƣờng hào tự nhiên này, ngƣời Chăm-Pa đã xây dựng thành lũy. Ở vùng Cẩm Thạch - Cẩm Xuyên bây giờ hiện vẫn còn dấu vết thành và bức lũy dài khoảng 3km, thƣờng gọi là thành Chàm. Phía đông là núi Sót. Vì vậy núi này mới có tên là “Nam Giới”. Ngày nay ở phía nam núi Nam Giới có hai ngọn núi nhỏ ở địa phận xã Thạch Đỉnh gọi là hòn Mốc (chữ Hán phiên âm là hòn Mộc Sơn, hay ghi là Hữu Nam giới).
Trong nước, dưới hai triều đại Ngô-Đinh (939-980), do có nhiều cuộc tranh chấp nội bộ và phải đề phòng nạn xâm lƣợc từ phía bắc nên vùng biên giới phía nam không đƣợc chú ý nhiều.
Mãi đến năm Tân Tỵ (981), sau khi đánh thắng quân nhà Tống, vua Đại Hành mới cất quân đánh Chiêm Thành, giải phóng vùng đất từ Nam Giới đến Hoành Sơn, và đẩy lùi ngƣời Chiêm Thành vào tận Quảng Nam.
Không có tài liệu nào nói về 70 năm ngƣời Chăm-Pa ở vùng đất nam Hà Tĩnh, từ cuối Thạch Hà đến Kỳ Anh ngày nay. Nhƣng việc cai trị chắc là lỏng lẻo, theo kiểu đóng đồn binh chứ không có tổ chức hành chính quy củ. Đến nay ngoài dấu vết thành Chàm ở Cẩm Thành, không thấy dấu vết thành lũy nào khác. (chú: Ở vùng Kỳ Anh, không kể trên Hoành Sơn, còn có một số nơi nhƣ ở Mũi Đao còn dấu vết thành lũy cổ nhƣng không rõ có phải từ thời ngƣời Chăm-Pa chiếm đóng hay không). Nhƣng chắc chắn ngƣời Chăm-Pa có tổ chức khai thác tài nguyên ở đây. Nhƣ lấy trầm hƣơng, ngọc trai, săn voi, tê ngƣu, gỗ đóng thuyền,... và sử dụng cửa Nhƣợng, cửa Khẩu đóng quân, tiếp tế.
Đến nay chúng ta cũng chƣa có điều kiện tìm hiểu ảnh hƣởng của văn hóa Chàm trong tôn giáo, ngôn ngữ, sinh hoạt, làm ăn của ngƣời dân Kỳ Anh và Hà Tĩnh.
Từ đây, vùng đất Hà Hoa - Kỳ Anh đƣợc các triều đại Lê, Lý, Trần, Hồ quan tâm cũng cố để bảo vệ cƣơng giới phía nam Đại Việt:
Mùa thu, tháng Tám năm Nhâm Thìn (992), vua Đại Hành sai phụ quốc là Lê Tử An đem ba vạn ngƣời đi mở đƣờng bộ từ cửa Nam Giới đến Châu Đại Lý (Quảng Bình bây giờ). Đây là con đƣờng xuyên quốc gia đầu tiên đi qua đất Kỳ Anh.
Đời Lý, vào năm Ất Sửu (1025) vua Lý Thái Tổ “xuống chiếu lập trại Định Phiên ở nam giới thuộc Châu Hoan, cho Quản Giáp là Lý Thai Giai làm trại chủ”. Trại Định Phiên ở Nam giới Châu Hoan tức là Kỳ Anh ngày nay. Trại Định Phiên là một đốn binh lớn đầu tiên đặt ở đây để bảo bệ biên giới phía nam của đất nƣớc. Vị trí trại ở đâu, giờ chƣa rõ.
Dƣới hai triều đại Lý, Trần, triều đình luôn chú trọng đến vùng biên giới phía nam, ngoài việc cử các hoàng tử tài năng nhƣ Lý Nhật Quang, Trần Quang Khải… và các quan lại giỏi, đáng tin cậy vào cai quản, lại luôn tăng cƣờng binh bị, củng cố các đồn, ải, lập kho lƣơng, mở đƣờng sá… (năm 1375, sửa, đắp đƣờng sá từ Cửu Chân (Thanh Hóa) đến Hà Hoa, ba tháng thì xong. Năm 1402 sửa đƣờng từ Tây Đô (Thanh Hóa) đến Châu Hóa (Thừa Thiên), gọi là đường thiên lý). Quan quân ở đây phải thƣờng xuyên canh phòng, chống ngƣời Chăm-Pa ra cướp phá, bắt ngƣời.
Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên-Mông lần thứ 2 (1285), để đề phòng quân giặc từ trong đánh ra, vua Trần sai Chiêu Văn Vƣơng Trần Nhật Duật, ngƣời vừa vƣợt qua vòng vây giặc ở Nghệ An gấp rút vào trấn giữ Nghệ An. Sau đó, theo lời của Hƣng Đạo Vƣơng Trần Quốc Tuấn, nhà vua lại cử thêm Chiêu Minh Vƣơng Trần Quang Khải vào tăng viện.
Cuối tháng Giêng năm Ất Dậu (2-1285), Đại vƣơng Giảo Kỳ, Hữu thừa Toa Đô, Tả Thừa Tang-gu-tai, Tham chính Kê-đê từ Chiêm Thành đánh vào phủ Bố Chính (vùng Quảng Trạch, Bố Trạch - Quảng Bình hiện nay) rồi tiến ra trấn Nghệ An.
Ngày rằm tháng Giêng âm lịch (20-2-1285) Trần Nhật Duật, Trịnh Đình Toản từ Bạch Hạc (Phú Thọ) xuất phát, vào đến nơi thì gặp quân Nguyên, trận đánh ác liệt xảy ra ở đèo Ngang, trên đất Kỳ Anh. Nhƣng lúc này đội quân của Trần Quang Khải (ra đi từ ngày 28-1(al), tức ngày 5-3-1285) chƣa vào kịp. Trần Nhật Duật và Trịnh Đình Toản do lực lƣợng ít không chống nổi gần 50 vạn quân địch đã phải rút lui. Quân Nguyên ồ ạt kéo qua cửa quan Đèo Ngang, ra lấy Diễn Châu, Thanh Hóa.
9 - Nguyên sử chép: Quân Nguyên đánh bại quân Giao Chỉ ở phủ Thanh Hoa,đoạt đƣợc cửa quan Nghĩa An (tức cửa ải Đèo Ngang). Ở đây chép lẫn việc sau ra việc trƣớc. Đáng lẽ chép là đánh chiếm cửa quan Nghệ An trƣớc rồi mới tiến ra Thanh Hóa, có Trần Kiện ở Nghệ An đầu hàng, dẫn quân Nguyên đi đánh Trần Quang Khải.
10 - Không biết vì sao lại gọi là “Lại bộ nương loan”, các sách khác chép là “cửa Loan Nƣơng”, “đền Loan Nƣơng”. – Đại Việt sử ký
Tháng Ba năm Giáp Dần (1374) vua Duệ Tông nhà Trần xuống chiếu cho Thanh - Nghệ đào sông, đoạn cuối là Kinh Hạ, nối sông Rác tới cửa Khẩu. Từ đây, thuyền bè từ Bắc Hà vào Tân Bình, Thuận Hóa không phải ra cửa Nhƣợng mà đi đƣờng sông ra cửa Khẩu.
Tháng Chạp, năm Bính Thìn (1376) Duệ Tông khởi quân đi đánh Chiêm Thành, lần đầu tiên đoàn chiến thuyền theo sông Kinh Hạ ra cửa Khẩu này.
Sử còn chép: “Tháng Giêng năm Quý Hợi (1383) Hồ Quý Ly đem quân đi đánh Chiêm Thành. Bấy giờ mới đóng chiến thuyền lớn, có các hiệu thuyền Diễm Dã, Ngọc Đột, Nha Tiệp. Thuyền đi đến vùng Lại bộ nƣơng loan và Ô-tôn bị song gió hƣ hỏng, lại trở về” “Lại bộ nƣơng loan” tức cửa biển Hà Hoa (cửa Khẩu), “Ô-tôn” là mũi Dòn (Ròn) ở Kỳ Anh10.
chú thích nhầm Ô-tôn là cửa Ròn (Quảng Bình). Ô-tôn nói đây là mũi Dòn ở Kỳ Anh.,
Cửa Nương Loan là gọi theo truyền thuyết về nàng Nguyễn Thị Bích Châu, cung phi vua Trần Duệ Tông, theo vua đi đánh Chiêm Thành năm Đinh Tỵ (1376 - 1377) chết đuối ở đây, hiện vẫn còn đền thờ ở cửa Khẩu, xƣa thƣờng gọi là đền Hải Khẩu, dân gian quen gọi là đền Bà Hải, nhiều sách chép là đền Loan Nƣơng. (nàng con gái ở vùng biển)
Để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống nhà Minh, nhà Hồ lại rất chú trọng đến vùng Hoan - Diễn đến Thuận Hóa. Ngoài việc bố trí lực lƣợng quân sự, sửa sang thành lũy, họ Hồ cũng rất quan tâm đến lƣơng thảo, thuyền bè, đƣờng sá. Các thành lũy, kho tàng ở vùng Kỳ Anh đều đƣợc sửa sang lại.
Tháng Ba năm Nhâm Ngọ (1402), Hồ Hán Thƣơng sai sửa đƣờng sá ở thành Tây Đô (Thanh Hóa), đến Châu Hóa gọi là đƣờng thiên lý. Dọc đƣờng đặt phố xá và trạm chạy giấy… nhƣng nhà Hồ đã mất quá sớm.
Tháng 5 năm Đinh Hợi (1407), ngày mồng năm quân Minh đánh cửa biển Kỳ La (Cửa Nhƣợng), Nguyễn Đại bắt đƣợc hữu tƣớng quốc là Quý Tỳ và con là Nguyên Cửu.
Ngày 11, quân Minh đánh vào Vĩnh Ninh, bọn Vƣơng Sài Hồ bắt đƣợc Hồ Quý Ly ở gềnh Chảy Chảy (?), Lý Bảo bắt đƣợc Tể tƣớng quốc Hồ Nguyên Trừng ở cửa biển Kỳ La.
Ngày 12, bọn Nguyễn Nhƣ Khanh bắt đƣợc Hồ Hán Thƣơng và Thái tử Nhuế ở núi Cao Vọng11.
11 - Theo Toàn thƣ, còn “Minh sử” chép: “ Tháng 5 đến cửa biển Kỳ La, bắt đƣợc Qúy Ly và con là Hán Thƣơng…”. Truyền thuyết địa phƣơng cũng nói Qúy Ly bị bắt ở núi Thiên Cầm bên cửa bien3 Kỳ La ( cửa Nhƣợng-Cẩm Xuyên) và Hồ Hán Thƣơng bị bắt ở núi Cao Vọng.(cửa Khẩu-Kỳ Anh), hai nơi này còn có hang Hồ Qúy Ly và Hồ Hán Thương.
Trong cuộc kháng chiến của nhà Hậu Trần do Trần Quý Khoáng (Trùng Quang đế) lãnh đạo, và trong cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Biên ở Động Choác, đất Kỳ Anh luôn đƣợc coi là hiểm yếu, là chổ dựa.
Theo “Việt kiệu thƣ”, “Tháng 10-1412, Trƣơng Phụ đã dùng chiến thuyền vào tận cửa biển Hà Hoa (cửa Khẩu), nhƣng vừa lúc ấy có gió bão to, phải lui quân về thành Nghệ An (Lam Thành). Lúc phải chạy vào Châu Hóa “nghĩa quân cho rằng cửa biển Hà Hoa gần núi Thành Sơn có địa thế hiểm yếu, quân địch khó vƣợt qua, nên lập đồn lũy ở cửa biển Nhật Lệ (Đồng Hới-QB) để phòng thủ”.
Nhƣng tháng 8-1413 Trƣơng Phụ đã đem chiến thuyền từ biển Kỳ La (cửa Nhƣợng) vƣợt biển qua cửa Hà Hoa đánh thẳng vào các đòn lũy nghĩa quân ở Nhật Lệ… Mƣời năm sau, dân hai huyện Kỳ La, Hà Hoa châu Nam Tĩnh (Cẩm Xuyên - Kỳ Anh) đã đứng dƣới cờ khởi nghĩa của Nguyễn Biên"12", tự giải phóng mình khỏi ách đô hộ của ngƣời Minh, trƣớc khi nghĩa quân Lam Sơn của Bình Định vƣơng Lê Lợi vào lập căn cứ ở Hƣơng Sơn (1425).
12- Nguyễn Biên, ngƣời xã Phù Lƣu (Hồng Lộc) vào khai hoang ở động Choác (núi Kinh Thốc) Cẩm Hƣng, Cẩm Xuyên. Nghĩa quân của ông đã đánh thắng quân Minh nhiều trận, giải phóng vùng nam Hà Tĩnh bây giờ. Năm 1425 ông gia nhập nghĩa quân Lam Sơn, rồi hy sinh trong một trận đánh. Nhân dân lập đền thờ ông ở Động Choác (Cẩm Hƣng) và Cát Thiên (Cẩm Huy)
Tuy từ đời Trần đến đời thuộc nhà Minh, đất Kỳ Anh bây giờ đã thuộc huyện Hà Hoa (thuộc lộ Nghệ An nam, rồi châu Nam Tĩnh), có chức lệnh úy, chủ bạ đứng đầu, và ở cơ sở có xã quan, nhƣng việc cai quản còn lỏng lẻo. Từ đời Lê, triều đình mới thực sự nắm chắc từ huyện đến xã.
Đầu đời Lê (1428), sau khi Lê Lợi đánh tan quân Minh, lên ngôi vua (Lê Thái Tổ), đất Kỳ Anh vẫn là huyện Hà Hoa, đứng đầu có chuyển vận sứ và Tuần sát, ở xã vẫn đặt là xã quan (xã lớn 3 ngƣời, xã vừa 2 ngƣời, xã nhỏ 1 ngƣời).
Đời Lê Thánh Tông đặt phủ Hà Hoa, sát nhập hai huyện Kỳ La (đất Cẩm Xuyên) và Hà Hoa (đất Kỳ Anh) thành huyện Kỳ Hoa, cùng huyện Thạch Hà đặt dƣới phủ Hà Hoa. Chức chuyển vận sứ đổi làm chức Tri huyện, chức Tuần sát đổi thành Huyện thừa, xã quan thành xã trƣởng.
Từ đó đến đầu đời Nguyễn vẫn không có gì thay đổi...
Sự việc quan trọng đầu tiên xảy ra trên đất Kỳ Anh dưới triều Lê là đoàn thuyền chiến “Tây chinh” của vua Lê Thánh Tông đi về qua đây vào những năm (1470-1471).
Tập thơ “Tây chinh kỷ hành” – ghi việc đi đánh Chiêm Thành - với những lời chú thích là nhật ký ghi hoạt động của nhà vua trên đất Kỳ Anh: Đêm 11 tháng Chạp Hồng Đức năm thứ nhất (Canh Dần), đóng quân ở cửa biển Hà Hoa (cửa Khẩu), “Đêm khuya ngồi nghe tiếng mƣa, sinh lòng thƣơng cảm”, canh tƣ đêm 13 tháng Chạp “dời thuyền đi vào một dòng sông nhỏ”, sang 14 tiến vào kênh Cát Lấp, ngày 14 tháng Chạp “đóng quân ở trạm Hoành Sơn, canh tƣ đêm ấy đốt đèn đọc sách”, “giờ mùi ngày rằm lại khởi hành”, ngày 16 tháng Chạp “đại quân khởi hành, mƣa to gió táp liên miên…”.
Đến thế kỷ XVI, đất Kỳ Anh mới bắt đầu sôi động vì cuộc chiến tranh Lê - Mạc (1533-1592) và Trịnh - Nguyễn phân tranh (1627 - 1775).
Cuộc chiến Lê - Mạc (1533 - 1592) chủ yếu là diễn ra ở bờ bắc sông Lam. Năm Canh Ngọ (1570) nhà Mạc chiếm vùng đất từ nam sông Lam vào tận Đèo Ngang.
Tháng tƣ năm đó tƣớng Lê - Trịnh (họ Trịnh lấy danh nghĩa phò Lê) là Nguyên quận công Nguyễn Bá Quýnh đƣợc đƣa vào làm trấn thủ Nghệ An.
Tháng Tám, Hoàng quận công lại đem quân bản bộ vào để cùng Bá Quýnh phòng giữ.
Tháng 7 năm sau, Tân Vị (1571), quân Mạc Kính Điển vào, Bá Quýnh bỏ trốn, Dung quận công chạy vào châu Hóa, bị tƣớng nhà Mạc Nguyễn Quyện13 bắt. Quân Mạc chiếm luôn từ sông Lam trở ra, cho đến tháng năm Nhân Thân (1572).
13- Nguyễn Quyện, tƣớng nam đạo nổi tiếng của nhà Mạc, là con Trạng nguyên Nguyễn Thiến, là bác ruột Nam dƣơng hầu Nguyễn Nhiêm, ngƣời lập ra dòng họ tiên Điền ngày nay.
Lần thứ hai là vào tháng 6 năm Giáp Tuất (1574) tƣớng Nguyễn Quyện vào Nghệ An, tƣớng Lê - Trịnh là Hoàng quận công thấy quân lính đều không chịu đánh, bỏ thuyền chạy bộ trốn, qua Kỳ Hoa vào đến Bố Chính thì Nguyễn Quyện đuổi kịp bắt đƣợc… Sử chép: “Bấy giờ dân Nghệ An (Nghệ Tĩnh) sợ uy giặc đã lâu, phần nhiều đầu hàng họ Mạc và “Bây giờ quân Mạc mạnh, đến đâu ngƣời ta cũng không dám chống, trốn chạy vào rừng...”
Nhƣ vậy, vùng Kỳ Anh, Hà Tĩnh nhiều năm nằm dƣới sự kiểm soát của nhà Mạc. Cũng trong thời kỳ này tƣớng Lê - Trịnh tham gia đánh quân nhà Mạc là ngƣời Kỳ Anh có Lan quận công Lê Thát ở Hữu Lễ, hoặc sau này ở lại Kỳ Anh có Thọ quận công Phạm Tiêm ở Hƣng Nhân.
Cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn xảy ra 7 đợt, kéo dài 45 năm (1627 - 1672), đất Kỳ Anh phía bắc và Bố Chánh phía nam Hoành Sơn luôn luôn là vùng đệm giữa 2 lực lƣợng quận sự Đàng trong và Đàng ngoài. Nhƣng chỉ đợt thứ 5 là diễn ra ác liệt trên đất Hà Tĩnh (1655 - 1658).
Năm Mậu Tý (1648) Trịnh Tráng sai Lê Vân Hiển đánh vào dinh Mƣời (Quảng Bình) bị thua to, phải rút về phía ngoài sông Gianh. Trịnh Tráng liền sai Tiến quận công Lê Văn Hiểu cùng Trần Ngọc Hậu lĩnh 9 vạn quân đóng ở đất Hà Trung (Dinh Cầu), tức Tả trấn dinh, Đông quận công Lê Hữu Đức cùng Vũ Lƣơng lĩnh 1 vạn quân đóng ở Hoành Sơn, tức Hữu trấn dinh, Mậu quân công Phạm Tất Toàn đóng ở tiền đồn bắc Bố Chánh.
Tháng Tƣ năm Ất Tỵ (1655), Dũng quốc công Nguyễn Phúc Tần sai Thuận nghĩa hầu Nguyễn Hữu Tiến và Chiêu võ hầu Nguyễn Hữu Dật đánh úp bắc Bố Chánh, Phạm Tất Toàn đầu hàng. Thừa thắng, quân Nguyễn tấn công Hữu trấn dinh Hoành Sơn rồi Tả trấn dinh Hà Trung. Lê Văn Hiểu cố sức chống, bị đạn trúng chân, đành cùng Lê Hữu Đức bỏ thuyền ghe, voi, ngựa, khí giới lƣơng thực chạy tháo thân về Yên Trƣờng (TP. Vinh bây giờ). Quân Nguyễn đuổi ra đến Thạch Hà. Hôm sau Hiểu và Đức tiến quân vào đóng ở Đại Nài (thị xã Hà Tĩnh bây giờ), rồi sau bị triệu về Thăng Long"14".
14- Theo “Đại Nam thực lục tiền biên”, “Việt sử thông giám cương mục và “Đại Việt sử ký toàn thƣ”
Tháng 6, Khê quận công Trịnh Trƣợng làm Thống lĩnh đƣa quân vào dinh Hà Trung nhƣng bị thua phải rút về sông Rác rồi cuối cùng chạy về Yên Trƣờng. Tƣớng thủy quân là Quân công Vũ Văn Thiêm cũng rút thuyền bè từ cửa Kỳ La (cửa Nhƣợng) về cửa Đan Nhai (Cửa Hội). Quân Nguyễn đuổi đánh đến Bân Xá (thị xã Hồng Lĩnh bây giờ). Bảy huyện Nam Hà lọt vào tay đàng trong15.
15 Bảy huyện Nam Hà (bờ nam sông cả - Lam Giang) là: Kỳ Hoa, Thạch Hà, Thiên Lộc, Nghi Xuân, La Sơn, Hƣơng Sơn, Thanh Chức. Tức toàn bộ Hà Tịnh và một số xã ở nam Nghệ An.
16 - “Đại Nam thực lục tiền biên” chép: “Quân Nguyễn rút lui về đóng ở Hà Trung”, nhƣ vậy có thể Trịnh Toàn chƣa vào đến Hà Trung hoặc là khi Trịnh Toàn vào quân Nguyễn tạm rút khỏi vùng này, ở đây chép theo “Đại Việt sử ký toàn thư”
Tháng 10, Tả đô đốc Ninh quận công Trịnh Toàn đƣợc chúa Trịnh Tráng sai làm Thống lĩnh, đƣa quân vào Kỳ Hoa thì quân Nguyễn đã rút lui. Trịnh Toàn ở lại vài ba tuần cũng cố vùng Dinh Cầu rồi trở về Yên Trƣờng16.
Từ đó, chiến sự chuyển ra phía bắc Hà Tĩnh và nam Nghệ An cho đến khi kết thúc (tháng Giêng, năm Canh Tý - 1660).
Mùa xuân, tháng 2 năm Canh Sửu (1661), “Tiết chế thái úy Nghị quốc công (Trịnh Tráng) đem quân về kinh sƣ, lƣu Đào Quang Nhiên làm Trấn thủ, Lê Sĩ Triệt, Hồ Sĩ Dƣơng, Trịnh Thì Tế làm Đốc thị, đem các tƣớng đóng đồn ở địa phương Hà Trung, huyện Kỳ Hoa” (Đại Việt sử ký toàn thƣ - Tập IV)
Từ Lý, Trần đến đầu triều Lê (thế kỷ XV, XVI) vùng đất Hà Trung luôn luôn là binh đồn trọng yếu bảo vệ biên giới phía nam. Trong cuộc chiến tranh Nam - Bắc triều, khi quân Lê - Trịnh, khi quân nhà Mạc đồn trú ở đây. Đầu triều Lê trung hƣng, trấn Nghệ An kiêm lý châu Bố Chính.
Khoảng tháng 12–1631, Tây quận công Trịnh Tạc trấn giữa Nghệ An, lấy tiến sĩ Giang Văn Minh làm Đốc thị. Lúc này trấn lỵ Nghệ An ở Lam thành (nay thuộc huyện Hƣng Nguyên - Nghệ An), nhƣng để tiện việc cai trị, triều đình Lê - Trịnh quyết định thành lập thêm trấn lỵ thứ hai ở phía nam, đóng ở làng Biểu Duệ, xã Hà Trung, thƣờng gọi là dinh Hà Trung hay Dinh Cầu. Ở đây chỉ có dinh trấn thủ, còn các Ty thừa hành, Hiến sát và trƣờng thi vẫn ở Lam Thành. Có thể Trịnh Tạc là trấn thủ đầu tiên đóng ở Dinh Cầu. Lúc này quan hệ giữa chúa Nguyễn Phúc Nguyên với triều đình Lê - Trịnh hết sức căng thẳng.
Sau khi quân Trịnh thắng quân Nguyễn năm 1660, Đào Quang Nhiêu làm trấn thủ, Dinh Cầu đƣợc cũng cố thành một trấn lỵ có quy củ và vững vàng ở phía nam.
Các trấn thủ (hoặc Đốc suất) sau Đào Quang Nhiêu vẫn là những võ tƣớng cao cấp, tâm phúc của chúa Trịnh: Hào quận công Lê Thì Hiến, Yên quận công Trịnh Liệu (nguyên họ Đặng), Luân quận công Trịnh Huyên (nguyên họ Lê), Trung quận công Lê Thời Liêu, Tạo quận công Lê Quang Hiểu, Thêm quận công Trƣơng Nhƣơng, Siêu quận công Nguyễn Minh Châu, Hải quận công Phạm Đình Trọng, Đoan quận công Võ Tá Đoan, Đoan quận công Bùi Thế Đạt, Việp quân công Hoàng Ngũ Phúc, Huy quận công Hoàng Đình Bảo, Thƣờng trung hầu Bùi Thế Thƣờng, Dao trung hầu Võ Tá Dao, Đang trung hầu Bùi Thế Toại (Tụy)…
Bên cạnh các võ tƣớng (trong đó có những ngƣời là đại khoa hoặc giỏi văn chƣơng nhƣ Phạm Đình Trọng), lại có các văn thần có tiếng tăm nhƣ tiến sĩ Lê Hữu Kiều (làm đốc thị), tiến sĩ Trần Danh Lâm, Hoàng giáp Phạm Nguyễn Du (đều làm Đốc đồng), Bảng nhãn Lê Quý Đôn, Hoàng giáp Bùi Huy Bích (đều làm Hiệp trấn), Hƣơng tiến Ngô Thì Sĩ (làm tham chính)…, nhiều ngƣời nhƣ Trần Danh Lâm, Bùi Huy Bích… để lại nhiều văn thơ viết về trấn lỵ Dinh Cầu và vùng phụ cận.
Ở Dinh Cầu cũng thường có các cuộc họp các cống sĩ do các trấn tƣớng hay văn thần chủ trì.
Cuối tháng 5 năm Bính Ngọ (1786) quân Tây Sơn kéo ra Bắc Hà diệt họ Trịnh. Nguyễn Hữu Chỉnh lĩnh quân đi trước, đến đây cho vài trạm du binh (quân lưu động) đổ bộ để dương thanh thế, Trấn thủ Bùi Thế Toại liền đốt dinh trại ở Dinh Cầu chạy trốn. Đầu tháng 6, quân của Tiết chế Nguyễn Huệ kéo đến cửa biển Kỳ Hoa (cửa Khẩu), sai Nguyễn Nhƣ Thái, em rể Nguyễn Hữu Chỉnh tạm quyền làm Trấn thủ Nghệ An, thu nhặt đám tàn quân của Bùi Thế Toại, đƣa ra đóng đồn ở Dũng Quyết (vùng Bến Thủy - Nghệ An)
Năm 1787, Nguyễn Huệ sai phó tƣớng Nguyễn Duệ và Đô đốc Chiêu Vũ hầu Vũ Văn Dũng trấn thủ Nghệ An ra đóng ở Lam Thành. Tả quân Vũ Văn Nhậm đóng ở Đông Hải (Quảng Bình). Ít lâu sau Dũng rút về nam Bố Chánh, Duệ cũng trốn về theo Nguyễn Nhạc, Vũ Văn Nhậm rồi Trần Quang Diệu ra trấn Nghệ An, không trấn ở Dinh Cầu nữa.
Từ đó Dinh Cầu không còn là trấn lỵ mà chỉ là một đồn binh. Trấn lỵ Dinh Cầu hoang tàn dần.
“Đình dài quạnh vắng cỏ thu lấp
Tƣờng lũy hoang tàn nắng quái hoang (thơ Đoàn Nguyễn Tuấn - TKĐ dịch)
Năm 1802, vua Gia Long nhà Nguyễn ra Bắc, ghé qua Hà Trung, sai đắp lại phủ thành Kỳ Hoa ở thôn Nhân Canh (Kỳ Châu). Đồn sở Dinh Cầu bị bỏ hẳn.
Trong những năm 1786-1789 Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc trên đường ra Bắc Hà đã nhiều lần đi qua Kỳ Anh.
Năm 1786, một nhóm chống đối do anh em Nguyễn Tiến Lâm ở Hà Hoàng (Thạch Hà) đã hoạt động trên đất Kỳ Hoa, Thạch Hà. Lần Nguyễn Nhạc từ Thăng Long về Nam, bị Nguyễn Tiến Lâm cầm dao phục kích ở vùng Đèo Ngang, nhƣng bị lộ phải chạy trốn lên vùng Hƣơng Sơn, rồi bị đô đốc Tây Sơn Dƣơng Văn Tào17 giết.
17 - Dương Văn tào quê ở Mỹ Duệ, Cẩm Xuyên, theo giúp nhà Tây Sơ, có công đƣợc phong đến đô đốc.
Cuối đời Tây Sơn, sau khi mất Phú Xuân, vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản chạy ra Trung đô Phƣợng Hoàng ở Nghệ An (TP.Vinh), đô đốc Tào đƣợc giao đóng quân chặn quân Nguyễn ở Đèo Ngang. Nhƣng quân của ông đã bị đội tiên phong do Lê Văn Duyệt chỉ huy đánh tan, ông bị bắt và bị giết.
Các vua đầu triều Nguyễn: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, trên đƣờng Bắc tuần đều đi theo đƣờng bộ qua đây. Riêng chuyến đi của vua Thiệu Trị năm Nhâm Dần (1842) khởi hành từ Phú Xuân ngày 22 tháng Giêng đến ngày 2 tháng hai thì ra đến Đèo Ngang, ngày 3 tháng hai dừng lại cung Tĩnh Sa (Sa xá, nay là Kỳ Văn). Các quan tỉnh Hà Tĩnh là Nguyễn Đồng Khoa, Vũ Đức Nhu không đặt trống báo hiệu nên bị phạt. Ngày 4 tháng Hai xe vua đến hành cung Hà Tĩnh…
Đến ngày 8 tháng Tư, vua lại về qua Đèo Ngang. Trong chuyến đi này vua Thiệu Trị đã có bài thơ đề: Hoành Sơn quan” được khắc trên tấm đá, đặt ở mé đông bắc cổng.
2.2. Những biến động lịch sử từ năm 1841 - 1945
Năm Minh Mạng 17 (1836) tách huyện Kỳ Hoa thành Kỳ Hoa và Hoa Xuyên.
Năm Thiệu Trị thứ nhất 1841 đổi tên Kỳ Hoa thành Kỳ Anh và Hoa Xuyên thành Cẩm Xuyên.
Tên huyện Kỳ Anh và Cẩm Xuyên bắt đầu từ đó. Đặt dƣới phủ Hà Hoa (sau đó là Hà Thanh – từ 1853 là đạo Hà Tĩnh).
Huyện Kỳ Anh lúc do phủ kiêm lý, lúc do phủ hoặc đạo thống hạt.
Lúc do phủ kiêm lý thì không có chức tri huyện mà do tri phủ trực tiếp cai trị huyện
Lúc phủ hay đạo thống hạt thì có chức tri huyện, ở dƣới quyền tri phủ hay quản đạo18.
18 - Theo “Đại Nam nhất thống chí” –Tập II- thì đặt Tri huyện từ năm Tự Đức thứ 6 (1853)
Giúp việc Tri phủ hay Tri huyện có Lại mục (hay Đề lại) và các Thông lại (thời Pháp thuộc sau này gọi là Thừa phái), tức là các thư ký.
Đề lại là thư ký chính, có đôi lúc được quan phụ mẫu cho thay mặt giải quyết một số việc cần cấp không quan trọng.
Khi ở phủ / huyện đƣờng nhiều việc thì có thể gọi thêm một vài ngƣời biết chữ đến giúp sao chép giấy tờ, gọi là các “học sĩ”, và trả ít công.
Cùng với nha lại còn có Lệ mục (đội lệ) cai quản một số lính lệ coi trại giam, canh phòng và hầu hạ ở huyện, chạy thƣ trát...
Ở phủ / huyện còn có một học quan là Giáo thụ (hay Huấn đạo), trực tiếp dạy trƣờng phủ, trƣờng huyện và coi việc học trong hạt.
Về quân sự, thời Lê-Nguyễn, Kỳ Anh vẫn đƣợc chú trọng, tăng cường.
Đời Lê, nhất là thời Trịnh - Nguyễn phân tranh và Trấn lỵ Dinh Cầu đƣợc thiết lập, một bộ phận lớn quân lính của trấn đều tập trung ở đây.
Đời Nguyễn đặt đồn ở huyện lỵ, Đèo Ngang, bảo Thống Lĩnh và ven biển.
Từ cuối triều Lê, đầu triều Nguyễn, lỵ sở phủ Hà Hoa (từ 1841 đời Nguyễn là Hà Thanh) đặt ở thôn Nhân Lý, Nhân Canh (nay là xã Kỳ Châu).
Từ năm Tự Đức thứ 6 (1853) là lỵ sở huyện Kỳ Anh.
Trƣờng học của phủ ở phía nam thành, dựng từ năm Minh Mạng thứ 10 (1830), đến năm Tự Đức thứ 6 (1858) đổi làm trƣờng học huyện. Ở phủ / huyện thành thƣờng xuyên có một đồn binh đóng giữ.
- Từ khi Nguyễn Ánh tiêu diệt nhà Tây Sơn, thống nhất đất nƣớc lập nên Triều đại nhà Nguyễn, lên ngôi vua niên hiệu Gia Long (1802-1820).
- Vua Minh Mạng lên ngôi, nắm quyền từ 1820 đến 1841. Đến lúc này huyện Kỳ Anh vẫn mang tên Kỳ Hoa.
- Đến đời vua Thiệu Trị thứ nhất (1841) Mới đổi Kỳ Hoa thành Kỳ Anh. Lịch sử danh xƣng Kỳ Anh bắt đầu từ đó.
Lịch sử Triều Nguyễn trải qua 13 đời vua từ Gia Long (1802) đến vua Bảo Đại (1945).
Nhƣ vậy, Lịch sử nhà Nguyễn từ triều Gia Long tới Thiệu Trị là 40 năm tƣơng đối ổn định, không có biến cố gì lớn và vùng đất Kỳ Hoa – Kỳ Anh cũng vậy.
Cuối đời Thiệu Trị bắt đầu xuất hiện yếu tố ngƣời Pháp gây hấn ở cửa biển Đà Nẵng từ 1847, 17-2-1859, thành Gia Định thất thủ, thực dân Pháp chính thức đặt chân lên đất nƣớc ta.
Do triều đình Huế ƣơn hèn nên phải ký hòa ƣớc Quý Mùi (1883), rồi hòa ƣớc Pa-tơ-nốt (1885), đất nƣớc ta bị chia làm 3 kỳ (Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ) chịu sự bảo hộ của đế quốc Pháp, mở đầu thời kỳ Pháp đô hộ (1883-1945).
Sau khi ký Hòa ước Pa-tơ-nốt (1885), năm sau 1886 thực dân Pháp đã có mặt tại Hà Tĩnh
Nhưng 10 năm sau (1896) Pháp mới bình định đƣợc mảnh đất Kỳ Anh và thiết lập chế độ bảo hộ19.
19 - Công sứ Pháp đầu tiên ở Hà Tĩnh là Đa-mát (Đamade) đến nhận việc vào tháng 10-1897.
Huyện Kỳ Anh vẫn là một đơn vị hành chính nhƣ trƣớc và do chính quyền Nam triều trực tiếp cai trị với bộ máy nhƣ cũ. Đứng đầu vẫn là Tri huyện đặt dƣới quyền Tuần phủ. Các viên chức huyện đƣờng cũng không thay đổi. Riêng về học chính, sau khi bỏ Hán học (1919) thì huyện không còn chức Huấn đạo nữa.
Nhƣng sau khi triều đình Huế đặt Bộ Quốc gia giáo dục để quản lý bậc giáo dục tiểu học mà chính quyền Pháp giao lại, huyện lại đặt Huấn đạo, dƣới quyền Đốc học.
Các ngành kinh tế, xã hội, tài chính, binh bị đều do chính quyền bảo hộ Pháp-đại diện là công sứ Pháp ở tỉnh-nắm.
Ở huyện có một trạm thuế quan (ở huyện lỵ), một đồn kiểm lâm, các trạm y tế (ở huyện lỵ và ở Tuần Tƣợng), một sở điện báo (ở huyện lỵ), và các trạm bƣu chính (ở huyện lỵ, Tuần Tƣợng, Thần Đầu)…
Về tài chính, các thứ thuế đinh, thuế điền, thuế chợ do chính quyền Nam triều đôn đốc thu rồi nộp lên tỉnh, nhƣng do chính quyền bảo hộ quản lý. Thuế gỗ và lâm sản (do đồn kiểm lâm thu) và các khoản thu khác nhƣ bƣu chính, y tế, thú y… cũng đều do chính quyền Pháp nắm.
Về binh bị, theo tài liệu của Pháp thì khi đặt xong quyền đô hộ, số lính cảnh vệ chỉ đóng đồn ở tỉnh (83 ngƣời) và ở Linh Cảm, Phúc Trạch, Kim Cƣơng, Nhận Xá.
Đến trƣớc năm 1930, số lính cảnh vệ (khố xanh) tăng lên nhiều (559 ngƣời Việt, 13 ngƣời Âu do 1 chánh thanh tra chỉ huy toàn lữ (giám binh).
Ở Kỳ Anh (và các huyện) có đồn khố xanh do một phó thanh tra ngƣời Pháp làm đồn trƣởng.
Trong thời kỳ 1930-1931, Pháp còn đặt thêm 2 đồn ở Tuần Tƣợng và Xuân Sơn. Lại đặt Bang Tá với một toán lính và các tổng đoàn, xã đoàn lo việc tuần tiễu, canh phòng.
Dƣới huyện, từ cuối đời Lê, đầu đời Nguyễn đã đặt thêm tổng. Tổng là đơn vị trung gian giữa phủ, huyện và thôn…, làm nhiệm vụ thi hành, Tri huyện đôn đốc, xã, thôn thi hành công vụ.
Tổng có chánh tổng (trƣớc gọi là cai tổng), và phó tổng đứng đầu. Chánh, phó tổng do lý hƣơng, hào mục các xã, thôn bầu cử rồi do Tuần phủ duyệt y, cấp bằng.
Xã, thôn có Lý trƣởng (trƣớc gọi là xã trƣởng), phƣờng, vạn (trƣớc có phƣờng trƣởng, vạn trƣởng) sau đều gọi là Lý trƣởng. Xã lớn có thêm phó lý, giúp việc lý trƣởng có ngũ hƣơng:
- Hương bộ: coi việc sổ sách đinh, điền của làng (năm 1930 có đặt thêm các chức tri bộ để coi việc ghi sổ sinh, tử, giá thú, nhƣng có xã do hƣơng bộ kiêm nhiệm).
- Hương bản: coi việc tài chính, giữ quỹ làng.
- Hương kiểm: coi việc đƣờng sá, canh phòng (1931 thêm Tuần trấp, bang tá).
- Hương mục: coi việc đình, từ, tế lễ (ở đây theo “Địa dƣ Hà Tĩnh”), có tài liệu chép: Hƣơng mục coi về kiều lương đạo lộ (cầu cống, đƣờng sá)?
- Hƣơng dịch: coi việc phu phen, truyền tin tức…
Bên cạnh lý hƣơng, từ năm 1931 còn có Hội đồng đại hào mục, gồm những ngƣời cao tuổi, có chức tƣớc (nhƣ hƣu quan, ngƣời đƣợc phong sắc, cựu tổng, lý…) và những ngƣời có hiểu biết, đƣợc tín nhiệm… Hội đồng tuy không thực chức nhƣng có tiếng nói quan trọng, giữ vai trò quyết định mọi việc của làng, xã, lý hƣơng chỉ là kẻ thừa hành. (Hội đồng này thời cuối gọi là Ban)
Để kiểm soát thật chặt chẽ, ngăn chặn sự chống đối của nhân dân, chính quyền Pháp còn đặt thêm “Hội đồng tộc biểu” gồm tộc trƣởng hoặc đại diện uy tín nhất trong các họ, giao cho họ trách nhiệm giáo dục con em không đƣợc tham gia các phong trào, hoạt động cách mạng.
Về vai trò của lý hương, hào mục, một tài liệu của Tòa công sứ Hà Tĩnh đánh giá “Họ là những đại lý bắt buộc đứng giữa dân chúng và chính phủ. Nhiệm vụ của họ là rất quan trọng. Chính là dựa vào họ, vào tác dụng và bản chất của họ, nên trƣớc hết mọi thể lệ và quy chế xã hội đều thực hiện đƣợc tốt, nền phúc lợi và an ninh của dân cƣ phần lớn đều tùy thuộc họ mà có, nhất là các vùng nông thôn hẻo lánh”20.
20 - Sách “Kỳ Anh phong thổ ký” chép: “… các xã, thôn nhƣ Trảo Nha, Long Trì thuộc tổng Đậu Chử, Tuần Tƣợng, Yên hạ, Xuân Cẩm thuộc tổng Cấp Dẫn đều có sang kiến lập kho nghĩa thƣơng, hoặc thu trữ sƣơng túc, hoặc khuyến khích các nhà giàu có trong vùng cúng vào quỹ nghĩa thƣơng. Lúa nghĩa thƣơng có sổ sách ghi chép cẩn thận từng khoản, từng mục, do lý trƣởng, hƣơng hộ coi quản cho vay thu lãi, gặp năm đói kém thì xuất lúa ấy cho dân vay tạm, hoặc trích ra giúp đỡ vào sƣu ích, làm lợi cho dân…”
2.3. Phong trào đấu tranh yêu nƣớc (1841 - 1945)
Ngay từ lúc triều đình Huế ký hòa ƣớc Giáp Tuất (1874), rồi hòa ƣớc Quý Tỵ (1883), hòa ƣớc Giáp Thân (1884) nhân dân Kỳ Anh đã tham gia cuộc khởi nghĩa cờ vàng (1874) và phong trào Cần Vƣơng 1885-1895.
Quân Pháp đánh chiếm Hà Nội lần thứ 2 (25-4-1882), rồi đánh cửa Thuận An (18-8-1883)
Triều đình Huế liên tiếp ký Hòa ƣớc Quý Tỵ (tức “Hiệp ƣớc Hác-măng (Harmant) ngày 24-7 Qúy Tỵ “25-8-1883”).
Rồi Hòa ƣớc Giáp Thân (tức Hiệp ƣớc Pa-tơ-not “Patenotre” ngày 13-5 Giáp Thân 6-6-1884) thừa nhận nền đô hộ của Pháp ở Việt Nam.
Theo hòa ƣớc trƣớc, quân Pháp đƣợc đóng ở Đèo Ngang, còn Hiệp ƣớc sau, các tỉnh Bình Thuận và Thanh, Nghệ, Tĩnh do Nam triều cai quản. Nhƣng tháng 7-1885, đại tá Pháp Chaumont đang đóng quân trong thành Quảng Bình giao cho thiếu tá Gờ-rê-goa ở lại, về Đà Nẵng đƣa quân và chiến thuyền ra đánh chiếm thành Nghệ An. Văn thân Nghệ Tĩnh liền kêu gọi nhân dân đứng lên chống xâm lƣợc.
Ở Trung Lễ (Đức Thọ) cậu ấm Lê Ninh (1857 - 1887) dựng cờ khởi nghĩa. Liền đó vua Hàm Nghi ra tới Sơn Phòng Hà Tĩnh, hạ chiếu cần vƣơng lần thứ hai (20-9-1885). Theo lệnh nhà vua, Lê Ninh đánh hạ thành Hà Tĩnh ngày 6-11-1885 (có nơi chép ngày 5-11) gây tiếng vang lớn. Lần lƣợt các đội nghĩa quân đƣợc sĩ phu và thủ lĩnh nông dân thành lập ở khắp tám phủ, huyện trong tỉnh. (có tài liệu chép 20 cuộc khởi nghĩa)
Riêng ở Kỳ Anh có các đội quân của Dƣơng Xuân Ôn ở Nhƣ Nhật (Kỳ Xuân), Trần Công Thƣởng ở Long Trì (Kỳ Phú, ông là một nhà nho), Hồ Du ở Sơn Luật (Kỳ Thọ - họ Hồ có 8 đời làm Chánh tổng Đậu Chữ, ông cũng là Chánh tổng), Nguyễn Văn Bỉnh ở Quyền Hành (Kỳ Trinh - sau tham gia nghĩa quân Phan Đình Phùng và hy sinh), Lê Nhất Hoàn ở Mỹ Lụ (Kỳ Văn - ông là con trƣởng Hoàng giáp Lê Tuấn, đỗ cử nhân thời Tự Đức), Nguyễn Tiến Thƣớc ở Hữu Lạc (Kỳ Bắc - là con Nguyễn Tiến Ƣớc làm phó tổng đoàn), Võ Phát (hay Hoạt) ở Đan Du (Kỳ Thƣ -tùng giữ chức Bang biện quân vụ - cử nhân võ?)...
Lúc Lê Ninh vào đánh thành Hà Tĩnh thì các đội nghĩa quân ở Kỳ Anh mới hình thành, chƣa có hoạt động gì để phối hợp nhƣ các đội nghĩa quân khác trong tỉnh.
Lúc này quân Pháp ở Nghệ An cũng đang lo đối phó với các cuộc nổi dậy ở Nghệ An và bắc Hà Tĩnh.
Mãi đến tháng Giêng năm Bính Tuất (2-1886), trung tá Mi-nhô (Mignot) mới đƣa quân từ Bắc Kỳ vào Nghệ An, rồi chia làm hai đƣờng tiến vào Hà Tĩnh. Thiếu tá Pen-lơ-chi-ê chỉ huy đội lính tập theo con đƣờng Ngàn Sâu vào Tuyên Hóa (Quảng Bình), phối hợp với đại úy Mu-tô bao vây, lùng tìm vua Hàm Nghi. Mi-nhô đƣa quân theo đƣờng thiên lý vào chiếm đóng lại thành Hà Tĩnh, lập lại trật tự, tổ chức ngụy quyền, ngụy quân, bố trí lực lƣợng đồn trú, phòng thủ trong tỉnh tạm ổn rồi Mi-nhô rút vào sông Gianh
Ở Kỳ Anh có 2 đồn binh Pháp-ngụy, đồn chính đặt ở trong huyện thành, (ở làng Nhân Lý-nay Kỳ Châu), đồn nhỏ ở Voi. Các đồn này có nhiệm vụ khống chế phía nam Hà Tĩnh, truy tìm tiêu diệt lực lƣợng Cần vƣơng ở đây.
Vào những năm 1887-1888, các đội nghĩa quân ở Kỳ Anh đã khá đông, nhƣng tổ chức và hoạt động phân tán, thiếu khí giới, lƣơng thực. Bƣớc đầu có vài trân đánh lẻ tẻ, nhƣ lần Chánh tổng Hồ Du đƣa một toán quân xuống đánh Pháp ở cửa Khẩu, bị thất bại và tan rã.
Dần dần, các nhóm nghĩa quân quy tụ lại dƣới sự chỉ huy của Võ Phát, lấy vùng Vọng Liệu - Hoành Sơn làm căn cứ. Đây là một trong những lực lƣợng mạnh lúc bấy giờ ờ Hà Tĩnh.
Tháng 9-1889, Phan Đình Phùng ở Bắc về, cùng Cao Thắng khẩn trƣơng tổ chức lại lực lƣợng kháng chiến ở bốn tỉnh: (Thanh Hóa - Nghệ An - Hà Tĩnh - Quảng Bình), chia làm 15 quân thứ. Lực lƣợng nghĩa quân Kỳ Anh hòa nhập với phong trào chung, trở thành một trong mƣời quân thứ trên địa bàn Hà Tĩnh.- “Kỳ thứ”- do Võ Phát chỉ huy. (Sách “Phan Đình Phùng” (ĐD) chép Võ Phát phụ trách “Kỳ thứ”. Các tài liệu ở Kỳ Anh không nói gì về những ngƣời chỉ huy “Kỳ thứ” mà chỉ ghi Võ Hoạt làm việc đốc thúc binh lƣơng Cầm - Kỳ)
Theo một số tài liệu thì nghĩa quân đã mở nhiều trận đánh, làm cho địch thiệt hại không ít. Đó là các trận Cồn Đìa ở Đan Du (Kỳ Thƣ), Cồn Dài ở Sơn Tịnh (Kỳ Xuân), Cồ Viên Tập? (Kỳ Trinh - Kỳ Hƣng)
Tháng 4-1892, quân Pháp mở một đợt càn quét lớn vào căn cứ Trƣờng Sim (Hƣơng Sơn). Theo lệnh của Đại bản doanh Hƣơng Khê, các quân thứ đều hoạt động mạnh để kéo chúng về phía đồng bằng. Ban chỉ huy “Kỳ thứ” mở hai cuộc tấn công vào đồn binh Pháp ở huyện thành và ở Voi. Bài viết trên báo Nhân dân ngày 9-11-1986 đã dẫn, miêu tả nhƣ sau:
“Trận ban đêm đánh quân Pháp đóng trong đồn huyện lỵ Kỳ Anh... Hai bên đƣờng nghĩa quân phục kích sẵn. Phía trƣớc vài ngƣời nổ súng nhử địch ra..., quân ta từ hai bên đường xông ra giết nhiều địch rồi rút về căn cứ an toàn”. Sau trận này, chỉ huy quân Pháp ở Kỳ Anh là Huy-nhi và Mari-a-ni rất lo sợ, mở cuộc càn quét lên vùng rừng núi Vọng Liệu”.
Giữa lúc đó thì, cũng theo bài báo viết: “Quân ta lập mƣu cho ngƣời đến báo cho Huy-nhi biết chỗ đóng quân, Huy-nhi liền hành quân đến nơi thì thấy trại bỏ trống. Thừa cơ quân ta từ trại Chè ập quân đến đánh đồn quân địch đóng ở Voi..., thiếu úy Bờ-ri-cu biết tin liền đem 25 quân từ Kỳ Anh ra ứng cứu. Quân ta phục kích chặn đánh gây thiệt hại cho địch ở Nhƣ Nhật. Huy-nhi đang hành quân liền chia làm hai ngả kéo xuống Voi hòng tập kích... song quân ta đã rút về căn cứ từ lâu…”. Trong trận đánh đồn Voi, do đồn trƣởng Y-en-la-men chỉ huy, nghĩa quân tiêu diệt một số binh lính Pháp, thu 12 khẩu súng”.
Đây là những trận đánh nổi bật của nghĩa quân “Kỳ thứ‟. Từ đó về sau không có những hoạt động đáng kể.
Tháng 11-1893, Chƣởng vệ Cao Thắng hy sinh. Nghĩa quân Cần vƣơng liên tiếp bị quân Pháp tấn công, nên suy yếu dần, cho đến lúc tan rã hẳn sau cái chết của Phan Đình Phùng (28-12-1895).
Nghĩa quân “Kỳ thứ” trong trận chặn quân Pháp từ Huế ra, đã bị thiết hại lớn. Võ Phát chỉ huy quân thứ bị bắt sống và bị giết. Đó cũng là trận cuối cùng ở Kỳ Anh.
Lúc phong trào tan rã, nhiều chỉ huy và nghĩa quân bị bắt và bị tàn sát.
***
Năm 1905 Phan Bội Châu xuất dƣơng rồi trở về vận động phong trào Đông du - Duy tân. Theo lời kể của một số ngƣời già thì cụ Phan Bội Châu có đến ở nhà Phan Công Hậu, liên lạc với Đầu xứ Phan Công Kế. Sau đó Phan Công Phức, Phan Công Hậu xuất dƣơng, Phan Công Phả cũng tham gia Đông kinh nghĩa thục rồi sang Quảng Đông - Trung quốc.
Một nhân vật trọng yếu khác là Nguyễn Thức Canh, con Sơn phòng sứ Nguyễn Thức Tự ở Nghi Lộc - Nghệ An trƣớc khi xuất dƣơng cũng từng mƣợn cớ đi bát ví, vào vận động phong trào yêu nƣớc ở Kỳ Anh.
Trong phong trào chống thuế 1905, hƣởng ứng lời kêu gọi của Nguyễn Hoàng Chi, các nhà nho Kỳ Anh cũng đã vận động một số đồng bào ở hai xã Hà trung, Đan Du (Kỳ Văn, Kỳ Thƣ) tổ chức biểu tình, hƣởng ứng dân nghèo Can Lộc, Thạch Hà kéo vào xin sƣu ở tỉnh lỵ.
Từ giữa năm 1928, đảng Việt Tân bắt đầu gây cơ sở ở Kỳ Anh21. Cuối năm ấy, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh xây dựng đƣợc một tổ ghép gồm 5 đảng viên. Sau đó cơ sở đảng đƣợc xây dựng ở các tổng Cấp Dẫn, Hà Trung và thành lập đại tổ (tức huyện đảng bộ) Kỳ Anh, do Hoàng Lƣơng làm bí thƣ.
21 - Từ 31-12-1929 đảng Tân Việt cải tổ, đổi thành Đông Dƣơng cộng sản Liên đoàn, nhƣng các đảng viên cơ sở vẫn hoạt động theo chủ trƣơng cũ và với danh nghĩa Tân Việt.
Ở Hữu Lạc, Phương Giai, Tuần Tƣợng các đảng viên Tân Việt hoạt động tƣơng đối khá. Ở Hữu Lạc có tổ chức “hội lợp nhà”, có quỹ tƣơng tế đƣợc 3 tấn thóc, và cuộc chống cƣờng hào Lê Ngọc Thiện tham nhũng…
Đầu năm 1930, hạn hán kéo dài, các đảng viên Tân Việt xuất tiền gạo, tạm ứng thuế của điền chủ cho dân vay, hoặc mua gạo về bán làm cho giá gạo hạ xuống…
Lúc này ở Kỳ Anh chƣa có cơ sở của tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội.
Hội nghị thống nhất các tổ chức cách mạng ở Việt Nam họp ngày 3-2-1930 tại Hồng Kông đã quyết định thành lập Đảng công sản Việt Nam.
Cuối tháng 3-1930, xứ ủy Trung Kỳ đã ủy nhiệm Trần Hữu Thiều22 triệu tập thành lập đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh (Hội nghị họp ở bến đò Thƣợng Trụ, Can Lộc). Ban Tỉnh ủy lâm thời do Trần Hữu Thiều làm bí thư.
22 - Trần Hữu Thiều (1906-1931) quê làng Dƣơng Xuân, tổng Đặng Sơn, nay là xã Lĩnh Sơn - Anh Sơn - Nghệ An - còn có tên là Nguyễn Trung Thiên, sau bị Pháp bắt giam ở lao Hà Tĩnh rồi bị xử tử 11-2-1931 ở làng Phù Minh, Can Lộc.
23 - Trần Hung quê Đúc Thọ, dạy học, thƣờng gọi là giáo Hƣng, sau bị Pháp bắt và xử tử.
Cũng trong tháng 3-1930, Tỉnh ủy lâm thời cử Trần Hƣng23 vào bắt mối, kết nạp đảng viên, thành lập các chi bô, xây dựng Đảng bộ Kỳ Anh. Một số đảng viên Tân Việt cũ là Bùi Thị, Nguyễn Tiến Liên, Nguyễn Trọng Bình, Nguyễn Tể đƣợc tổ chức vào đảng cộng sản. Tháng 5-1930, toàn huyện đã có 7 chi bộ gồm 42 đảng viên"24".
24 - “Theo lịch sử đảng bộ huyện Kỳ Anh” các chi bộ ấy là: 1-Chi bộ Duy Liệt có 8 đv, bí thƣ Đặng Hàm.2-chi bộ Dị Nậu có 3 đv, bí thƣ Nguyễn Trọng Bình, 3-chi bộ Cấp Dẫn có 9 đv, bí thƣ Dƣơng Xuân Trạm, 4-chi bộ Tuần Tƣợng, có 8 đv, bí thƣ Lê Ngọc Triện, 5- chi bộ Hà Trung 5 đv, bí thƣ Nguyễn Qúy Yêm, 6-chi bộ Xuân Sơn, có 5 đv, bí thƣ Hoàng Thấu, 7-chi bộ Nhân Hiệu, 4 đv, bí thƣ Nguyễn Tế
Hội nghị đại biểu các chi hội họp vào tháng 6-1930 ở thôn Phƣơng Giai (xã Kỳ Bắc). Hội nghị đã nghe chính cƣơng, sách lƣợc tóm tắt và điều lệ đảng, thảo luận kế hoạch phát triễn đảng bộ, xây dựng các tổ chƣc quần chúng và tổ chức tự vệ. Hội nghị cử ban Huyện ủy lâm thời gồm 7 ngƣời do Nguyễn Tiến Liên làm bí thƣ. Sau hội nghị này thêm 2 chi bộ nữa đƣợc thành lập ồm chi bộ Tùng Lâm (Kỳ Lạc) có 3 đảng viên, chi bộ Hƣng Phú (Kỳ Hƣng) có 4 đảng viên.
Đến tháng 9-1930, Huyện đảng bộ có 9 chi bộ và 93 đảng viên.
Nông hội có cơ sở ở 27 thôn với 875 hội viên, các đội tự vệ có 305 đội viên. Phong trào quần chúng phát triễn tốt, nhất là các thôn Dị Nậu, Tuần Tƣợng (tổng Cấp Dẫn), Đan Du, Thanh Sơn, Mỹ Lũ (tổng Hà Trung), Xuân Sơn, Lạc Sơn, Mỹ Sơn (tổng Vọng Liễu)
Mở đầu phong trào đấu tranh của nhân dân Kỳ Anh thời Xô Viết Nghệ Tĩnh là cuộc rải truyền đơn, treo cờ Đảng ở huyện lỵ và Động Tuần nhân ngày chống chiến tranh đế quốc (1-8-1930). Tiếp đó là việc nông dân Tuần Tƣợng, Hữu Lạc, Phú Dẫn, Mỹ Lũ, Thanh Sơn, Đan Du đấu tranh đòi chia lại ruộng đất, đòi tăng tiền công, lúa công, có nơi nhƣ Hữu Lạc nông dân không chịu đi cấy, đi gặt buộc địa chủ phải nhƣợng bộ. Nông dân Yên Hạ, Phú Dẫn, Hữu Lạc, Đan Du có cả một số lý trƣởng tham gia, đòi chánh tổng bỏ “phòng phu” và phải trả tiền công cho những ngƣời bị bắt khiêng cáng, nhân dân nhiều nơi đòi sửa đổi hƣơng chính, bài trừ hủ tục trong việc ma chay, cƣới xin…
Cùng thời gian này còn có các cuộc treo cờ đảng, rải truyền đơn ở huyện lỵ, ở Cụp Cọi, Cầu Trộ, rú Đọ, rú Trập…
Có tiếng vang lớn nhất là cuộc biểu tình tranh đấu ngày 9-9-1930, đốt phá huyện đƣờng, phá trại giam, hƣởng ứng cuộc đấu tranh của công nhân Bến Thủy và nhân dân Thanh Chƣơng, Hƣng Nguyên, Nam Đàn (Nghệ An) theo chủ trƣơng của tỉnh ủy Hà Tĩnh, có khoảng 3000 ngƣời tham gia, làm cho tri huyện Lê Đức Trinh phải bỏ trốn:
Sáng ngày 9-9-1930, hàng nghìn nông dân Kỳ Anh từ các xã trong huyện đã tập trung ở Cụp Nƣớc Mắm (Kỳ Thọ). Đoàn biểu tình đội ngũ chỉnh tề do Nguyễn Trọng Bình chỉ huy, theo đƣờng quốc lộ kéo thẳng về huyện lỵ. Ngọn cờ đỏ búa liềm phất phới trong gió sớm. Đội tự vệ do Lê Quế phụ trách chia nhau đi bảo vệ trƣớc và sau. Đoàn người háo hức, vừa đi vừa hô khẩu hiệu tranh đấu, lôi cuốn thêm ngƣời các làng ven đƣờng tham gia, nên mỗi lúc mỗi đông.
Ở ngã ba đƣờng rẽ vào huyện, thông lại Trần Đình Xí và hai lính lệ đã đứng ngăn đoàn biểu tình lại, hòng bắt giữ những ngƣời cầm đầu. Nhƣng họ liền bị tự vệ bắt trói giải về huyện.
Khi đoàn biểu tình vào tới nơi, tri huyện Lê Đức Trinh cùng nha lại, lính tráng đều đã bỏ trốn. Công đƣờng vắng ngắt. Quần chúng xô vào đốt sổ sách giấy tờ, phá trại lính, mở cửa trại giam, thả hết những ngƣời bị cầm tù. Ban chỉ huy đƣa bản yêu sách bắt Trần Đình Xí ký tên, đóng dấu và hứa chuyển lên công sứ tỉnh.
Cuộc đấu tranh thắng lợi, quần chúng chia nhiều ngả kéo về. Riêng đoàn của tổng Cấp Dẫn kéo ra đến Ba Động (Kỳ Khang, Kỳ Phú) thì gặp ô tô của phó sứ, giám binh Hà Tĩnh cùng 12 lính khố xanh vừa từ tỉnh vào. Mọi ngƣời liền chặn xe lại, đòi viên Phó sứ phải nhận yêu sách của nhân dân. Vợ viên phó sứ hốt hoảng, giật súng lục của chồng bắn vào đám đông. Hai ngƣời đứng gần là Lê Quế và Viên Lợi bị thƣơng nặng. Đoàn ngƣời không nao núng, la ó phản đối quyết liệt. Viên phó sứ bèn ra lệnh cho xe quay về tỉnh.
Khoảng một giờ sau, máy bay từ Vinh vào lƣợn vòng quanh huyện lỵ, nhƣng đoàn ngƣời biểu tình đã giải tán từ lâu.
Hôm sau, Lê Quế chết. Mặc dầu bị lụt lớn, Huyện ủy vẫn triệu tập họp (ở Kỳ Khang) để kiểm điểm tình hình, rút kinh nghiệm và bàn kế hoạch truy điệu Lê Quế. (theo lịch sử đảng bộ huyện Kỳ Anh)
Nhƣng sau cuộc biểu tình này, chính quyền Pháp ra tay khủng bố. Các toán lính khố xanh, lính lê dƣơng đi lùng sục, đốt phá nhà cửa ở Xuân Sơn (Kỳ Lạc), Yên Hạ (Kỳ Tiến), Thiện Lợi (Kỳ Tân)…, nhiều đảng viên và quần chúng cách mạng bị bắt.
Ngày 2-1-1931, Pháp đƣa huyện ủy viên Nguyễn Trọng Bình ra xử tử ở bên thành huyện để uy hiếp tinh thần quần chúng. Nhƣng mấy hôm sau hàng trăm ngƣời đã tổ chức truy điệu Nguyễn Trọng Bình ở Cồn Rèng (Kỳ Hoa).
Tháng 3-1931, một số đảng viên còn lại đã bắt liên lạc đƣợc với huyện ủy Cẩm Xuyên, Cẩm Xuyên cử Đặng Phƣợng vào Kỳ Anh, cùng Dƣơng Duyến triệu tập các đảng viên ở Đan Du, Nhân Canh, Thiện Lợi bàn việc củng cố tổ chức.
Tháng 5-1931, tỉnh ủy Hà Tĩnh cử 2 cán bộ mở cuộc họp ở miếu Rỏi (Kỳ Văn), có 15 đảng viên tham gia, bàn kế hoạch củng cố lại phong trào và cử ban cán sự huyện gồm 5 ngƣời do Dƣơng Duyến làm bí thƣ.
Sau hội nghị này, các chi bộ Đan Du, Đại Đồng, Thanh Mỹ, Nhân Hiệu, Xuân Sơn đƣợc củng cố (có 38 đảng viên). Nông hội cùng các hội tƣơng tế, ái hữu được phục hồi.
Rồi sau cuộc hội nghị ngày 28-8-1931 ở rẫy ông Nghệ (Kỳ Hoa) các tổ chức lấy lại đƣợc khí thế, bắt đầu có các cuộc đấu tranh chống cƣờng hào nhũng loạn. Cơ quan Huyện ủy trƣớc tạm dời lên Xuân Lạc (Kỳ Lạc) lại đƣợc chuyển về Sa Xá (Kỳ Văn)
Các lễ kỷ niệm Xô Viết Nghệ Tĩnh, Quảng Châu công xã, Cách mạng tháng Mƣời Nga, đƣợc tổ chức ở các nơi có chi bộ đảng với hình thức treo cờ, mít tinh nhỏ…
Lúc này chính quyền Pháp đƣa lính khố xanh về đóng thêm 2 đồn ở Xuân Sơn (Kỳ Lạc) và cồn Bình Xuyên (ở Kỳ Bắc). Cuộc khủng bố ngày càng quyết liệt, nhiều đảng viên bị bắt, nhiều chi bộ đảng và tổ chức quần chúng bị phá vở.
Tháng 2-1932, với sự cố gắng của một số đảng viên, 11 chi bộ đƣợc phục hồi, nhƣng rồi lại nhanh chóng bị phá vở. Vào giữa năm tất cả các huyện ủy viên và hầu hết đảng viên đều bị bắt và tù đày...
Thời Mặt trận bình dân lên cầm quyền ở Pháp, một số đảng viên ở các nhà tù Lao Bảo, Kon-Tum… đƣợc tha về địa phƣơng lại bắt đầu hoạt động, vận động đọc sách báo, lấy nguyện vọng của nhân dân, chuẩn bị đón Gô-đa (đảng viên đảng xã hội Pháp, đƣợc chính phủ Mặt trận bình dân Pháp cử sang kiểm tra tình hình Đông dƣơng - 1937).
Tháng 6, tháng 7- 1938, tỉnh ủy Hà Tĩnh liên tiếp tổ chức hai cuộc họp (đại biểu Kỳ Anh là Lê Bính và Nguyễn Duy Khiêm), bàn kế hoạch cũng cố lại phong trào.
Tháng 9-1938, Tỉnh ủy chỉ định ban cán sự huyện gồm 3 ngƣời, phong trào đƣợc nhen nhúm lại, nhƣng chiến tranh thế giới bùng nổ, chính quyền Pháp lại ra sức khủng bố, đảng viên, quần chúng cách mạng lại bị bắt.
Sau Ngày 9-3-1945, Nhật lật đổ Pháp, chính phủ Trần Trọng Kim đƣợc thành lập. Một số tù chính trị vƣợt khỏi nhà tù trở về. Việt Minh liên tỉnh Nghệ Tĩnh bắt đầu hoạt động.
Tháng 6-1945, Phạm Thể và Tôn Sỹ Khuê trong chấp ủy Việt minh Nam Hà (nam Hà Tĩnh) liên lạc với một số đảng viên ở Kỳ Anh bàn việc xây dựng các tổ chức cứu quốc và đẩy mạnh hoạt động cứu nƣớc.
Từ đó, phong trào quần chúng phát triễn rầm rộ, nhanh chóng dƣới sự lảnh đạo của Việt Minh.
Đến ngày 18-8-1945, nhân dân Kỳ Anh nổi dậy cướp chính quyền.
2.4. Mặt trận Việt Minh - Khởi nghĩa dành chính quyền 25 Ngày 9-3-1945 thực dân Pháp đầu hàng quân Nhật. Hội nghị Ban thƣờng vụ trung ƣơng đảng từ 9-12/3-1945 nhận định cuộc khởi nghĩa đã chín muồi, chủ trƣơng nêu khẩu hiệu: “Đánh đuổi phát xít Nhật” thay cho khẩu hiệu “Đánh đuổi Nhật-Pháp” trƣớc đó, và phát động phong trào chống Nhật cứu nƣớc, gấp rút tiến tới tổng khởi nghĩa, giành chính quyền. Hội nghị đã công bố chỉ thị lịch sử: “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”.
25 Lƣợc trích Hồi Ký “Mặt trận Việt Minh dành chính quyền ở Kỳ Anh” của bác Nguyễn Thuận - nguyên chủ tịch ủy ban khởi nghĩa huyện Kỳ Anh. Nguyên phó giám đốc sở Văn hóa Thông tin Hà Tĩnh. (Đã thông qua hội thảo góp ý kiến vào lịch sử đảng bộ kỳ Anh).
Trƣớc sự biến đổi nhanh chóng của tình hình trong nƣớc, ở các huyện Đức Thọ, Hƣơng Sơn, Hƣơng Khê… cao trào cách mạng đã đƣợc phát triển tƣơng đối nhanh, nhiều yếu tố mới xuất hiện, một số nơi đã thành lập đƣợc tổ chức Việt Minh.
Ở huyện Kỳ Anh, một số đồng chí cũ (không bị Pháp và Nam triều bắt tại các năm 1941 - 1943) đã tự động liên lạc với nhau. Nhƣng do Kỳ Anh là một huyện miền núi, việc đi lại giữa vùng xuôi, vùng ngƣợc, vùng trong, vùng ngoài rất khó khăn cách trở nên các đồng chí ở vùng nào chỉ biết vùng đó.
Giữa lúc các đồng chí này đang khẩn trƣơng tìm các biện pháp hoạt động thì một số đồng chí chiến sĩ cách mạng ở các nhà tù đế quốc trở về.
Đồng chí Nguyễn Thuận ở xã Kỳ Bắc hoạt động ở Thanh Hóa ra khỏi nhà tù ở Thanh Hóa về Kỳ Anh ngày 20-4-1945. Đồng chí đã tập hợp các đảng viên cũ ở các vùng Hữu Lạc (nay là Kỳ Bắc), Tuần Tƣợng (Kỳ Phong), Yên Hạ (Kỳ Tiến), Mạc Khê, Hoàng Giang (Kỳ Giang), Xuân Cẩm (Kỳ Xuân), gồm các ông: Lê Ngọc Triện (thƣờng đƣợc gọi là Dục Nghĩa), Chắt Đƣờng (Cao Đƣờng), Thanh Thủy, Dƣơng Trạm, Nguyễn Tiến Sum (Nguyễn Tiến Huệ), Ngạch Huân, Trƣờng Ngoạn…, cuộc họp đầu tiên ở gác hai nhà đ/c Nguyễn Thuận.
Trong cuộc họp đồng chí Thuận báo cáo tình hình khẩn trƣơng của giai đoạn cách mạng, và bàn bạc trao đổi các hoạt động theo đúng chƣơng trình hành động của Việt Minh, tìm cách bắt liên lạc với các đồng chí các vùng trong huyện và bắt liên lạc với cấp trên.
Chẳng bao lâu sau, liên lạc đƣợc với ông Tôn Sĩ Khuê, phái viên của cấp trên từ Cẩm Nhƣợng vào.
Ngày 18-5-1945, hai đồng chí Nguyễn Huân (Huân Tể) ở Ngân Tƣợng (nay là Kỳ Châu) và Nguyễn Duy Khiêm ở Đan Du (Kỳ Thƣ) ở nhà tù Ban Mê Thuột về, phong trào đƣợc thêm cốt cán ở vùng giữa và bắt liên lạc đƣợc với vùng trên (Lâm, Sơn, Thƣợng, Lạc).
Phong trào cách mạng phát triển rộng ở vùng Voi, các tầng lớp nhân dân tham gia mặt trận Việt Minh, nhằm mục đích gây phong trào chống Nhật cứu nƣớc.
Hoạt động của tổ chức Phan Anh (một tổ chức chính trị của chính phủ Trần Trọng Kim thân Nhật) bị phân hóa và hầu hết các thành viên đều ngã vào hàng ngũ Việt Minh, kể cả thủ lĩnh của tổ chức này ở vùng Voi.
Một cuộc họp các đồng chí cốt cán phong trào vùng Voi tại nhà đồng chí Lê Ngọc Triện, do đồng chí Tôn Sĩ Khuê chủ trì (vì đƣờng xa nên không thể mời các đồng chí vùng trong và vùng trên tham gia).
Ngày 17-5-1945, đã cử một Ban chấp hành Huyện ủy Việt Minh lâm thời gồm 5 ông: Lê Ngọc Triện, Nguyễn Thuận, Chắt Đƣờng, Thanh Thủy và Xảo Kính. (đồng chí Xảo Kính vừa đƣợc kết nạp vào Việt Minh do ông Tôn Sĩ Khuê thay mặt Việt Minh cấp trên công nhận). Mọi ngƣời nhất trí cử đồng chí Xảo Kính làm bí thƣ. Việc để đồng chí Xảo Kính làm bí thƣ là mọi ngƣời muốn tỏ ra rằng Mặt trận Việt Minh là mặt trận yêu nƣớc của toàn dân, không phân biệt, giàu nghèo, giai cấp, đẳng cấp xã hội. Nếu để 1 trong bốn đồng chí khác làm bí thƣ thì e rằng có ngƣời cho đây là tổ chức thuần túy của những ngƣời cộng sản, vì cả bốn đều tù nhân chính trị (tù cộng sản) vừa ở các nhà tù đế quốc trở về.
Quan tri huyện Kỳ Anh cuối cùng
Tri huyện Kỳ Anh hồi này là Nguyễn Hòa Phẩm, ngƣời này đã từng tham gia bắt bớ các chiến sĩ cộng sản ở Thanh Hóa, đã từng quen biết đồng chí Nguyễn Thuận khi hoạt động ở thị xã Thanh Hóa và cũng chính Nguyễn Hòa Phẩm cùng tay sai mật thám đế quốc và Nam triều tham gia vụ bắt đồng chí Thuận. Từ ngày đồng chí Thuận về quê Nguyễn Hòa Thuận đã cho tên thừa phái thầy nhì - một tay chân đắc lực - tìm cách tiếp cận, theo dõi.
Thành lập ủy ban khởi nghĩa tỉnh Hà Tĩnh
Đại hội Việt Minh liên tỉnh họp ngày 8-8-1945, tại làng Châu Sơn xã Hƣng Nguyên (Nghệ An), đã chia các phân khu để hoạt động. Phân khu Nam Hà gồm các huyện Can Lộc, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh và thị xã Hà Tĩnh. Đại hội đã bàn kế hoạch chuẩn bị khởi nghĩa.
Tin Nhật đầu hàng đồng minh, nhân dân đã biết rộng rãi. Coi nhƣ Thời cơ tổng khởi nghĩa đã đến, các cán bộ đại biểu phân khu Nam Hà triệu tập hội nghị khẩn cấp ở xã Cẩm Nhƣợng (huyện Cẩm Xuyên) vào ngày 13-8-1945 tại nhà ông Quản Bƣờng. Hội nghị nhận định thời cơ tổng khởi nghĩa đã đến, tình hình chuyển biến thuận lợi không thể ngồi chờ, phải chớp lấy thời cơ có một không hai này, phát động toàn dân nổi dậy khởi nghĩa dành chinh quyền. bằng lực lƣợng đông đảo quần chúng, kết hợp với lực lƣợng vũ trang nhân dân.
Về mặt tổ chức, hội nghị thành lập ủy ban khởi nghĩa tỉnh Hà Tĩnh, gồm các ông: Lê Lộc, Phạm Thể, Trần Hữu Duyệt, cử ông Lê Lộc làm chủ tịch.
Thành lập ủy ban khởi nghĩa huyện Kỳ Anh
Huyện Kỳ Anh đƣợc chỉ định hai đại biểu đi dự cuộc họp quan trọng này là đồng chí Nguyễn Thuận và đồng chí Nguyễn Huân. Vì triệu tập bất thƣờng và gấp rút (10 giờ sáng ngày 12-8-1945 đồng chí Tôn Sỹ Khuê mới cho biết), nên chỉ một mình đồng chí Nguyễn Thuận đến kịp dự họp, đồng chí Nguyễn Huân đƣờng xa không thể đến kịp dự họp đƣợc.
Trở về, đồng chí Nguyễn Thuận mời toàn thể ban huyện ủy Việt Minh họp bất thƣờng gồm đủ cả 5 đồng chí là Xảo Kính, Nguyễn Thuận, Lê Ngọc Triện, Cao Đƣờng, Thanh Thủy, cũng không kịp mời các đồng chí vùng trong vì quá xa. Hội nghị nhất trí mời thêm 2 đồng chí Khâm Quy (Hoàng Quy) và Ngạch Huân, với ý định hai ngƣời làm liên lạc.
Cuộc họp lịch sử này vào hồi 19 giờ, ngày 14-8-1945, tại thềm nhà đồng chí Xảo Kính.
Đồng chí Nguyễn Thuận báo cáo nội dung cuộc họp ở Cẩm Nhƣợng mà đồng chí tham gia. Các đồng chí ai cũng phấn khởi sung sƣớng và hội nghị thành lập ngay ủy ban khởi nghĩa huyện gồm 5 ngƣời trong Ban huyện ủy Việt Minh lâm thời, cử đồng chí Nguyễn Thuận phụ trách chung.
Hội nghị phân công đồng chí Lê Ngọc Triện (Dục Nghĩa) đặc trách vùng Hữu Lạc (Kỳ Bắc), Tuần Tƣợng (Kỳ Phong), đồng chí Cao Đƣờng, Thanh Thủy phụ trách vùng Voi còn lại (Yên Hạ, Mạc Khê, Hoàng Giang, Nhƣ Nhật, Chợ Thƣợng). Nhiệm vụ của mỗi ngƣời là truyên truyền, tổ chức, tập hợp và sắp xếp sẵn sàng tổng khởi nghĩa. Riêng đồng chí Nguyễn Thuận đi vào vùng giữa có nhiệm vụ họp cùng các ông Nguyễn Huân và Nguyễn Duy Khiêm, báo cáo, bàn bạc việc chuẩn bị, tổ chức, huy động, sắp xếp lực lƣợng của các làng hai tổng Hà Trung và Đậu Chữ, chuẩn bị sẵn sàng tổng khởi nghĩa. Đồng chí Nguyễn Huân còn đƣợc giao thêm nhiệm vụ báo tin đến các đồng chí ở các xã miền núi nhƣ Mỹ Sơn, Vọng Liệu (tức Kỳ Lâm, Kỳ Sơn, Kỳ Thƣợng, Kỳ Lạc).
Tại cuộc họp của ba đồng chí Nguyễn Thuận, Nguyễn Huân và Nguyễn Duy Khiêm, ngày 15-8-1945, đồng chí Huân cho biết 19 giờ cùng ngày tri huyện Nguyễn Hòa Phẩm phối hợp với đồn trƣởng bảo an Nguyễn Ấn tổ chức một đêm biểu diễn kịch nhằm lấy tiền giúp công việc truyền bá chữ quốc ngữ. Biết sự việc chính xác, hai đồng chí Huân và Khiêm cử đồng chí Thuận tối đó, đúng vào giờ mở màn, có đông đủ quan khách, sẽ ra trƣớc sân khấu tranh thủ truyên truyền về Việt Minh, kêu gọi mọi ngƣời hƣởng ứng các chủ trƣơng của Việt Minh. Đồng chí Huân đích thân đi huy động hai thanh niên đã vào tổ chức Việt Minh là Trƣơng Hƣng, Trƣơng Lợi (ở nhóm Việt Minh đền Nhân Lý) sẽ đứng hai bên, đồng chí Thuận đứng giữa nói chuyện. Đồng chí Huân còn chuẩn bị một cây cờ đỏ sao vàng lớn bằng tờ giấy học sinh khổ rộng, giao cho anh Trƣơng Hƣng để phất và trình trƣớc quan khách và nhân dân. Đồng thời đồng chí Huân cũng huy động khoảng 15 tự vệ gậy ngắn đứng sẵn chung quanh điểm diễn kịch để bảo vệ, phòng bất trắc xảy ra.
Đúng 19 giờ, quan khách đến đông đủ, có cả tri huyện Nguyễn Hòa Phẩm cùng bọn cai đội trong đồn, với cả nhân dân ngồi đông đặc cả phòng lớn (điểm diễn là trƣờng học huyện Kỳ Anh cũ).
Mở màn, đại biểu Việt Minh (đồng chí Nguyễn Thuận) xuất hiện đứng giữa, hai anh Trƣơng Hƣng, Trƣơng Lợi đứng kèm hai bên. Anh Trƣơng Hƣng dƣơng cờ Việt Minh ra mắt quan khách.
Cả phòng trố mắt nhìn. Tiếp đến đồng chí Thuận tự giới thiệu là đại biểu của Việt Minh xin thƣa chuyện cùng quan khách và nhân dân: “Thƣa đồng bào, mặt trận Việt Minh xin gửi lời kính chào đồng bào”. Vừa dứt lời, bổng từ ngoài cửa ra vào có một tên lính (lính bên chỗ nha quan huyện) tên là Bát Mạc (ngƣời làng Đan Du, đi lính cho Nam triều, đƣợc tặng hàng bát phẩm) hô bắt vị đại biểu Việt Minh. Nhƣng một số tự vệ đã ập đến, quật tay cánh khỉ lôi tuồn tuột ra sân và buộc phải câm nhƣ hến. Sự việc xảy ra êm ắng nhƣ không có gì xảy ra. Trong phòng diễn đồng chí Thuận vẫn tiếp tục: “Thưa các vị quan khách, thƣa đồng bào, phát xít Đức đã đầu hàng Đồng minh không điều kiện. Ngày 14-8 vừa qua phát xít Nhật cũng đã đầu hàng Đồng minh không điều kiện, chính phủ Trần Trọng Kim tất phải đổ. Cơ hội ngàn năm có một, toàn dân ta phải đoàn kết một lòng dƣới cờ đỏ sao vàng của Việt Minh, đánh đổ Nhật và chính phủ bù nhìn, lập chính quyền nhân dân cách mạng. Việt Minh muôn năm, Việt Nam độc lập muôn năm!”. Nói xong, cúi chào và rút lui đàng hoàng trong sự bảo vệ của anh em tự vệ.
Phòng diễn ồn ào, nhƣng để giữ thể diện, chúng lấy lại trật tự và đêm diễn kịch vẫn tiếp tục nhƣng tiếng xì xào không ngớt.
Cũng tối hôm đó, đồng chí Nguyễn Duy Khiêm đã nhanh chóng triệu tập một cuộc mít tinh gồm cả những ngƣời đã vào Việt Minh và chƣa vào ở làng Đan Du và các làng lân cận. Đồng chí nói chuyện về Mặt trận Việt Minh và đƣờng lối chủ trƣơng của Việt Minh, nói rõ thời cơ vàng đã đến, sẵn sàng tổng khởi nghĩa dành chính quyền. Ngƣời ngồi đông chật cả sân nhà đồng chí Khiêm, nói xong mọi ngƣời vẫn còn nán lại muốn nghe.
Đồng chí Huân Tể cũng tổ chức đƣợc hai cuộc nói chuyện lớn có đến hàng trăm ngƣời dự ở các vùng Ngân Tƣợng, Duy Lội (Kỳ Châu, Kỳ Tân), đã gây không khí tổng khởi nghĩa rầm rộ.
Ở vùng Voi, tại các làng Hữu Lạc, Tuần Tƣợng, Mạc Khê, Hoàng Giang,Yên Hạ, Xuân Cẩm, chợ Thƣợng… nhiều cuộc mít tinh lớn nhỏ do các đồng chí vùng ngoài tổ chức, coi nhƣ công khai hẳn vấn đề tổng khởi nghĩa vốn đã xôn xao về những tin đồn đại hoạt động của Việt Minh. Kể từ đây, đi đâu, chỗ thợ may, thợ cắt tóc, quán bánh… mọi ngƣời cùng nhau bàn tán về Việt Minh. Mọi câu chuyện từ sáng trƣa chiều đều xoay quanh những hoạt động của Việt Minh.
Buổi sáng sau đêm diễn kịch, biết thầy Nhì, tay sai của tri huyện vẫn ăn cơm tháng ở nhà ông Hậu Vận trƣớc cửa quan huyện, và gia đình ông này lại quen thân với gia đình đồng chí Nguyễn Thuận, đƣợc nghe nói nhiều về Việt Minh và rất có cảm tình. Đồng chí Thuận đi cùng hai anh tự vệ đến quán làm nhƣ bất ngờ gặp thầy Nhì, với mục đích tìm hiểu thái độ của tri huyện và đồn trƣởng sau đêm kịch. Chủ trƣơng này đã đƣợc bàn bạc giữa các đồng chí Nguyễn Huân, Nguyễn Duy Khiêm và Nguyễn Thuận. Thái độ của thầy nhì có khác trƣớc, trong câu chuyện ông ta ngả sang tán thành Việt Minh, sợ Việt Minh. Đồng chí Thuận chuyển sang thế đánh bài lật ngửa, nói thẳng: “Tuy phát xít Nhật đã đầu hàng đồng minh vô điều kiện và chính phủ Trần Trọng Kim đang rệu rạo, nhƣng nếu nhân dân không kiên quyết đứng dậy khởi nghĩa thì chúng cũng không bao giờ tự nguyện trao chính quyền cho lực lƣợng cách mạng, và hiện tại Mặt trận Việt Minh đã phát động làm điều đó. Đối với đảng Đại Việt và chính phủ thân Nhật thì kiên quyết lật đổ, quét sạch khỏi cơ quan quyền lực ngay từ đầu cuộc khởi nghĩa. Ngày ấy đã đến gần. Ai chống lại cách mạng thì phải đền tội. Cách mạng rất bạo tàn nhƣng cũng rất nhân đạo”. Thầy Nhì lúc này cũng không giữ kẻ nữa, nói toạc nội dung các cuộc họp bàn bí mật giữa tri huyện và đồn trƣởng là: Bọn chúng giữ thái độ nằm im, bất động, chờ Việt Minh đến để đầu hàng, mong sao đƣợc bảo toàn tính mạng chúng và gia đình. Đặc biệt là bà tri huyện nhiều lần giục chồng sai thầy Nhì xin đƣợc gặp đại biểu Việt Minh để trao ấn tín bài ngà tri huyện để đƣợc đổi lấy mạng, nhƣng ông chồng còn lúng túng để thực hiện điều đó, tuy đã muốn thế nhƣng chƣa biết làm thế nào…
Các đồng chí trong ban khởi nghĩa huyện, đồng chí Huân Tể, Nguyễn Duy Khiêm nhanh chóng biết đƣợc thông báo về tin mật này.
Ngày 18-8-1945, đồng chí Nguyễn Thuận nhận đƣợc thƣ của anh Phạm Thể trong ban khởi nghĩa tỉnh, báo cho biết Việt Minh đã cƣớp chính quyền tỉnh, thƣ còn lệnh cho đồng chí Nguyễn Thuận đến gặp tên đồn trƣởng bảo an huyện Kỳ Anh buộc phải đƣa 1 can xăng 5 lít, với tƣ cách đồn trƣởng, đón một chiếc xe con đƣa đồng chí Thuận trở ra trạm Voi gấp.
Một cuộc hội ý chớp nhoáng giữa 3 đồng chí Nguyễn Thuận, Nguyễn Huân, Nguyễn Duy Khiêm qua bức thƣ của anh Phạm Thể. Đồng chí Huân bố trí một tự vệ cùng đi với đồng chí Thuận đến gặp tên Nguyễn Ấn - đồn trƣởng. Tin Việt Minh đã cƣớp chính quyền ở tỉnh làm cho tên này hoảng sợ, vội vã đi lấy can xăng và cùng một tên lính lên ngã tƣ Kỳ Anh đón xe. Đồng chí Thuận ra đến trạm Voi đã gặp đoàn cán bộ của tỉnh đứng cả đấy, đó là các anh: Phạm Thể, Lê Ngọc Cuông, Nguyễn Trọng Nhã, Nguyễn Lự. Lúc này khoảng gần trƣa. Các anh cho biết chính quyền cách mạng lâm thời tỉnh Hà Tĩnh đã đƣợc thành lập do đồng chí Trần Hữu Duyệt làm chủ tịch. Cuộc khởi nghĩa dành chính quyền ở tỉnh lỵ Hà Tĩnh đã thắng lợi nhanh gọn. Các anh lệnh gấp huyện Kỳ Anh phải tập hợp quần chúng dành chính quyền nội trong ngày hôm nay (18-8-1945). Mệnh lệnh tổng khởi nghĩa đƣợc truyền đi, nhân dân vui mừng khôn xiết. Sung sƣớng nhất là các đồng chí hoạt động cũ, niềm ƣớc mơ, lý tƣởng trong nhiều năm đã đƣợc thực hiện, chịu bao nhiêu năm tù tội, cực hình, tra tấn, tan nhà nát cửa chỉ mong có giờ phút này.
Các đồng chí Cao Đƣờng, Thanh Thủy, Lê Ngọc Triện cùng các cốt cán Việt Minh khác không còn kịp ăn, chạy nhƣ con thoi, huy động, tập hợp quần chúng. Tiếng mỏ làng này, làng khác thi nhau nổi lên báo tin mừng cho toàn thể nhân dân. Chƣa đến 12 giờ trƣa, tại cồn Riềng (Yên Hạ) nay là giữa hai xã Kỳ Bắc và Kỳ Tiến cả rừng ngƣời hàng ngũ chỉnh tề, sau khi đƣợc các đồng chí phụ trách vùng ra lệnh ngắn gọn đã biến thành đoàn biểu tình có trật tự, có chỉ huy, băng cờ đi trƣớc tiến thẳng vào huyện. Đƣờng dài 20km, đoàn đi qua thôn xóm nào nhân dân ở đó tự động nhập vào, nối đuôi nhau dài dằng dặc. Đoàn vừa đi vừa hô khẩu hiệu “Việt Minh muôn năm”, “Việt Nam độc lập muôn năm” rung chuyển cả núi rừng nơi đoàn quân đi qua.
Nhận lệnh của các đồng chí ủy ban khởi nghĩa tỉnh xong, đồng chí Nguyễn Thuận mƣợn một chiếc xe đạp của anh Bùi Trọng Hoán (cán bộ y tế đã tham gia vào Việt Minh), vội vã trở vào vùng giữa gặp hai đồng chí Nguyễn Huân và Nguyễn Duy Khiêm trao đổi, bàn bạc. Hai ngƣời mừng rơn, nhanh chóng đi báo tin cho những cán bộ cốt cán. Ở vùng giữa cũng thế, các làng xóm thi nhau nổi mỏ, chỉ trong vài tiếng đồng hồ các anh đã tập hợp đƣợc hàng nghìn ngƣời, tập trung ở cồn Rạp (một cồn lớn - sân vận động Đan Du hồi đó). Sau khi đƣợc lệnh, đoàn ngƣời dƣơng cờ đỏ sao vàng, chỉnh tề kéo vào huyện, đi tới đâu nhân dân nhập vào tới đó, hô khẩu hiệu: “Việt Minh muôn năm”, “Việt Nam độc lập muôn năm” vang cả đất trời.
Khoảng 3 giờ chiều ngày 18-8-1945, hai đoàn ngƣời từ vùng ngoài và vùng giữa gặp nhau trƣớc cổng đồn huyện Kỳ Anh. Hai đoàn tiến lên song song nhau, hai cây cờ đỏ sao vàng lớn hiên ngang bay phần phật trƣớc gió.
Cả rừng ngƣời hàng ngũ chỉnh tề, hết sức trang nghiêm, đoàn cán bộ Việt Minh tỉnh và huyện bƣớc lên giữa hai hàng tự vệ và dừng lại dƣới sân cột cờ giữa sân đồn. Các quan lại Nam triều và đồn trƣởng bảo an cùng 20 lính khố xanh (đủ cai và đội), đứng xếp hàng cúi rạp xuống như lạy chào cán bộ Việt Minh. Tri huyện Nguyễn Hòa Phẩm và đồn trƣởng bảo an Nguyễn Ấn chắp tay lạy lễ phép. Nguyễn Hòa Phẩm vừa nói vừa run, lắp bắp: “Chúng tôi xin đầu hàng, trăm lạy các ông cán bộ Việt Minh tha tội chết. Xin đội ơn vạn bội”. Cả bộ đoàn của chính quyền cũ không bị trói nhƣng mặt ai cũng sợ tái xanh trƣớc lực lƣợng hùng hổ của hàng vạn quần chúng. Khoảng 15 khẩu súng để xếp đống dƣới đất trƣớc mặt, những bao đạn ,quy lát súng tháo rời ra để lăn lóc trong đống vũ khí, cảnh chiến bại thật thảm hại.
Từ trong hàng ngũ Việt Minh chỉ huy, đồng chí Nguyễn Thuận tiến ra, lệnh cho đồn trƣởng bảo an Nguyễn Ấn hạ lá cờ Nam triều xuống, y răm ráp tuân theo.
Anh Trƣơng Hƣng trong hàng ngũ tự vệ bƣớc ra, từ từ kéo là cờ đỏ sao vàng của Việt Minh lên cao. Lá cờ này lấy từ đoàn biểu tình phía bắc, lá cờ do anh Nguyễn Tiến Ba, thợ may ở làng Hữu Lạc (Kỳ Bắc) may theo mẫu đồng chí Nguyễn Thuận vẽ.
Đồng chí Nguyễn Trọng Nhã tuyên bố từ nay chính quyền thuộc về tay nhân dân, nƣớc độc lập, dân làm chủ, kêu gọi toàn dân đoàn kết dƣới cờ đỏ sao vàng Việt Minh, tin tƣởng tuyệt đối vào chính quyền cách mạng. Đồng chí tuyên bố xóa bỏ mọi thứ thuế nhƣ: Thuế thân, thuế đò, thuế chợ… do thực dân Pháp và phong kiến Nam triều đặt ra để bóc lột dân ta. Đồng chí nói chuyện xong, tuyên bố đoàn biểu tình giải tán…
Tri huyện Nguyễn Hòa Phẩm đƣợc chính quyền cách mạng cho ở tạm ở tƣ thất huyện đƣờng cùng gia quyến vợ con, đồn trƣởng bảo an Nguyễn Ấn đƣợc phép cho về quê ít ngày sau đó, tất cả cai đội, lính tráng đều cho trở về gia đình quê quán làm ăn. Việc canh gác bên đồn giao cho một số anh em tự vệ.
Tối ngày 18-8-1945, hồi 19 giờ, diễn ra cuộc bàn giao ấn tín, giấy tờ, tiền bạc của tri huyện cho đoàn cán bộ chỉ huy tổng khởi nghĩa. Cuộc bàn giao không có gì nặng nề vì họ đã chuẩn bị trong tƣ thế thua cuộc từ lâu, mọi giấy tờ quan trọng (nhƣ hồ sơ các chiến sĩ cách mạng, những bí mật…) họ đã thủ tiêu hết từ trƣớc, tiền bạc, của cải cũng chẳng có gì đáng kể, vì chúng đã cuỗm hết từ trƣớc,…
Đồng chí Nguyễn Thuận thu ấn tín, anh Nguyễn Lự thu các sổ sách, giấy tờ, anh Nguyễn Trọng Nhã thu tiền bạc và mọi của cải khác. Tri huyện Nguyễn Hòa Phẩm đƣợc các thầy đề lại, thầy thừa phái (thầy Nhì) giúp sức, đƣa nộp ngoan ngoãn.
Tiếp đến, tiến hành phân công cán bộ trong bộ máy chính quyền cách mạng huyện. Dự phân công, về phía cán bộ tỉnh chỉ còn lại anh Phạm Thể và anh Nguyễn Lự, còn những ngƣời khác đã về tỉnh.
Về phía ủy ban khởi nghĩa huyện, các đồng chí Nguyễn Thuận, Xảo Kính, Cao Đƣờng đƣợc phân công nhiệm vụ: Nguyễn Trọng Nhã làm Chủ tịch ủy ban nhân dân cách mạng, Xảo Kính làm phó chủ tịch (nhƣng ông Xảo Kính không nhận nên để trống, sau không có phó chủ tịch), ông Nguyễn Lự làm ủy viên tƣ pháp, Nguyễn Thuận làm ủy viên phụ trách công an. Ba ngƣời Nguyễn Trọng Nhã, Nguyễn Thuận, Nguyễn Lự là thƣờng trực ủy ban, giải quyết tất cả mọi việc. Buổi đầu trong ủy ban nhân dân cách mạng chỉ có từng ấy người, về sau bổ sung dần.
Những ngƣời bổ sung sau gồm: ông Phan Thanh - ủy viên giao thông, Nguyễn Trinh Di - ủy viên giáo dục...
2.5. Kỳ Anh trong thời đại mới (1945 - 2015)
2.5.1. Kháng chiến chống Pháp 9 năm (1946 - 1954)
Chiều 18-8-1945, nhân dân Kỳ Anh, dƣới sự lãnh đạo của Việt Minh, đã cuớp chính quyền thắng lợi ở huyện. Ủy ban cách mạng lâm thời (sau này là Ủy ban nhân dân huyện) đƣợc thành lập ngay đêm ấy. Chủ tịch đầu tiên là Nguyễn Trọng Nhã, Phó chủ tịch là Lê Bính, Tổng thƣ ký là Phan Ngọc Phiên. Một số ủy viên khác phụ trách tƣ pháp, tài chính, quân sự, an ninh, giáo dục...
Chính quyền làng, xã cũng kịp thời đƣợc tổ chức. Nhân dân trong huyện vừa trải qua nạn đói khủng khiếp, đã náo nức bắt tay xây dựng xã hội mới.
Nhƣng chƣa đƣợc bao lâu, ngày 23-9-1945, quân Pháp đã núp sau lƣng quân đội Anh gây hấn ở Nam Bộ. Theo lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân cả nƣớc đã đứng lên kháng chiến, bảo vệ nền độc lập.
Trong các đoàn quân Nam tiến đầu tiên của Hà Tĩnh có không ít thanh niên là con em của Kỳ Anh. Kỳ Anh còn đƣa một số quân lên biên giới Việt - Lào tham gia trận đánh ở Napê, chặn âm mƣu quân Pháp từ phía tây tràn xuống đất Hà Tĩnh.
Một sự kiện quan trọng, đầu năm 1946 là Đại hội Đảng bộ đảng cộng sản khóa I của huyện (họp ở xã Trung Châu?) để chủ trƣơng lãnh đạo nhân dân tham gia kháng chiến.
Sau đại hội, dƣới sự lãnh đạo của chi bộ đảng, mặt trận Việt Minh cùng với chính quyền đã vận động gần 100% số cử tri đi bỏ phiếu trong cuộc tổng tuyển cử đầu tiên 6-1-1946. Tiếp đó, ngày 24-2 toàn huyện đã hoàn thành thắng lợi cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân xã.
Các đoàn thể trong mặt trận đều phát triển và hoạt động sôi nổi. Nhân dân nhiệt liệt hƣởng ứng các cuộc vận động và các phong trào yêu nƣớc: quyên góp 2,500kg vàng và bạc trong “Tuần lễ vàng”, hàng tháng toàn huyện thu đƣợc hàng tạ gạo bỏ vào “hũ tiết kiệm”, hàng nghìn ngƣời, trong đó có rất nhiều phụ lão, phụ nữ nô nức tham gia các lớp bình dân học vụ, tăng gia sản xuất... tạo không khí phấn khởi trong các làng xóm.
Tháng 12-1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Ủy ban kháng chiến huyện đƣợc thành lập, do ông Trần Quế làm chủ tịch.
Đầu năm 1947, tháng 3, mặt trận Huế vỡ, quân Pháp đánh chiếm Đồng Hới, Quảng Bình. Phía Nam Đèo Ngang trở thành vùng bị chiếm, Kỳ Anh bị uy hiếp từ phía Nam và phía biển.
Đảng bộ huyện khóa II, họp - tháng 3 – 1947 - bàn kế hoạch lãnh đạo nhân dân thực hiện các chủ trƣơng của trung ƣơng và của tỉnh trong tình hình mới
Cuộc tiêu thổ kháng chiến đƣợc thực hiện triệt để. Thành huyện, thị trấn và quốc lộ 1A đều bị phá hủy. Khắp cả huyện thực hiện rào làng chiến đấu, xây đắp 856 ụ lô cốt dọc biển, đóng cọc ngăn lạch sông Trí, sông Quyền, phòng thủ mặt thủy, cắm chông ở bãi Cồn Mụ, Đại Đồng, chống địch đổ bộ đƣờng không…
Các xã gấp rút thành lập dân quân du kích. Ở huyện có một trung đội du kích tập trung do Nguyễn Tiến Chƣơng chỉ huy, đƣợc trang bị một số súng trƣờng mútxcơtông, lựu đạn, kiếm, mã tấu... Về sau (3-1949) trung đội này phát triển thành đại dội 311, có 130 ngƣời, trang bị 50 khẩu súng trƣờng, 2 súng cối 60 ly, 2 trung liên, mìn và lựu đạn, do Nguyễn Trọng Bính chỉ huy.
Xƣởng chế tạo vũ khí của huyện do Nguyễn Văn Cừ phụ trách, đặt ở xã Kỳ Tân, sản xuất đƣợc 300 khẩu súng kíp, hàng ngàn lựu đạn, mìn, bàn chông… Cuối năm 1949, xƣởng này sáp nhập vào công binh xƣởng của quân khu IV.
Phong trào du kích và các lực lƣợng chủ lực quân ở chiến trƣờng Bình Trị Thiên đã ghìm chân quân Pháp, cho nên từ 1949-1953 chúng chỉ đổ bộ vào bờ biển Kỳ Anh 6 lần, lần đông nhất là hai trung đội với mục đích thăm dò, cƣớp phá.
Trân đầu tiên xảy ra ngày 7-7-1947 ở làng Tân Phúc Thành (Kỳ Lợi). Địch có 2 tiểu đội. Dƣơng Lão chỉ huy 20 du kích đánh trả. Vì chưa có kinh nghiệm nên lực lượng du kích hy sinh tới một nửa.
Trận thứ hai, 13 tên đổ bộ lên cửa Khẩu (Kỳ Ninh), du kích do Lê Thể chỉ huy, đã dùng mẹo nghi binh tiêu diệt một số địch, làm chúng phải tháo chạy, và bảo vệ đƣợc lực lƣợng.
Bốn trận khác xảy ra ở làng Hồng Hải và Thắng Lợi (Kỳ Phƣơng) năm 1948, ở làng Trung Giáp (Kỳ Khang) tháng 6-1949, ở làng Hải Phong (Kỳ Lợi) năm 1951, và ở làng Đông Yên (Kỳ Lợi) 1953. Ba trận trên đều bị du kích đánh chặn. Riêng ở Hải Phong, địch vƣớng mìn của du kích, chết và bị thƣơng mấy tên. Còn ở Đông Yên, địch có tới 2 trung đội, vào ở lâu trong làng đến ba bốn giờ. Lực lƣợng du kích ít, phải chờ chi viện, nhƣng khi C311 xuống thì chúng đã rút đi.
Càng về sau, du kích nhiều nơi càng có kinh nghiệm, tiêu diệt đƣợc địch, bảo toàn lực lƣợng và bảo vệ đƣợc nhân dân. Phát huy nhiều sáng kiến hay, trong đó sáng kiến “Cột cờ Chu Nai đƣợc quân khu đánh giá cao.
Tháng 12-1947, Ủy ban phòng thủ kháng chiến huyện, xã, đƣợc đổi tên thành huyện đội / xã đội. Huyện đội trƣởng là ông Nguyễn Tiến Chƣơng (từ 1950) là ông Trần Công Phƣơng).
Tháng 2-1948, thống nhất Ủy ban kháng chiến và Ủy ban hành chính các cấp thành Ủy ban kháng chiến - Hành chính Kỳ Anh, do Lê Tư Sính"26" làm chủ tịch.
26 - Phó chủ tịch là Bùi Châu, Tổng thư ký là Nguyễn Lự.
Tháng 12-1948, Đảng bộ lại họp đại biểu lần thứ ba, quyết định các chủ trƣơng đẩy mạnh tăng gia sản xuất, xây dựng lực lƣợng vũ trang, phong trào bình dân học vụ, ủng hộ kháng chiến.
Các xã tiến hành chia công điền, công thổ cho nhân dân, vận đông khai hoang, phục hóa đƣợc hàng trăm mẫu ruộng, đắp đê ngăn mặn ở xã Trung Hải, Trung Sơn, phát động phong trào đổi công, tƣơng trợ ở nông thôn.
Sản xuất lƣơng thực đƣợc tăng tiến, nhân dân đỡ đói kém, càng phấn khởi tham gia công cuộc kháng chiến. Các ngành nghề: chằm nón, trồng dâu nuôi tằm, trồng bông dệt vải, dệt chiếu, cói, làm muối, đúc lƣỡi cày, rèn công cụ... đều phát triển, có năm còn thừa bán ra huyện khác. Một bộ phận của xƣởng vũ khí sản xuất giấy dó, dùng cho các cơ quan trong huyện. Thị trấn Kỳ Anh trở thành một điểm buôn bán đông đúc ở phía nam Hà Tĩnh.
Trung đội du kích huyện phát triển thành đại đội 311 bộ đội địa phƣơng (5-1950, C311 bổ sung cho trung đoàn 103).
Đại đội địa phƣơng 311 tổ chức một trại sản xuất ở Tân Cầu (Kỳ Tân) và tiếp nhận, quản lý trại sản xuất của huyện ở Bàu Nƣớc. Trại này vừa là cơ sở sản xuất tự túc của bộ đội, vừa là an toàn khu của huyện"27".
27 - Từ 5-1950 C311 bổ sung cho E103, cơ sở này sau phát triển thành nông trường Thầu Đâu, sau là nông trường quốc doang 12-9
Lúc này lƣơng thực khan hiếm, dân chƣa đủ no, hình thức “hủ gạo nuôi quân” là phù hợp và có hiệu quả to lớn. Bình quân mỗi xã tiết kiệm đƣợc 30-50 kg gạo, riêng xã Cấp Đình 90kg gạo hàng tháng.
Đồng bào cũng đã đóng góp, cung cấp cho bộ đội 3200 chiếc áo trấn thủ trong cuộc vận động “Mùa đông binh sĩ”. Các cuộc vận động “Bán gạo khao quân”, “Bán thóc định giá”, “Đỡ đầu dân quân”... đều đƣợc nhân dân hƣởng ứng nhiệt liệt. Riêng “Thóc định giá” ở Kỳ Anh cũng mua đƣợc 35 tấn...
Là một huyện của vùng tự do Liên khu 4, tiếp giáp với chiến trƣờng Bình Trị Thiên, Kỳ Anh ngày càng trở thành hậu cứ quan trọng theo đà tiến triển của cuộc kháng chiến.
Nhân dân vừa phải sẵn sàng chống các cuộc tập kích, đổ bộ đƣờng biển, và làm hầm hào tránh bom đạn của máy bay địch, vừa dốc sức ngƣời, sức của cho tiền tuyến. Thanh niên nô nức đi bộ đội, đi thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến (Bình Trị Thiên, Trung Lào).
Riêng trong chiến dịch Trung Lào tháng 2-1953, Kỳ Anh đã cung cấp 1000 dân công, hàng trăm thanh niên xung phong, huy động hàng trăm thuyền vận tải.
Kỳ Anh là nơi xuất phát và trở về an dƣỡng của các đơn vị quân chủ lực. Đồng bào đã tiếp đón hàng ngàn bộ đội, thƣơng binh, bệnh binh về nghỉ ngơi, chữa bệnh. Huyện còn tổ chức các “Quán quân nhân” phục vụ cán bộ, quân nhân qua lại.
Các xã: Kỳ Lạc, Kỳ Sơn, Kỳ Tây, Kỳ Châu, Kỳ Lợi, Kỳ Hƣng... đón nhận và nhƣờng đất, ruộng xếp việc làm cho hàng trăm gia đình đồng bào Bình Trị Thiên tản cƣ ra, với tình cảm ruột thịt, nhƣ ca dao:
“Nhiễu điều phủ lấy giá gƣơng
Ngƣời trong một nƣớc phải thƣơng nhau cùng”.
Cùng với việc tăng gia sản xuất, phục vụ tiền tuyến, các mặt văn hóa, giáo dục đều phát triễn. Đặc biệt phong trào bình dân học vụ lên rất cao, trong 3 năm (1946 - 1948, có 7672 ngƣời biết đọc biết viết, huyện Kỳ Anh đƣợc công nhận hoàn thành xóa mù chữ đợt 1).
Các trạm y tế, cứu thƣơng đƣợc xây dựng, thuốc chữa bệnh không đến nỗi thiếu nhƣ trƣớc, ý thức phòng bệnh, chữa bệnh của nhân dân đƣợc nâng lên.
Các buổi phát thanh, lửa trại có diễn kịch, múa hát... của địa phƣơng và các đơn vị bộ đội, thƣơng binh tổ chức, tạo không khí vui trong nông thôn.
Từ 1947, Ban tuyên huấn kháng chiến Kỳ Anh đã xuất bản tờ báo “Mài gƣơm”. Cụ Võ Liêm Sơn, lúc ấy là trƣởng ban tuyên truyền kháng chiến Hà Tĩnh có làm bài thơ mừng:
Lũ cƣớp tham tàn sắp tới nơi
“Mài gƣơm” hăng hái bƣớc ra đời
Một lòng phấn đấu cùng dân nƣớc
Ba thƣớc oai binh giết giặc trời.
Bài hịch “Bình nguyên” trang sử đẹp
Câu thơ thối lỗ tấm gƣơng ngời
Càng mài, càng dũa càng thêm sắc
Bao quản công trình những mấy mƣơi.
Đó cũng là lời động viên, và đánh giá tinh thần của nhân dân Kỳ Anh.
Tổng kết cuộc kháng chiến chống Pháp, Kỳ Anh đã có 4500 thanh niên tòng quân ra trận, 3900 ngƣời đi dân công hỏa tuyến, 120 gia đình có chồng hoặc con là liệt sĩ, 165 thƣơng binh. Suốt 8 năm trong huyện không hề xảy ra nạn đói, hay vụ dịch tệ nào, an ninh, trật tự xã hội bảo đảm, quân dân đoàn kết, mọi ngƣời sống với nhau đoàn kết, nghĩa tình.
2.5.2. Thời kỳ chiến tranh chống Mỹ (1955-1975)
Chiến thắng Điện Biên Phủ (7-5-1954) đã buộc chính phủ Pháp ký Hiệp định đình chiến Giơ-ne-vơ (Geneve). Hòa bình đƣợc lập lại trên nửa nƣớc. Nhân dân Kỳ Anh bắt tay thực hiện Kế hoạch nhà nƣớc 3 năm lần thứ I (1955 - 1957).
Cải cách ruộng đất là sai lầm nặng nề trong chỉ đạo thực hiện, dù đã đem lại cho nông dân nghèo Kỳ Anh 5000 mẫu ruộng và hàng ngàn con trâu bò. Khẩu hiệu “Dân cày có ruộng” lần đầu trở thành hiện thực.
Phong trào khai hoang, phục hóa, quai đê biển, làm thủy lợi, làm đƣờng nông thôn, đƣợc nhân dân hƣởng ứng mạnh mẻ. Sản xuất nông nghiệp, nghề cá, nghề muối đều tăng tiến, đời sống ngƣời dân tuy còn nghèo nhƣng ngày càng ổn định. Phong trào xây dựng tổ đổi công, hợp tác hóa tiến hành tốt, kể cả vùng đồng bào Thiên Chúa giáo. Văn hóa, giáo dục, y tế đều phát triển.
Trong mƣời năm, từ 1955 - 1965, toàn huyện đã xây dựng 68 tổ hợp tác xã sản xuất nông nghiệp bậc cao, thu hút 95% hộ nông dân, xây dựng 68 hồ đập tƣới cho 2100ha ruộng, đắp 24 đê ngăn mặn, đào đắp 100km kênh mƣơng, xây 16 cống thủy lợi (lớn nhất là đập Tây Yên, đập sông Trí), công nghiệp địa phƣơng bắt đầu đƣợc xây dựng, với nhà máy sắn, xí nghiệp vôi, nhà máy cƣa, hai xí nghiệp chè (Kỳ Trinh, Kỳ Lâm)...
Các hợp tác xã thủ công cũng bắt đầu phát triển. (các hợp tác xã rèn đúc, đóng thuyền, đốt vôi, dệt thảm muồng (Kỳ Châu), làm chiếu, làm nón..., mở đƣờng ô tô từ huyện lỵ đi Kỳ Sơn, từ Kỳ Tân đi Kỳ Tây, và hệ thống đƣờng liên thôn, liên xã.
Dân quân du kích đƣợc xây dựng rộng khắp, mạnh mẽ, làm nòng cốt cho phong trào sản xuất và đảm bảo an ninh ở địa phƣơng, cùng các lực lƣợng vũ trang đối phó có hiệu quả với âm mƣu của chính quyền Sài Gòn tung gián điệp, biệt kích ra phá hoại miền Bắc. Điển hình là vụ vây bắt nhóm gián điệp Lê Khoái và vụ bắt đội biệt kích ngƣời nhái Voòng A Xiềng, Voòng A Cầu. Phong trào đón thƣơng binh về làng, phong trào thanh niện đi làm nghĩa vụ quân sự đều xuất sắc.
Huyện Kỳ Anh đƣợc công nhận là: Đơn vị lá cờ đầu về xây dựng dân quân tự vệ trong tỉnh.
Ngày 22-3-1965, máy bay Mỹ lần đầu tiên đánh vào Đèo Ngang. Tiếp đó những ngày 26 và 31-3-1965, Kỳ Anh lại bị máy bay Mỹ đánh phá, cùng với Hà Tĩnh và nhiều nơi khác trong tỉnh.
Kỳ Anh, Hà Tĩnh bƣớc vào cuộc kháng chiến thứ hai, chống chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân, hải quân của Mỹ.
Trong hai đợt: (từ tháng 3-1965 đến tháng 11-1968 và tháng 4-1972 đến 1-1973) của cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, Kỳ Anh thƣờng xuyên bị đánh phá ác liệt, có vùng hầu nhƣ bị hủy diệt. Một xã Kỳ Châu từ tháng 3-1965, đến cuối 1968, máy bay, tàu chiến địch đã đánh 475 lần với 10579 quả bom, 59 tên lửa, 49 quả đạn đại bác. Chỉ trong 3 ngày 11-13 tháng 8-1968 xã Kỳ Xuân đã hứng chịu đến 2000 quả bom, đạn pháo. Vùng Đèo Ngang (Kỳ Nam) từ tháng 4-1972 đến tháng 1-1973, bị đánh 864 lần với 3716 quả bom, 4768 đạn pháo. Riêng ngày 24-4-1972, 11 tàu chiến đã bắn vào vùng Kỳ Lợi, Kỳ Phƣơng, Kỳ Nam 1800 quả đạn. Cũng ngày đó máy bay Mỹ đánh 123 lƣợt ở 90 điểm trong huyện. Cây cầu Cao trên quốc lộ 1A bị đánh tới 170 lần với 3096 quả bom. Một đoạn đƣờng 10km đƣờng 22 ở Kỳ Lâm, Kỳ Lạc, có ngày bị máy bay B52 trút xuống 32 loạt bom.
Từ ngày đầu chiến tranh (3-1965) đến lúc Hiệp định Pa-ri đƣợc ký kết (1-1973), mảnh đất Kỳ Anh phải gánh chịu 9211 trận oanh tạc và pháo kích. Máy bay Mỹ, có cả B52 đã dội xuống 105.974 quả bom các loại: bom tấn, bom tạ, bom khoan sâu, bom nổ chậm, bom từ trƣờng, bom cháy (na-pan, lân tinh), bom bi... Hạm đội 7 của Mỹ đã bắn vào đây 19.533 quả đạn pháo hạng nặng.
Nhân dân Kỳ Anh phải chịu những tổn thất nặng nề: 1604 ngƣời chết, 2043 ngƣời bị thƣơng, 4568 ngôi nhà bị cháy, đổ, 33 ngôi đình, đền, chùa và 5 nhà thờ Thiên Chúa giáo bị phá, 1164 con trâu bò bị giết, 159 chiếc thuyền và 250 vòng lƣới đánh cá bị phá hoại.
Với ý thức “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lƣợc, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc”, nhân dân Kỳ Anh cùng cả nƣớc sẵn sàng chấp nhận hy sinh, gian khổ. Có sự chuẩn bị tinh thần và lực lƣợng từ lâu, đồng bào các vùng trọng điểm và bệnh viện, cơ quan đƣợc sơ tán, việc phòng tránh và đánh giặc đều đƣợc tổ chức chu đáo...
Do đó, ngay từ những trận đầu 22, 26, 31-3-1965 bộ đôi dân quân đã đánh thắng. ngày 22-3, bắn rơi 1 máy bay Mỹ bằng súng bộ binh, ngày 31-3 dân quân làng Minh Đức (Kỳ Nam) phối hợp với đơn vị bộ đội biên phòng 112 và hải quân bắn rơi 1 chiếc. Tháng 11-1966 bắn rơi 1 máy bay F4, bắt đƣợc 1 phi công ở Hà Thanh (Kỳ Văn).
Đại đội 271 bộ đội địa phƣơng từ ngày thành lập (4-1965 đến 1968) đã đánh trên 300 trận, bắn rơi 3 máy bay. Lực lƣợng dân quân có 34 tổ đƣợc trang bị 132 khẩu súng, đƣợc chia thành 5 đội, sẵn sàng bắn máy bay tầm thấp, bảo vệ cầu đƣờng, bảo vệ sản xuất... Đã đánh 202 trận, bắn rơi 11 máy bay, và bắn bị thƣơng 18 chiếc khác. Tiêu biểu cho lực lƣợng này là: Đại đội dân quân Kỳ Tân, đánh 37 trận ở Cầu Núc, cầu Đá Bàn... và phối hợp với C72 bắn rơi một máy bay trực thăng ở bờ biển, Đội dân quân Kỳ Phƣơng, mới lập từ tháng 8-1968 gồm 9 sau lên 12 cô gái do Tƣởng Thị Diên chỉ huy, đã chiến đấu mƣu trí, dũng cảm, tiêu biểu là các trận ngày 6 và 22-8, ngày 28,29,30-8-1968..., đội Lão quân Kỳ Tiến (lập ngày 26-17-1967) gốm 7 cụ già do xã đội phó lê Văn Đàn chỉ huy, ngày 19-3-1968 đã đánh từ 14 đến 18 giờ chiều bắn rơi 1 máy bay A4, mở đầu phong trào bô lão bắn máy bay trong tỉnh.
Năm 1972, chiến tranh càng ác liệt gấp bội. Cuộc chiến đấu càng quyết liệt hơn. Đại đội 271, bộ đội địa phƣơng của huyện phát triển thành tiểu đoàn 271. Từ 3 đội trực chiến dân quân Kỳ Phƣơng, Kỳ Tân, Kỳ Hoa năm 1971, đã tăng lên 21 đội, trong đó có các đơn vị: Nữ dân quân Kỳ Phƣơng, đội đại liên Kỳ Lợi, đội trực 12,7ly Kỳ Hoa, kỳ Thịnh... Tiểu đoàn 271 cùng các đơn vị dân quân trên đã bắn rơi chiếc máy bay thứ 250 của Hà Tĩnh. Tiểu đoàn cùng các đơn vị dân quân và đại đội pháo cao xạ 37 ly của dân quân Kỳ Văn, Kỳ Thƣ cơ động chiến đấu trên địa bàn huyện. Riêng đội nữ dân quân Kỳ Phƣơng đánh 123 trận trong năm 1972...
Để thông xe trên ba trực đƣờng bộ: Đƣờng 1A dài 57km với 50 cầu cống, đƣờng 22 dài 32km, đƣờng Thị trấn-Kỳ Sơn, trong mấy năm 1965-1968, mỗi dân quân phải cung cấp 3m3 đá, mỗi gia đình 2 gánh bổi... Năm 1972 dân quân đặt 43 vọng gác, mỗi đêm có từ 400-500 ngƣời phục vụ trên mặt đƣờng. Chỉ trong chiến dịch Quyết thắng đã có 2 vạn ngƣời tham gia, trong 5 ngày đã cung cấp 5300m3 đá, riêng xã Kỳ Phƣơng cung cấp 1/10 (500m3), đào đắp lấp hố bom 12500m3 đất. Trong cả năm toàn huyện đã đƣa 18.790m3 đá, sỏi ra sửa đƣờng. trong 2 đột đánh phá, nhân dân Kỳ Anh đã làm 597 lƣợt chiếc cầu, san lấp 5250 hố bom...
Toàn huyện có 9 đội giao thông nông thôn gồm 300 ngƣời, cùng nhân dân tu sửa 179 km đƣờng liên hƣơng, đào đắp 121.549m3 đất đá với 57244 ngày công, đảm bảo 42 km đƣờng liên hƣơng cho bộ đội hành quân, kéo pháo...
Từ tháng 3 đến tháng 11-1968, địch đánh phá, hủy diệt vùng ven biển và thả bom từ trƣờng, thủy lôi phong tỏa đƣờng sông, đƣờng biển. Các xã thành lập các tổ rà, phá bom mìn với khẩu hiệu “mở đƣờng mà tiến”. Các tổ này hoạt động liên tục với thành tích cao, có ngày tổ Kỳ Trinh phá đƣợc 28 quả, tổ Kỳ Hải phá 49 quả trong 3 ngày, tổ Kỳ Ninh với dân quân tiêu biểu Đặng Đình Chí có ngày phá 29 quả bom, có những quả nằm sâu dƣới bùn ở đáy sông. Năm 1972 cả huyện có 17 tổ rà phá 390 quả bom, 1/3 số bom chờ nổ dọc đƣờng 1A và ven biển.
Các đội vận tải đƣờng biển vẫn không ngừng đi, về vận chuyển hàng vào Nam. Năm 1969 các đội đi 9 chuyến, trong chiến dịch vận tải Quang Trung 1968 dân quân Kỳ Anh đã chuyển 1000 tấn hàng từ Cẩm Xuyên vào Quảng Bình qua đƣờng biển. Trong chiến dịch R2-R3 năm 1972, bảy xã ven biển từ Kỳ Xuân đến Kỳ Nam đã vớt 460 tấn hàng (đƣợc tàu thả từ ngoài biển để sóng đƣa vào bờ), chuyển lên đƣờng 22. Trạm trung chuyển Kỳ Lâm, Kỳ Lạc lại có sáng kiến lợi dụng dòng nƣớc Rào Ngóp đƣa 726 tấn hàng từ Kỳ Lâm vào Tuyên Hóa (Quảng Bình).
Thời gian này, đội vận chuyển bằng xe đạp thồ của huyện cũng chuyển đƣợc 400 tấn. Tổng cộng, nhân dân Kỳ Anh đã bốc dở 206.000 tấn hàng chuyển vào chiến trƣờng miền Nam.
Trong việc đảm bảo giao thông, xã Kỳ Trinh là một trong những đơn vị xuất sắc nhất. Vọng Liệu xƣa vốn là căn cứ của nghĩa quân Cần Vƣơng, của thời kỳ hoạt động bí mật của đảng cộng sản, thì trong hai cuộc kháng chiến, nhất là cuộc chiến chống Mỹ lại phát huy vai trò hậu cứ trực tiếp của tiền phƣơng...
Mƣời năm liền (1965 - 1975), Kỳ Anh luôn hoàn thành vƣợt mức kế hoạch tuyển quân: 15605 nam nữ thanh niên đã vào bộ đội, chiếm 7,9% dân số, rất nhiều gia đình có 3 con trở lên tham gia tòng quân.
Kỳ Anh cũng đã cung cấp 4 đại đội dân công hỏa tuyến cho chiến trừng C, B5 và đƣờng 10. Các đơn vị dân công đƣợc thƣởng 8 huân chƣơng chiến công cho 4 đơn vị và 4 cá nhân. Riêng các đơn vị phục vụ B5 đã đƣợc công nhận 50 dũng sĩ, đƣợc cấp 397 bằng khen, giấy khen.
Cùng với việc chống giặc, phục vụ tiền phƣơng, sản xuất vẫn từng bƣớc phát triển. Các hợp tác xã nông nghiệp Thắng Lợi (Kỳ Xuân), Sơn Hà (Kỳ Sơn), đạt sản lƣợng 5 tấn lúa /mỗi ha. Cả huyện có 51 đội thủy lơi I (794 ngƣời), đội thủy lợi II (1020 ngƣời), đảm nhiêm xây dựng các công trình Tây Yên, đập nƣớc Mộc Hƣơng, đê Eo Bù và các công trình nhỏ khác...
Năm 1972, Kỳ Anh đã làm nghĩa vụ cho nhà nƣớc 3064 tấn lƣơng thực (năm 1965, 1966 chỉ có 1500 tấn, 1971 2500 tấn). Đơn vị sản xuất nhiều nhất, làm nghĩa vụ cao nhất là Hợp tác xã Quyết Tiến (Kỳ Tiến). Huyện đã thu mua đƣợc 150 tấn lạc, 5430 tấn thịt (lợn, trâu, bò), 3290 kg gà , vịt, 272499 quả trứng. Năm 1972 ngƣ dân cũng đánh bắt đƣợc 3500 tấn cá biển, một sản lƣợng trƣớc đó chƣa hề có, diêm dân cũng sản xuất đƣợc 2441 tấn muối...
Các mặt an ninh đảm bảo, văn hóa, giáo dục phát triển tốt. Đội văn nghệ Tây Châu - một đơn vị xuất sắc trong phong trào văn nghệ quần chúng của Hà Tĩnh - đã cất tiếng hát ca ngợi ca kỳ tích của nhân dân Kỳ Anh trong kháng chiến
Đầu năm 1973, thất bại ở Việt Nam, Mỹ buộc phải ký Hiệp định Pa-ri, chấm dứt chiến tranh, rút quân khỏi miền Nam Việt Nam.
Đến ngày 30-4-1975, chiến dịch Hồ Chí Minh đại thắng, Miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nƣớc độc lập thống nhất. Tuy nhiên, phải đến sau chiến tranh biên giới với Căm-phu-chia ở phía Nam và Trung Quốc ở phía Bắc (2-1979), đất nƣớc mới thật sự bình yên.
Tổng kết trong hai cuộc kháng chiến, huyện Kỳ Anh đã có 5 đơn vị, 4 cá nhân đƣợc phong danh hiệu Đơn vị anh hùng và Anh hùng lực lƣợng vũ trang nhân dân. Chỉ trong các đợi I,II và III đã có 36 bà mẹ đƣợc trao danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng.
Quân và dân Kỳ Anh đã đƣợc thƣởng 14 huân chƣơng quân công từ hạng nhất đến hạng ba, 3800 huân chƣơng chiến công các loại và gấn 10.000 huân, huy chƣơng kháng chiến.
Những phần thƣởng trên đã phần nào ghi nhận sự hy sinh to lớn của nhân dân. Trong hai cuộc chiến tranh, huyện Kỳ Anh đã có hơn 2700 liệt sĩ, hơn 1000 thƣơng binh, chƣa kể hàng ngàn ngƣời dân chết và bị thƣơng vì bom đạn địch và những tổn thất vật chất không thể thống kê28.
28 - Những số liệu, tài kiệu trên đây rút trong “Sơ khảo lịch sử truyền thống đấu tranh cách mạng của huyện Kỳ Anh 1945-1975” - Bản đánh máy. Một tài liệu khác ghi: số liệt sĩ là 3100, thƣơng binh là 2902.
2.5.3. Thời kỳ thống nhất đất nƣớc (1975 - 2015)
Từ đầu năm 1976, tỉnh Hà Tĩnh và tỉnh Nghệ An hợp nhất thành Nghệ Tĩnh. Kỳ Anh vẫn là huyện nghèo, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề, nhƣng chƣa đƣợc giúp đỡ đáng kể để ổn định đời sống của nhân dân. Cuối những năm bảy mƣơi thế kỷ XX, bình quân đầu ngƣời cũng chỉ đạt 200kg lƣơng thực / năm, 70-80% dân số thƣờng xuyên gặp khó khăn, trong đó có một bộ phận rất nghèo khổ.
Liên tiếp 10 năm (1981 - 1990) Kỳ Anh thƣờng xuyên bị bão lụt, hạn hán...
Năm 1987 chỉ trong 10 ngày liên tiếp 3 cơn bão mạnh trên cấp 12, tàn phá nặng nề nhà cửa, ruộng vƣờn, xóm làng tan hoang...
Năm 1988 mƣời tháng liền hạn hán, không có cơn mƣa, hàng ngàn ha lúa, hoa màu bị khô cháy, nông dân lâm vào cảnh thiếu thốn, đói khát...
Năm 1989, liên tiếp 6 cơn bão, tàn phá tan hoang hệ thống đê điều, ruộng vƣờn, nhà cửa... gần 70% số dân trong huyện lâm vào cảnh đói nghèo... Các chỉ tiêu kinh tế giảm sút nghiêm trọng.
Bình quân đầu ngƣời 300kg lƣơng thực/năm nay chỉ còn 140 kg. Tiểu thủ công nghiệp từ 3.047.000.000 đồng năm 1986 giảm xuống còn 1.302.000.000 đồng năm 1990.
Kỳ Anh phải cần đến sự cứu trợ từ trung ƣơng và các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nƣớc.
Tháng 1-1989, đại hội Đảng bộ huyện lần thứ 19 đã đề ra ba nhiệm vụ trọng tâm để vực dậy kinh tế, xã hội:
- Tập trung cứu đói
- Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
- Đẩy nhanh tiến độ xây dựng công trình thủy lợi sông Rác
Nhờ sự cố gắng của đảng bộ và nhân dân, sản lƣợng lƣơng thực đƣợc tăng dần lên, có năm đạt 52.000 tấn lƣơng thực. Vừa đẩy mạnh sản xuất ở địa phƣơng, huyện đã tổ chức cho 1000 hộ với 4000 nhân khẩu đi xây dựng vùng kinh tế mới để giải quyết khó khăn cho nhân dân.
Từ sau ngày chia lại tỉnh (1991) đến 1995, Kỳ Anh đã có những bƣớc tiến đáng kể, không chỉ về sản xuất lƣơng thực mà trên tất cả mọi mặt: Xây dụng thủy lợi, trồng rừng, tiểu thủ công và công nghiệp địa phƣơng, thƣơng nghiệp, văn hóa, giáo dục, y tế...
Cuộc vận động “Xóa đói giảm nghèo” đƣợc thực hiện có hiệu quả đã làm khởi sắc nông thôn Kỳ Anh.
Khởi đầu là những dự án nhỏ, cho hộ nghèo vay vốn làm ăn, phát triển sản xuất, kinh doanh.
Sau một thời gian thí điểm thành công, tháng 6-1993, Ban chấp hành Đảng bộ huyện ban hành nghị quyết 08 về “Công tác xóa đói giảm nghèo cộng đồng” và đã trở thành cuộc vận động toàn xã hội, với sự tham gia đông đảo của mọi tầng lớp nhân dân.
Với phƣơng châm: Nhà nƣớc và nhân dân cùng làm, huy động sức mạnh của cộng đồng với sự giúp đỡ của Trung ƣơng và các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nƣớc...trong các năm từ 1991 - 1995 Kỳ Anh đã xây dựng đƣợc nhiều công trình có ý nghĩa chiến lƣợc:
- Công trình sông Rác có dung tích 125 triệu m3 nƣớc, tƣới tiêu cho 8.150 ha lúa và hoa màu, ổn định đời sống cho 9 vạn dân. (Khởi công ngày 16-7-1987, nhƣng do thiếu vốn nên đến 1995 mới hoàn thành).
- Công trình đê ngăn mặn cho 6 xã: Kỳ Hải, Kỳ Hà, Kỳ Thọ, Kỳ Trinh, Kỳ Thƣ, Kỳ Ninh do tổ chức OXFAM Anh tài trợ với số vốn 16.500.000.000 đồng, bảo vệ cho 3.881 ha đất canh tác, gần 600 ha ao hồ, ổn định đời sống cho 4.300 hộ dân.
- Đƣờng điện 35KW, 110kv đƣa điện từ trạm trung chuyển ở Cẩm Xuyên vào Kỳ Anh phục vụ cho sản xuất và đời sống.
- Một số hồ đập nhƣ: Kim Sơn, sông Trí (Kỳ Hoa), Đá Cát (Kỳ Tân), Mộc Hương (Kỳ Trinh), Tàu Voi (Kỳ Thịnh),
Con Bò (Kỳ Nam)... đƣợc đầu tƣ xây dựng, tu sửa, nâng cấp, tăng thêm năng lực tƣới tiêu, ngăn lũ...
- Các tuyến đƣờng: Thị trấn – Kỳ Lâm, Thị trấn – Kỳ Ninh, Ký Văn – Kỳ Tây, Quốc lộ 1A – Vũng Áng... đƣợc đầu tƣ xây dựng, khắc phục tình trạng cát cứ giữa các vùng miền...
Trong vòng 5 năm từ 1991 - 1995, việc đầu tƣ cơ sở vật chất, hạ tầng đã làm cho bộ mặt Kỳ Anh khởi sắc, tạo đà phát triển đi lên, đời sống nhân dân dần đƣợc cải thiện mọi mặt.
Để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, khắc phục tình trạng độc canh cây lúa, huyện đã phân định thành 4 vùng kinh tế trọng điểm:
- Vùng đồng bằng gồm 11 xã
- Vùng ven biển phía bắc gồm 5 xã
- Vùng Trung du, ven biển phía nam 8 xã
- Vùng trung du, đồi núi phía tây 8 xã.
Đồng thời với việc triễn khai các dự án trên cơ sở phân vùng kinh tế, phong trào làm giao thông nông thôn, bê tông hóa kênh mƣơng, xóa nhà tre dột nát, xây dựng trạm xá, trƣờng học đạt chuẩn quốc gia, thực hiện nếp sống văn minh trong việc cƣới hỏi, việc tang, việc lễ hội... đƣợc nhân dân đồng tình, hƣởng ứng.
Chỉ trong vòng 15 năm từ 1991 đến 2005, kinh tế-văn hóa xã hội của huyện Kỳ Anh đã khởi sắc ngoạn mục. Tốc độ tăng trƣởng kinh tế bình quân hàng năm đạt 11%. Thu nhập bình quân đầu ngƣời 518.000 đồng/năm (1991) tăng lên 4.500.000 đồng / năm (2005). Tổng sản lƣợng lƣơng thực 24.500 tấn (năm 1991) tăng lên 64.100 tấn (2005)
Đến năm 2005, Kỳ Anh không còn hộ đói, hộ nghèo giảm xuống còn 10,3%, (theo tiêu chí mới), cơ cấu kinh tế thay đổi theo hƣớng tích cực. Thƣơng mại, dịch vụ chiếm gần 40%, nông-lâm-ngƣ nghiệp giảm xuống 40%, công nghiệp -tiểu thủ công nghiệp hơn 20%. Văn hóa xã hội phát triển, hoàn thành phổ cập Trung học cơ sở, trƣờng Trung học cơ sở Kỳ Tân đƣợc phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới. Gần 60 % trƣờng học, trạm xá đạt chuẩn quốc gia. Các bộ môn văn hóa, nghệ thuật dân gian đƣợc phục hồi, duy trì và phát triển...
Chƣơng trình Xóa đói giảm nghèo cộng động của Kỳ Anh thu hút đƣợc sự chú ý của Bộ lao động thƣơng binh xã hội, các cơ quan, tổ chức trong và ngoài nƣớc và đƣợc các địa phƣơng trong nƣớc tham quan, học hỏi kinh nghiệm...
Ngày 3 tháng 4 năm 2006, Thủ tƣớng chính phủ có quyết định số 72/2006 QĐ TTG về việc thành lập Khu công nghiệp Vũng Áng, gồm 9 xã: Kỳ Ninh, Kỳ Hà, Kỳ trinh, Kỳ Thịnh, Kỳ Lợi, Kỳ Long, Kỳ Liên, Kỳ Phƣơng, Kỳ Nam.
Kỳ Anh đứng trƣớc thời cơ, vận hội mới, trở thành tâm điểm thu hút các dự án đầu tƣ tầm cỡ quốc gia và quốc tế.
Theo quy hoạch, Khu công nghiệp Vũng Áng không chỉ là Trung tâm công nghiệp, cảng biển nƣớc sâu, dịch vụ Logistics lớn của tỉnh mà còn phát triển đa dạng các ngành công nghiệp sắt thép, dịch vụ bỗ trợ sản xuất, các công trình dịch vụ, du lịch, thƣơng mại.
Kỳ Anh nằm trong vùng quy hoạch nam Hà Tĩnh, bắc Quảng Bình của Trung ƣơng.
Chỉ trong thời gian ngắn từ khi thành lập, Khu công nghiệp Vũng Áng đã thu hút đƣợc 135 dự án đầu tƣ, trong đó có những dự án lớn, trọng điểm nhƣ: Khu liên hợp gang thép và Cảng nƣớc sâu Sơn Dƣơng của công ty FOMOSA, nhà máy nhiệt điện I và II có công suất 2.400MW, nhà máy lọc dầu công suất 16 triệu tấn/ năm...
Ngoài các dự án đầu tƣ trong Khu công nghiệp Vũng Áng, huyện đã huy động hơn 15.000 tỷ đồng để xây dựng cơ sở hạ tầng, nâng cấp bệnh viện đa khoa, hồ chứa nƣớc thƣợng nguồn sông Trí, làm mới đƣờng Nguyễn Thị Bích Châu nối thị trấn Kỳ Anh xuống xã Kỳ Ninh, đƣờng 12 nối Vũng Áng với biên giới Việt Lào, đƣờng cứu hộ Kim Sơn, đƣờng kinh tế, quốc phòng ven biển...
Với các dự án đầu tƣ trong và ngoài nƣớc, Kỳ Anh bƣớc vào giai đoạn mới. Cuộc cách mạng về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, quy hoạch chuyển đổi dân cƣ, chuyển đổi mục đích sử dụng đất theo hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Trong thời gian ngắn đã giải phóng mặt bằng, thu hồi 5.000 ha đất, di dời hơn 2.500 hộ dân của các xã Kỳ Lợi, Kỳ Long, Kỳ Liên, Kỳ Phƣơng, Kỳ Trinh vào 5 khu tái định cƣ đƣợc xây dựng mới.
Giai đoạn từ 2006 đến 2015, tốc độ tăng trƣởng bình quân hàng năm là 19,6%. Thu nhập bình quân đầu ngƣời năm 2015 đạt hơn 35.000.000 đồng/năm. Cơ cấu kinh tế thay đổi. Công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp chiếm 42%, thƣơng mại-dịch vụ chiếm 44%, nông-lâm-ngƣ nghiệp chiếm 14%
Thu ngân sách trên địa bàn hàng năm đạt hơn 1.500 tỷ đồng.
Đến năm 2015 có 6 xã đạt tiêu chí nông thôn mới. Hơn 80% trƣờng học, 100% trạm xá đạt chuẩn quốc gia, 82% các gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa...
Đó là những thành quả ngoạn mục mà nhân dân huyện Kỳ Anh đạt đƣợc sau 30 năm đổi mới kinh tế cùng đất nƣớc.
***
Ngày 10-4-2015, Uỷ ban thƣờng vụ Quốc hội có Nghị quyết số 803 về việc Điều chỉnh địa giới hành chính huyện Kỳ Anh để thành lập Thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
Mảnh đất Kỳ Anh linh thiêng bị chia thành hai đơn vị hành chính độc lập.
- Huyện Kỳ Anh còn lại 76.161 ha đất tự nhiên với 120.518 ngƣời và 21 xã.
- Thị xã Kỳ Anh có 28.125 ha đất tự nhiên với dân số 58.508 ngƣời với 12 đơn vị hành chính gồm 6 phƣờng: Kỳ Long, Kỳ Trinh, Kỳ Liên, Kỳ Phƣơng, Kỳ Thịnh, sông Trí và 6 xã: Kỳ Hoa, Kỳ Hƣng, Kỳ Hà, Kỳ Ninh, Kỳ Nam, Kỳ Lợi.
Lịch sử có những thay đổi bất ngờ và có lý lẽ riêng của nó, Kỳ Anh có đƣợc tái lập nhƣ mong muốn của nhiều ngƣời hay không là một câu chuyện khác ở thì tƣơng lai.
Chỉ cái tên chung Kỳ Anh vẫn còn nguyên và ngƣời ta vẫn có quyền ƣớc mơ về sự vẹn toàn. Đây là một sự kiện còn gây nhiều tranh cãi trong dân chúng. Đánh dấu một trang mới của lịch sử Kỳ Anh.
Chương 3
Khái lược Tình hình Kinh tế-Xã hội
1. Tình hình kinh tế xã hội trƣớc 1945
Kỳ anh xƣa nay là một huyên nông nghiệp, ruộng đất không ít, trƣớc năm 1945 bình quân đầu ngƣời là 6 sào Trung bộ, nhƣng đất đai hẹp và kém màu mỡ. Vùng đồi núi ruộng bậc thang bị xói mòn nghiêm trọng, ruộng trong các thung lũng nhỏ thì dễ bị ngập mƣa, vùng dƣới gần biển thì đất bạc màu, chua mặn. Nông dân nhiều đời nay có thói quen quảng canh. Lại thƣờng xuyên bị thiên tai, bão tố, mƣa lụt, hạn hán... nên sản xuất nông nghiệp bị thiệt hại rất nặng nề, đói kém, mất mùa liên miên… Hầu nhƣ năm nào cũng bị nạn đói. Sử sách các đời Lê - Nguyễn còn chép những trận đói ở xứ Nghệ An, trong đó có Kỳ Anh “Ngƣời chết đói đầy đƣờng...”, “đổi một mẫu ruộng chỉ đƣợc mấy bát gạo”, “... ngƣời ta ăn cả lá cây, rễ cây, thịt chuột... thậm chí ăn thịt lẫn nhau”, “ngƣời ăn xin kéo từng đàn từng lũ, nhiều thôn xóm bị phiêu tán...”. Đầu thế kỷ XIX ở phủ Hà Hoa các thôn Bạo Tuyền, Thi Hạ, Hải Khẩu và trang Hội An dân phiêu bạt hết.
“Đất Kỳ La vua tha thuế”. Hiện không có những số liệu thống kê cụ thể về ruộng đất, sản lƣợng và năng suất cây trồng từ nhiều thế kỷ trƣớc, nhƣng chắc chắn là rất thấp kém.
Đầu thế kỷ XX, những năm từ 1920 - 1925, diện tích trồng lúa trong toàn huyện hàng năm chỉ khoảng 8.800ha (trong đó có khoảng 5.500 ha lúa vụ hè và 3.300ha lúa vụ đông), tổng sản lƣợng khoảng 12.150 tấn (9.300 tần vụ hè và 2.850 tấn vụ đông). Ngoài ra còn có 250 ha lúa bát ngoạt (350 tấn), 150 ha lúa nếp vụ hè và vụ đông đạt khoảng 180 tấn.
Hoa màu có 250ha khoai lang (đạt 750 tấn củ), 50 ha đậu (20 tấn hạt), 30 ha ngô (27 tấn hạt), 40 ha vùng (40 tấn hạt)(1)...
Từ những năm 1930 - 1941, diện tích cấy lúa hàng năm khoảng 9100 ha, và tổng sản lƣợng cũng chỉ đạt khoảng 12.300 tấn(2). Nặng suất lúa chỉ đạt từ 350-400 kg/ ha/năm, năm cao nhất cũng chỉ đạt 600kg/ ha.
Khoảng 1/5 ruộng đất tập trung vào trên 100 hộ gia đình địa chủ lớn, nhỏ. Nhƣ Trần Hứa ở Quy Hòa chiếm 200 mẫu Trung bộ (100ha), Bùi Ân ở Xuân Cẩm 100 mẫu (50ha), nhất là Nguyễn Tiến Sô ở Hữu Lạc chiếm tối 2000 mẫu (1000ha) ở Kỳ Anh và Cẩm Xuyên.
Ở Kỳ Anh còn có các đồn điền, trại cày của ngƣời Pháp, ngƣời Việt: đồn điền Cu-đúc (Coudoux) ở Đại Hào - Thần Đầu 1395 ha, trong đó có 257 ha cấy lúa và 735 ha là đồng
(1) Theo cuốn “Tỉnh Hà Tĩnh” (Le Provinca De Hatinh)của Roland Bulateau) 1925, Bùi Đình Thiện dịch
(2) Theo tài liệu của Tòa khâm sứ Pháp năm 1942, Đặng Văn Thị dịch
cỏ chăn nuôi trâu bò, đồn điền Thiên Lý (Kỳ Long) của Jira lập từ 1906, đồn điền Ký Huệ ở Đèo Ngang (Kỳ Nam) có 100 mẫu, và đồn điền Nguyễn Thiện Hoan ở Trại Cày (Kỳ Hoa) 40 mẫu... Thực chất đây là những “trại cày”. Các đồn điền, phần lớn ruộng đất đều phát canh thu tô, chỉ có một phần thuê công nhân làm.(1)
Chăn nuôi ngành có truyền thống của Kỳ Anh, nhất là chăn nuôi trâu bò. Những năm 1915 - 1925, riêng đàn trâu bò ở Kỳ Anh đã có 12.000 con, ít hơn Thạch Hà (14.200 con) nhƣng cao hơn cả hai huyện miền núi Hƣơng Sơn (8.200 con) và Hƣơng Khê (11.500 con)(1). Đây chính là nguồn cung cấp sức kéo, giống và thịt cho cả tỉnh và một phần cho các tỉnh bạn. Ở Vọng Liệu (Kỳ Lâm, Kỳ Sơn Kỳ Thƣợng) những đàn trâu bò năm sáu chục con không phải là hiếm và các đồn cũng coi chăn nuôi là ngành quan trọng. Riêng đồn điền Coudoux có tới 735 ha đồng cỏ, nuôi 720 con trâu bò, trại của Nguyễn Thiện Hoan có tới 540 trâu, 60 con bò sữa...
Khai thác và trồng rừng cũng là một nghề quan trọng.
(1). Theo “Tỉnh Hà Tĩnh”, cuốn “Thiên nhiên Việt Nam”. SĐD
Đầu thế kỷ XX, Kỳ Anh vẫn thƣờng xuất các loại gỗ vào Quảng Bình. Vọng Liệu tuy ở vào nơi hẻo lánh miền tây nam Hà Tĩnh, nhƣng cũng không kém phần phát đạt và đông đúc dân cƣ, chủ yếu là nhờ buôn bán và khai thác gỗ, đồng thời là nơi tập kết các loại gỗ trƣớc khi chở vào Quảng Bình.
Vào những năm 1930 - 1945, chính quyền Pháp đã quy hoạch vùng Hoành Sơn quan thuộc phân khu kiểm lâm Trạm Treo vào vùng ƣơm rừng dự trữ 5.600 ha.
Dƣới thời Pháp thuộc, chính quyền bảo hộ cũng đã cho xây dựng nhiều công trình dân sinh trên địa bàn Kỳ Anh.
Làm đƣờng quan lộ thành đƣờng quốc lộ số 1, mở rộng rãi đá 57 km qua địa phận Kỳ Anh. Làm sân bay dã chiến Hỏa Hiệu (Kỳ Trinh) tuy không dùng đến. Đặt ba trạm bƣu chính (Voi, huyện lỵ và Thần Đầu), còn có một trạm điện báo ở huyện lỵ.
Năm 1936, một số công trình thủy lợi nhỏ đƣợc xây dựng:
- Đập Quang Ích làm xong tháng 10-1936, tƣới đƣợc 50 ha
- Đập Mạc Khê làm xong tháng 2-1936, tƣới đƣợc 400 ha
- Đập Văn Yên làm xong tháng 2-1936, tƣới đƣợc 60 ha
- Đập Đông Hải - Quy Hòa xong 2-1936, tƣới đƣợc 60 ha
- Đê Đan Du và Văn Tràng xong 16-5-1936, tƣới 500 ha
Năm 1940 làm thêm đê Dụ Lộc (10-1940) tƣới cho 121 ha.
Ngƣời Pháp cũng đã có dự án thiết kế hai công trình thủy lợi tƣơng đối lớn ở Kỳ Anh là đập Trại Cày với diện tích lƣu lƣợng hồ nƣớc 4.800 ha, trữ lƣợng nƣớc trong hồ khoảng 15 triệu m3, tƣới cho 4.000 ha, và đập Cấp Dẫn tƣới cho 3850 ha, các dự án này chƣa đƣợ thực hiện.
2. Tình hình kinh tế xã hội 1945 - 2015
2.1. Kinh tế Nông nghiệp
Sau cách mạng tháng Tám thành công, diện tích trồng trọt và năng suất cây trồng có tăng nhanh nhƣng cũng không đáng kể.
Trong 10 năm (1955 - 1964), năm thấp nhất (1955, 1957) là 15.549 tấn - 15.610 tấn, năm trung bình đạt 17.753 tấn-19.568 tấn, những năm cao nhất cũng chỉ 23.673 - 25.283 tấn.
Trong những năm 1970, năm cao nhất cũng chỉ đạt 26.000 tấn lƣơng thực, bình quân đầu ngƣời chỉ đạt 200kg lƣơng thực/năm. Đời sống của 70-80% dân thƣờng gặp khó khăn, có khi rất đói khổ. Lƣơng thực vẫn là mối lo lắng hàng đầu của chính quyền và ngƣời dân.
Những năm 1980, tình hình có khá dần lên. Từ năm 1981 -1985, năm năm liên tục bị thiên tai, ba năm (1983 - 1985) lúa mất ba vụ liền, nhƣng tổng sản lƣợng vẫn đạt từ 26.000 tấn đến 32.000 tấn, tăng 10% so với năm 1980, 15% so với năm 1976 và gấn gấp 3 lần so với năm 1942. Có đƣợc điều này là do năng suất đƣợc tăng lên đáng kể, từ 1,2 tấn/ha lên 1,47 tấn/ha. Bình quân đầu ngƣời đạt 216kg thóc/năm. Mức huy động lƣơng thực từ 2.700 tấn (1981) tăng lên 6.100 tấn (1985). Lần đầu tiên Kỳ Anh có lƣơng thực hàng hóa điều cho tỉnh, (năm 1983 là 800 tấn, năm 1985 là 1.825 tấn).
Cuối những năm 1980 (1987-1989) Kỳ Anh liên tục bị thiên tai, bão lụt và hạn hán nên sản lƣợng lƣơng thực lại giảm sút.
Đầu những năm 1990 sản lƣợng có lên nhƣng chƣa đạt đƣợc 32.000 tấn/năm (1991 đạt 23.239 tấn, 1992 đạt 24.632 tấn, 1993 đạt 29.777 tấn...(1)
Cùng cây lƣơng thực, Kỳ Anh cũng phát triển thêm cây lạc, cây chè, hồ tiêu nhƣng diện tích còn ít và sản lƣợng chƣa cao.
- Từ 1981 - 1984 mới có 200 – 250 ha trồng lạc, năm 1985 lên 719 ha, năm 1991 lên 1.213 ha, năm 1993 lên 2.082 ha. Năng suất mới đạt 8-10 tạ / ha và sản lƣợng mới có 1.316 tấn (1991) đến 1.671 tấn (1993).
- Có 512 ha trồng chè ở ở các vùng Thần Đầu, Vọng Liệu và chủ yếu là chè xanh, cung cấp cho nhu cầu trong huyện.
- Hồ tiêu mới chỉ có khoảng 50.000 gốc.
2. 2 Chăn nuôi gia súc
Đàn gia súc cũng phát triển hơn so với trƣớc. Năm 1960 có 19.000 con trâu bò, các năm 1968 - 1970 có giảm sút một ít, năm 1972 tăng lên 20.205 con (trâu 11.822 con, bò 8.383 con), từ năm 1981-1985 tăng hàng năm từ 2000 -2500 con.
(1) Theo tài liệu thống kê của UBHC và Huyện ủy Kỳ Anh
Năm 1985 tổng đàn trâu bò lên tới 32.500 con, (tăng 80% so với 1976).
Theo thống kê mới nhất thì năm 1991 có 7834 con trâu và 23.324 con bò, năm 1992 có 8.744 trâu và 24.144 bò, năm 1993 có 8.000 trâu và 24.300 bò.
Đàn lợn năm 1972 có 21.951 con, năm 1985 tắng lên gấp 2 lần, gần đây sút giảm xuống, năm 1991 có 31.100 con, năm 1992 có 35.729 con, năm 1993 có 34.000 con.
Đàn vịt có khoảng 15.300 - 30.000 con.
2.3. Lâm nghiệp
Việc trồng rừng cũng đƣợc đầy mạnh hơn trƣớc, nhất là những năm sau chiến tranh chống Mỹ cứu nƣớc. Năm 1968 - 1970 hàng năm trồng đƣợc khoảng 3-4 triệu cây con, năm 1972 trồng đƣợc 940 ha đồi trọc.
Từ năm 1981-1985, nghề trồng rừng đƣợc xác định là ngành kinh tế quan trọng. Mô hình nông-lâm kết hợp, giao đất, giao rừng đƣợc hình thành. Hàng năm trồng 350 ha rừng tập trung và 800.000 – 1000.000 cây phân tán.
Năm 1983 toàn huyện có 48 vƣờn ƣơm cây thì năm 1985 có 128 vƣờn, đến 1989 toàn huyện có 722 ha rừng tập trung, trong đó có 553 ha thông nhựa, 132 ha bạch đàn, 32 ha phi lao chắn cát biển.
Theo số liệu thống kê gần đây, năm 1991 có 60 ha rừng tập trung, 1,25 triệu cây phân tán, năm 1992 trồng 121 ha và 1,3 triệu cây, nắm 1993 trồng 470 ha và 1,5 triệu cây.
Tổng diện tích đã giao (đất và rừng) năm 1991 là 1.121 ha (900 ha rừng tự nhiên, 61 ha rừng trồng, 160 ha đồi trọc), năm 1992 là 2.083 ha (1.484 ha rừng tự nhiên, 306 ha rừng trồng, 309 ha đồi trọc, năm 1993 là 2.427 ha (1100 ha rừng tự nhiên, 1.124 ha rừng trồng, 203 ha đồi trọc).
Sản lƣợng nghề rừng hàng năm khá cao. Những năm 1968 - 1970 hàng năm khai thác từ 7.000 - 8.000m3 gỗ các loại. Từ năm 1989 hàng năm có khoảng 2.000 m3 gỗ tròn, 3.000 xiter củi, 5 tấn nhựa thông, 20 tấn song mây, 100 tấn nâu, 40 tấn đót bông, 5.000 kiện lá nón. Sản phẩm gỗ có 1.500 m3 gỗ xẻ, 700m3 gỗ làm đồ mộc dân dụng, 350m3 gổ đồ mộc xuất khẩu...(1).
Ngoài ra rừng ở Kỳ Anh còn có các loại dƣợc liệu quý, mật ong, chim thú...
2.4. Kinh tế biển
Biển Kỳ Anh cũng có nhiều loại hải sản có giá trị, với trữ lƣợng cao. Trƣớc kia có năm đánh bắt tới 2.300 tấn cá.
Năm 1972 các xã ven biển thu hoạch đƣợc 1.963 tấn cá, nhƣng đầu những năm 1980 thì sụt giảm, năm 1983 còn 440 tấn, năm 1985 là 850 tấn, sau mới tăng dần lên.
Năm 1991 đạt 2.264 tấn, năm 1992 đạt 2.422 tấn, năm 1993 đạt 2.450 tấn...
Phƣơng tiện đánh bắt, năm 1993 có tới 1.093 chiếc thuyền (có 862 thuyền gắn máy với tổng công suất 7.760 CV và với vốn đầu tƣ 3.000.000.000 đồng.
(1) Theo tài liệu của gs Đƣờng Hồng Dật - nguyên thứ trƣởng bộ NN
Diện tích nuôi trồng thủy sản cũng từ 113 ha năm 1991 tăng lên 158 ha năm 1993, trong đó diện tích nuôi tôm cua 1993 là 86 ha, rau câu là 30 ha, tổng vốn đầu tƣ 670.000.000 đồng.
Bảy xã ven biển, ngoài nghề cá còn có nghề làm muối. Ngày trƣớc đồng muối Đại Láng rất nổi tiếng, hàng năm có thể sản xuất từ 3.000 đến 4.000 tấn. Các thôn Văn Yên, Đồng Nại, Quy Hòa (Kỳ Hải, Kỳ Hà), Hải Khẩu (Kỳ Ninh) là nơi sản xuất muối, và đó là nghề chính nuôi gia đình.
Năm 1972, chiến tranh ác liệt, các đồng muối cũng sản xuất đƣợc 2.700 tấn, những năm 1981 - 1985 sản lƣợng đạt từ 6.000 - 10.000 tấn/năm.
Nghề chế biến hải sản, phơi muối cá khô, làm nƣớc mắm... ở Đồng Nghĩa, Quy Hòa so với các huyện phía Bắc chƣa phát triển bằng, nhƣng những năm gần đây huyện đã có nhà máy đông lạnh, chế biến tôm, mực với công suất 10 tấn /ngày.
2.5. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Nền công nghiệp, nói chung chƣa phát triển nhiều ở Kỳ Anh xƣa đến nay. Ngoài nghề chế biến hải sản ra, ngƣời dân chủ yếu phát triển một số nghề thủ công truyền thống hoặc mới du nhập. Nhƣ làm võng gai (ở Nhƣ Nhật, Xuân Cẩm), dệt chiếu (Phƣơng Đình, Hòa Lộc), chằm tơi (Sơn Kim, Vĩnh Yên), đan lƣới (Sơn Tịnh), đốt vôi (Trung Hạ), gạch ngói (Hoàng Giang, Yên Hạ), đúc lƣỡi cày (Văn Tràng), dệt vải tơ tằm (Kỳ Tân, Kỳ Văn), nghề rèn (Kỳ Châu), nghề mộc, đóng thuyền, nghề gốm... cũng kém so với các nơi khác.
Nghề thợ bạc vùng Dinh Cầu đã có tiếng từ đời Lê và tập trung thành một phƣờng Ngân Tƣợng (nay thuộc thị trấn Kỳ Anh). Trong thời kỳ chiến tranh cũng giảm sút nhiều.
Nghề làm nón, chủ yếu ở Đan Du, do ông Võ Minh du nhập từ cuối năm 1920 đã trở thành nghề chính của hàng ngàn gia đình ở Kỳ Thƣ và nhiều xã khác. Cả huyện hiện có 4 vạn ngƣời biết làm nón, hàng năm xuất đi các tỉnh hơn 1 triệu chiếc, thu nhập một khoản tiền tƣơng đƣơng 1.200 tấn thóc.
Nghề chế biến thực phẩm ở Kỳ Anh, trƣớc hết phải kể đến bánh tày Voi (Kỳ Phong), bún Phƣơng Giai (Kỳ Bắc), giò lụa thị trấn Kỳ Anh, tôm hùm, cua bể, cửu khổng, cu kỳ... đều là đặc sản đƣợc ƣa thích ở vùng nam Hà Tĩnh.
Nói chung ngoài việc giữ gìn và phát huy những nghề thủ công truyền thống trên. Đến nay Kỳ Anh mới bắt đầu hình thành và phát triển một nền công nghiệp nhẹ. Nhƣ xí nghiệp mộc, xí nghiệp gạch ngói, xí nghiệp đông lạnh, xí nghiệp chè, xí nghiệp khai khoáng (ê-mê-nhít).
Những năm gần đây, tổng giá trị sản lƣợng hàng tiểu thủ công nghiệp mới đạt một con số khiêm tốn: 3.200 triệu đồng năm 1991, và 4.830 triệu năm 1992, và 4.520 triệu năm 1993.
2.6. Thƣơng mại
Buôn bán không phải là sở trƣờng của ngƣời dân Kỳ Anh trƣớc đây. Giữa thế kỷ XIX, sách chép chỉ có 4 chợ tƣơng đối to là chợ Dinh Cầu ở làng Hiệu Thuận, chợ Voi ở làng Tuần Tƣợng, chợ Chào ở Sơn Triều, chợ Dừa ở Hoàng Lễ. Ngoài ra còn có một số quán dọc đƣờng Thiên lý là quán Voi, quán Chào, quán Hạ (Dị Nậu), quán Ngã Tƣ (Hà Trung), quán Hỏa Hiệu (Phú Nghĩa).
Một tài liệu của ngƣời Pháp (tỉnh Hà Tĩnh - cuốn Thiên nhiên Việt Nam - SĐD) viết... “chợ Voi buôn bán gia súc, ngũ cốc và nhiều hàng hóa...”, “chợ Dinh Cầu nằm gần biên giới phía nam tỉnh”, “chợ Vọng Liệu chủ yếu khai thác và buôn bán gỗ...”, “Cửa Khẩu cho đến nay vẫn không có gì quan trọng cho kinh tế..”, “Đại Hào xƣa kia là một làng nhỏ bé... dân cƣ ngày càng đông đúc và chợ búa mua bán tấp nập...”
Nhƣng dần dần, các chợ dân sinh ngày càng phát triển, đến trƣớc cách mạng toàn huyện đã có 15 chợ: Chợ Voi (Hữ Lạc), chợ Cầu (Hiệu Thuận), chợ Thƣợng (Phú Thƣợng), chợ Quan (Thanh Sơn), chợ Mới hay Mỵ (Mỹ Sơn), chợ Hôm (Nhân Canh), chợ Dợn (Phú Dẫn), chợ Quên (Quyền Hành), chợ Ngâm (Thuận Định), chợ Huyện (Nhân Lý), chọ Da (Trạch Hậu), chợ Hà (Hoàng Hà), chợ Trạm (Hoàng Giang), chợ Điếm (Đan Du), chợ Chào (Sơn Triều). Ở Tuần Tƣợng, Hƣng Nhân còn có chợ bán trâu bò.
Hầu hết các chợ ở nông thôn, hàng hóa chính là nông sản, thịt cá, một số ít lâm sản... có nhiều chợ họp theo phiên. Hàng hóa nhiều chủ yếu là ở hai chợ to: chợ Voi và chợ Cầu.
Chợ Cầu và huyện lỵ là tụ điểm buôn bán quan trọng của Kỳ Anh. Ngoài hàng hóa, vật dụng (nông, lâm, hải sản của địa phƣơng) do dân bán lẻ, còn có hàng hóa chở ở Vinh, Hà Tĩnh và Ba Đồn về.
Trƣớc đây cũng đã có những chủ buôn thuyền mành, chủ kinh doanh vận tải ô tô đƣờng Kỳ Anh-Vinh... (nhƣ Trần Tối Lạc, Trần Ba Hân), chủ buôn trâu bò (nhƣ Liêm Kiềm), các chủ buôn bè, buôn lá nón và nón lá xuất ra ngoài tỉnh...
Ở Phú Thƣợng Hải Khẩu cũng có một số chủ buôn thuyền khá lớn. Ở Văn Tràng có Hội Thọ là nhà kinh doanh, sản xuất và buôn bán lƣỡi cày.
Ở huyện lỵ cũng có nhiều nhà buôn của ngƣời Việt và ngƣời Hoa, Vọng Liệu là tụ điểm buôn bán gỗ...
Nói chung việc buôn bán ở Kỳ Anh cũng chỉ là buôn bán quy mô nhỏ, mang tính chất gia đình.
Trong các cuộc chiến tranh, việc buôn bán dân doanh đã có thời gian dài gián đoạn, chỉ có ngành thƣơng nghiệp quốc doanh đƣợc hoạt động nhƣng hàng hóa cũng khan hiếm. Sau năm 1986, thay đổi chính sách kinh tế, cho phép tƣ nhân đƣợc hoạt động. Từ năm 1991 lại nay nền thƣơng mại mới khôi phục và phát triển tốt.
2.7 Giao thông công chánh
Tuy có lịch sử làm đƣờng, đào sông lấp đê từ rất sớm, nhƣng mạng lƣới giao thông, thủy lợi, cơ sở hạ tầng ở Kỳ Anh trƣớc Cách mạng tháng Tám dƣờng nhƣ là chƣa có gì ngoài con đƣờng quốc lộ chạy qua, giao thông chỉ là những con đƣờng đất nhỏ hẹp đủ cho ngƣời đi bộ, đi ngựa hay cáng, qua những chiếc cầu nhỏ chênh vênh.
Sau cách mạng 1945, đƣờng quốc lộ 1A đƣợc mở rộng, trải nhựa. Đƣờng quốc lộ 22 qua sơn phận Kỳ Anh dài khoảng 32 km đƣợc rải đá. Hai đƣờng huyện lộ, một đƣờng từ thị trấn huyện lỵ xuống cửa Khẩu (Kỳ Ninh) dài 6km và đƣờng từ thị trấn đi Mỹ Sơn dài 27 km đƣợc mở rộng rải đá. Một số đƣờng liên xã có tầm quan trọng kinh tế, quốc phòng đƣợc mở rộng, nâng cấp, bảo đảm xe cơ giới qua lại.
Đƣờng chợ Voi (Kỳ Phong) đến Kỳ Khang 21 km, đƣờng Kỳ Phong lên nông trƣờng Thầu Đâu 6 km rồi lên tới Kỳ Tây, Kỳ Thƣợng 18km, đƣờng từ Kỳ Văn lên Kỳ Tây 18km, đƣờng từ Kỳ Hƣng qua Kỳ Thịnh đến Kỳ Lợi, đƣờng từ Trại Cày vào Rỏi (Quảng Bình), đƣờng từ Kỳ Lâm qua Kỳ Lạc vào Ngƣ Hóa (Quảng Bình)... đều đƣợc mở rộng nâng cấp.
Do có nhiều khe, suối nên đƣờng Kỳ Anh cũng có rất nhiều cầu, cống. Riêng mấy trục đƣờng chính trong huyện đã có tới 35 cầu cống.
Sau năm 1975, nhất là thời gian gần đây phong trào làm đƣờng liên hƣơng, đƣờng nông thôn đƣợc uốn thẳng mở rộng. Hệ thống giao thông nông thôn đã tƣơng đối hoàn chỉnh, đã đƣợc bê tông hóa tới từng làng quê.
Hệ thống thủy nông cũng đã đƣợc phát triển mạnh sau năm 1945. Những hệ thống thủy nông trƣớc đây do Pháp xây dựng đã không còn phát huy tác dụng nhiều, việc sửa chữa, mở rộng chẳng đƣợc bao nhiêu.
Năm 1960 xây dựng công trình đập sông Trí tƣới cho 500 ha lúa đông xuân, 250 ha lúa mùa, 200 ha lúa hè thu cho 5 xã: Kỳ Hoa, Kỳ Châu, Kỳ Thƣ, Kỳ Hải, kỳ Hà. Trận lũ 1987 đã phá hủy con đập, năm 1989 với sự giúp đỡ của tổ chức OXFAM (Vƣơng quốc Anh) đập đƣợc xây dựng lại cao và kiên cố hơn, bên cạnh lại có trạm thủy điện với công suất 80KW.
Cuối năm 1990 hồ chứa nƣớc Kim Sơn đƣợc xây dựng hoàn thành, đó là công trình thủy điện có tầm cở đầu tiên của Kỳ Anh.
Cho đến 1970 cả huyện mới chỉ có 25.000 m đê ngăn mặn ở dạng bờ bao, cao từ 1,5-1,8m. Từ 1970 - 1986 hệ thống đê mặn đƣợc bồi trúc với chiều dài 63.000m, cao 1,8-2,2m, có nơi cao tới 3,7m và 33 cống quai đê.
Sau các trận bão, lụt 1987, 1988 đê mặn bị phá hoại nặng nề. Trong những năm 1989, 1990, 1991 nhân dân đã đắp sửa lại toàn bộ 8 hệ thống đê 63km đã có và hoàn thành việc tôn đê Hà –Hải - Thƣ 17km lên độ tiêu chuẩn, an toàn, bền vững.
Công trình thủy lợi sông Rác đƣợc khởi công từ ngày 17-7-1987 nhƣng do thiếu vốn, đến năm 1995 mới đƣợc hoàn thành, với tổng vốn đầu tƣ 125 tỷ đồng, chứa 125 triệu m3 nƣớc, 18km kênh chính, 17km kênh N1, 12km kênh N2 và N3, tƣới cho 83.250 ha ruộng và 500 ha đồng cỏ xanh của nam Cẩm Xuyên và 16 xã bắc Kỳ Anh.
Công trình sông Rác về cơ bản nƣớc tƣới cho đồng ruộng Kỳ Anh đã đƣợc giải quyết.
Tuy nhiên đến năm 1995, nhìn chung cơ sở hạ tầng của Kỳ Anh vẫn còn yếu kém, đƣờng sá còn hẹp và xấu, nhất là vùng núi, điện tuy đã có đƣờng dây 35KW đi qua những chƣa bao phủ hết các xã vùng sâu vùng xa. Điều nay ảnh hƣởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế, xã hội trong huyện.
Nhìn khái quát
- Cho đến năm 1995, cơ bản Kỳ Anh vẫn đang là một huyện nghèo, trong đó có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan.
Một tài liệu của chính quyền thực dân Pháp có nhận xét về nguyên nhân đói nghèo của dân Hà Tĩnh, cũng là của Kỳ Anh thì: 1. Đất đai trồng trọt nhỏ bé, ít ỏi, 2. Chất lƣợng đất xấu, không có màu mỡ, 3. Khí hậu không bình thƣờng, 4. Dân sinh đẻ dày và nhiều, mật độ dân cƣ quá đông, 5. Không có một nền công nghiệp và thiếu hẳn một ngành ngoại thƣơng và thủ công nghiệp, 6. Tình thủ cựu, đa nghi, và vô kỷ luật của dân cƣ, trở ngại cho việc cải tiến phƣơng thức sản xuất để tăng năng suất... Kết quả của nghèo đói dẫn đến tình trạng thức ăn thiếu chất dinh dƣỡng kéo dài, liên miên, trở nên nghiêm trọng, nhất là ở nông thôn...
Nạn đói 1945, toàn tỉnh có 50.000 ngƣời chết đói trong vòng 3 tháng thì Kỳ Anh chiếm tới 5.000 ngƣời, tức 1/10 và cũng là 1/10 dân số của huyện lúc ấy. Riêng các làng thuộc xã Kỳ Phú bây giờ có khoảng 600 ngƣời, các làng thuộc xã Kỳ Văn khoảng 530 ngƣời, các làng thuộc xã Kỳ Trinh khoảng 297 ngƣời và 126 ngƣời mất tích. Có nhiều gia đình chết không còn một ai, nhiều làng xóm tiêu điều, vắng vẻ.
Sau cách mạng, tiếp theo là 30 năm chiến tranh, cuộc sống có phần thay đổi nhƣng cũng chƣa hết khó khăn, nghèo khổ.
Trƣớc 1993, toàn huyện có 36.421 hộ thì 16.236 hộ nghèo (14kg thóc/ngƣời/năm), 7.277 hộ đói (8kg thóc/ngƣời/năm, 7.000 trẻ em chƣa có nhà trẻ, 3.500 em chƣa đƣợc vào học lớp mẫu giáo, 2.800 em bỏ dở lớp học PTCS (theo Báo tiền phong số 43, ngày 26/10/1993).
Theo một tài liệu của Chủ tịch UBND huyện, thì năm 1990 có 102.000 / 150.000 ngƣời thuộc diện nghèo đói, năm 1991 có 80.000 ngƣời, năm 1992 có 50.000 ngƣời, năm 1993 có 30.000 ngƣời, năm 1994 vẫn còn 25.000 ngƣời, 54% trẻ em suy sinh dƣỡng nghiêm trọng.
Năm 1989 có 21.000 ngƣời có ký sinh trùng sốt rét, (63 ngƣời chết), năm 1990 có 15.000 ngƣời (38 ngƣời chết), năm 1991 có 10.000 ngƣời (18 ngƣời chết), năm 1992 có 5.000 ngƣời (13 ngƣời chết)...
Thu nhập bình quân của nông dân là 146.000 đ/ngƣời/năm, trong đó phải chi phí 42,9% cho việc xây dựng, sửa chữa nhà ở do thiên tai phá hủy, 28,8% chi phí chữa bệnh, ốm đau, 3,3% cho việc học tập của con cái. Nhƣ vậy dân chỉ đủ mức duy trì sự sống. Dân phải đi làm thuê ở các tỉnh, thành phố khác lên tới 8.000 ngƣời trong năm 1991 và 4.000 ngƣời trong năm 1992...
Trƣớc tình hình khó khăn đó, đảng, chính quyền đã cố gắng rất lớn, cùng với sự giúp đỡ của nhà nƣớc và các tổ chức quốc tế, từng bƣớc cơ sở hạ tầng đƣợc xây dựng thêm, đời sống nhân dân cũng đƣợc cải thiện, một bộ phận đƣợc nâng cao hơn trƣớc.
Cuối những năm 1980 huyện đã điều phối 4.900 lao động chính với 10.621 nhân khẩu đi xây dựng các vùng kinh tế mới ở Gia Lai, Đắc Lắc, Kon Tum, giảm đƣợc phần nào áp lực khó khăn trong huyện. 1.500 lao động, 6.000 nhân khẩu đƣợc điều chỉnh vùng cƣ trú, sản xuất trong huyện.
Trong 8 năm đã chi 23 tỷ 400 triệu đồng cho việc xóa đói giảm nghèo, trong đó 500 phụ nữ đƣợc vay vốn chăn nuôi gia súc, phát triển kinh tế gia đình...
- Kể từ ngày chia tách tỉnh năm 1991, và chuyển dịch phát triển kinh tế trong những năm đầu 1991-1995, cả nƣớc nói chung và Kỳ Anh nói riêng đã có những bƣớc tiến đáng kể.
Chỉ trong vòng 15 năm từ 1991 đến 2005, kinh tế - văn hóa xã hội của huyện Kỳ Anh đã khởi sắc ngoạn mục. Tốc độ tăng trƣởng kinh tế bình quân hàng năm đạt 11%. Thu nhập bình quân đầu ngƣời 518.000 đồng/năm (1991) tăng lên 4.500.000 đồng / năm (2005). Tổng sản lƣợng lƣơng thực 24.500 tấn (năm 1991) tăng lên 64.100 tấn (2005).
Đến năm 2005, Kỳ Anh không còn hộ đói, hộ nghèo giảm xuống còn 10,3%, (theo tiêu chí mới), cơ cấu kinh tế thay đổi theo hƣớng tích cực. Thƣơng mại, dịch vụ chiếm gần 40%, nông-lâm-ngƣ nghiệp giảm xuống 40%, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp hơn 20%.
Ngày 3 tháng 4 năm 2006, Thủ tƣớng chính phủ có quyết định số 72/2006 QĐ TTG về việc thành lập Khu công nghiệp Vũng Áng, gồm 9 xã: Kỳ Ninh, Kỳ Hà, Kỳ Trinh, Kỳ Thịnh, Kỳ Lợi, Kỳ Long, Kỳ Liên, Kỳ Phƣơng, Kỳ Nam.
Chỉ trong thời gian ngắn từ khi thành lập, Khu công nghiệp Vũng Áng đã thu hút đƣợc 135 dự án đầu tƣ, trong đó có những dự án lớn, trọng điểm nhƣ: Khu liên hợp gang thép và Cảng nƣớc sâu Sơn Dƣơng của công ty FOMOSA, nhà máy nhiệt điện I và II có công suất 2.400MW, nhà máy lọc dầu công suất 16 triệu tấn/ năm...
Với các dự án đầu tƣ trong và ngoài nƣớc, Kỳ Anh bƣớc vào giai đoạn mới. Cuộc cách mạng về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, quy hoạch chuyển đổi dân cƣ, chuyển đổi mục đích sử dụng đất theo hƣớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã mang đến hiệu quả.
Giai đoạn từ 2006 đến 2015, tốc độ tăng trƣởng bình quân hàng năm là 19,6%. Thu nhập bình quân đầu ngƣời năm 2015 đạt hơn 35.000.000 đồng/ năm. Cơ cấu kinh tế thay đổi. Công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp chiếm 42%, thƣơng mại-dịch vụ chiếm 44%, nông-lâm-ngƣ nghiệp chiếm 14%
Thu ngân sách trên địa bàn hàng năm đạt hơn 1.500 tỷ đồng.
Đến năm 2015 có 6 xã đạt tiêu chí nông thôn mới. Hơn 80% trƣờng học, 100% trạm xá đạt chuẩn quốc gia, 82% các gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa...
Đó là những thành quả ngoạn mục mà nhân dân huyện Kỳ Anh đạt đƣợc sau 30 năm đổi mới kinh tế cùng đất nƣớc.
Các chƣơng trình của các tổ chức quốc tế về chống bão, lụt, xây dựng đê ngăn mặn, trồng cây ngập mặn, nuôi ong, trồng rừng, bảo vệ động vật quý hiếm, tôn tạo các di tích văn hóa...đã và đang đƣợc thực hiện...
Kinh tế xã hội khôi phục dần và đang trên đà phát triển.
Chương 4:
Phong hóa-Tôn giáo-Văn học trƣớc 1945
1. Phong tục, tín ngƣỡng, tôn giáo ở Kỳ Anh
1.1. Phong tục tập quán:
Theo “Kỳ Anh phong thổ ký” viết 1930: “Dân trong hạt vốn có tính chất thuần phác, đôn hậu, chăm nghề ruộng nƣơng, buôn bán mà ít ham học hành, tính cầu an, thủ cựu, không thích canh cải. Mức tiến hóa văn minh so với các nơi khác thì còn chậm. Việc hôn nhân thì không bàn đến của cải. Việc tang lễ thì theo lệ cũ. Ở đình chung thì trọng kẻ chức tƣớc, quý ngƣời có tuổi tác. Các bậc văn nhân, khoa bảng cũng đƣợc trọng vọng. Miếu mạo, văn chỉ, đền chùa nơi nào cũng có. Trong dân, qua xuân thu, lễ tiết, vui mừng, việc qua lại rất là đôn hậu. Đại để phong tục tập quán so với các hạt trong miền Nghệ Tĩnh gần gần giống nhau...”
Kỳ Anh, vùng núi non ở biên viễn xƣa, cho đến thế kỷ XV, XVI vẫn là nơi tụ lại của dòng ngƣời từ phía bắc vào. Sống trong môi trƣờng gần nhƣ khép kín, thiên nhiên khắc nhiệt, chiến tranh liên miên, sản xuất lạc hậu, con ngƣời chịu nghèo nàn, cực khổ lâu đời, trở nên hẹp hòi, thủ cựu... là điều dễ hiểu. Tuy nhiên điều kiện sống nhƣ vậy cũng tạo cho con ngƣời những đặc tính có phần đậm nét hơn những nơi khác. Ngƣời dân ở đây chân thật đến mộc mạc, có ý thức cộng đồng làng xã cao, tự khép mình vào kỷ luật nghiêm ngặt, có lúc rất khắt khe, không dễ dàng tiếp nhận, tin theo những cái từ bên ngoài du nhập vào, do đó cũng không cuồng tín.
Ngày xƣa ở đây có câu: “Thần Đầu vô lƣu nha chi án; Cấp Dẫn vô tả đạo chi dân”. Ở Thần Đầu mọi ngƣời giữ luật lệ rất nghiêm và buộc ngƣời nơi xa đến đây cũng phải làm nhƣ vậy, họ tuyệt đối phục tùng những ngƣời đứng đầu làng, hạt. Họ cùng nhau bàn bạc, giải quyết mọi việc ở địa phƣơng, không bao giờ phải thƣa kiện lên quan trên. Còn dân ở Cấp Dẫn thì không theo đạo, và ở các nơi khác giáo dân cũng không là ngoan đạo lắm.
Những đặc điểm trên vừa có cái hay nhƣng cũng là sự cản trở trên con đƣờng tiến hóa của xã hội văn minh.
Ngƣời dân Kỳ Anh có sức chịu đựng gian khổ bền bỉ không giới hạn, giàu nghị lực khắc phục, vƣợt qua khó khăn, khí khái, quật cƣờng. Sống tình nghĩa, thủy chung, mọi ngƣời gắn bó với nhau, tình làng, nghĩa xóm tắm thiết. Ngƣời ta ít khi muốn rời khỏi làng và ngƣời đi xa thƣờng muốn trở về quê. Tình cảm này tuy có trở ngại cho sự tiến thủ, nhƣng cũng là những hành vi tốt đẹp, những hy sinh cao cả vì quê hƣơng.
Tuy nhiên cũng có nhiều ngƣời dân Kỳ Anh sẵn sàng xa quê để học hành, lập chí thành danh rồi mới trở về. Nhƣ hai anh em Lê Quảng Chí, Lê Quảng Ý ở Thần Đầu đã là đại quan triều đình nhƣng khi già vẫn về quê mở trƣờng dạy học để khai sáng quê hƣơng. Trƣớc cách mạng cũng có rất nhiều ngƣời rời quê hƣơng vào phía nam, vùng Nam Kỳ lục tỉnh tìm việc, làm ăn, buôn bán rồi cuối năm lại về...
Hà Tĩnh, Nghệ An nói chung phong tục, tập quán đại để là giống nhau, nhƣng mỗi vùng, mỗi huyện cũng có một số tập quán riêng, dễ nhận. Kỳ Anh là huyện địa đầu nên có một số điểm gần giống với Quảng Bình phía nam, nhƣ việc giả gạo thƣờng gỉa bằng tay đôi, tay tƣ, vừa giã vừa hát hò vui vẻ theo nhịp chày chứ ít giả bằng cối nhƣ các nơi khác.
Cũng có thể vùng quê này còn chịu ít nhiều từ văn hóa Chàm xa xƣa nữa, nên ngày hội, ngày tết thƣờng có đu tiên. Theo nhà nghiên cứu Bờ-rơ-tông (H.Le Breton) thì đu tiên là một hình thức tế lễ mang tính chất tôn giáo của ngƣời Chàm, du nhập từ Ấn Độ. Ở Kỳ Anh ngày trƣớc còn có giếng vuông, bốn bờ ghép ván, ngƣời ta nói đó là kiểu giếng Chàm.
Mặc dù gần rừng, nhiều gỗ nhƣng dân nghèo và nhiều bão tố nên nhà cửa ngày trƣớc thƣờng nhỏ và thấp, lâu đời hình thành một quan điểm nhà phải “Vô bái nhà, ra bái ngõ”, nghĩa là nhà phải thấp để vô ra đều phải cúi đầu, để khỏi va chạm.
Về ăn mặc thì ngƣời Kỳ Anh cũng giống các nơi khác trong tỉnh Hà Tĩnh. Dân giả thì dùng vải Đồng Môn khổ hẹp, nhuộm nâu hoặc đen, quan điểm về cái đẹp hình thể là sự khỏe khoắn: “Đàn ông đóng khố đuôi lƣơn – Đàn bà mặc ƣớm hở sƣờn mới xinh”.
Ta có thể hình dung ngày trƣớc đàn ông thƣờng đóng khố, ở trần hay mặc áo ngắn năm thân, bốn tứ (áo tứ thân) - áo khách - quần dài quá gối. Lễ, Tết, hội hè, đình đám thì mặc áo dài (năm thân), vải thâm hoặc nhuộm nâu bầm, quần trắng, khăn vấn thủ rìu hay vấn vành, đi guốc quai mây hoặc chân đất.
Đàn bà mặc áo cánh nâu, yếm nâu (hoặc trắng), váy đen (thƣờng là nhuộm nâu bầm hoặc nhúng bùn đen), khăn thâm hoặc nâu non. Khá hơn thì có cái áo dài nâu non mặc ngoài thắt qua ra phía sau.
Ngƣời giàu có, chức dịch, nho sĩ... thì ngày thƣờng cũng mặc nhƣ kiểu dân dã, chỉ khác loại hàng tấm và dôi dài hơn. Thƣờng áo quần nái hay lụa để trắng hoặc nhuộm nâu da bài, ngoài là áo dài the, lƣơng đen (rất sang mới mặc gấm, xa tanh), quần trắng, dây lƣng nái hoặc lụa, vấn khăn nhiễu hoặc đội khăn đóng, đi guốc kiểu Xà goòng (Sài Gòn) hoặc giày hạ... Đàn bà mặc áo vải trúc bâu nhuộm nâu non, hay áo lụa, áo cát bá trắng, yếm đào hoặc trắng, váy vải sồi hay lụa, dây lƣng sồi, khăn nhiễu hay sa-tanh, thƣờng đi chân đất, mặc áo ngoài có áo dài the hoặc vải nhuộm nâu non, sang hơn nữa thì có bộ áo “mớ ba” - (áo dài của phụ nữ xưa bằng the lụa mỏng, một bộ ba chiếc:
ngoài củng áo màu tím sẫm, trong là áo màu ngói rồi màu hồng), đi guốc hoặc giày mỏ cong.
Từ năm 1930 đến trƣớc cách mạng 1945, thanh niên, học sinh, trí thức dần thay đổi cách ăn mặc. Con trai đội mũ két, có ngƣời mặc đồ Âu (thƣờng là quần cụt-Short). Một số thiếu nữ mặc áo dài tân thời (Lơ muya-Le Mur), quần cẩm cuốn, đi guốc cao gót...
Đội đầu thì ngƣời Kỳ Anh xƣa chỉ có cái mũ đan bằng tre, hoặc cái lịp lá kiểu nón Thƣợng (Đức Thọ), về sau mới dùng nón lá Ba Đồn (Quảng Bình), nón Kinh. Giàu sang thì đàn ông đội nón Gò Găng, đi ô, đàn bà đội nón bằng, quai thao (nón Hạ).
Kỳ Anh vốn ruộng xấu, năng suất thấp, ngày trƣớc thƣờng xuyên thiếu gạo, ăn khoai, sắn thay cơm là chính. Có khi lấy gốc cây chuối ri, thái nhỏ trộn với tép, moi hoặc gia vị làm món nộm (nham), rất ngon. Khi có dịp nhân dân vẫn thích ăn đồ ăn cao cấp nhƣ cá gỏi, thịt thui, chim cu kỳ, tôm hùm, cua, ghẹ...
Phƣờng săn bắt có lệ chia phần thịt cho tất cả những ai có mặt trong lúc đuổi bắt con mồi. Dân gian còn có tục đi ăn giỗ, ăn cƣới... chỉ dùng đồ nƣớc, còn thức ăn khô thì chia phần mang về cho ngƣời già, trẻ nhỏ ở nhà...
Lễ tang, lễ cƣới thì không có gì khác với các nơi khác trong tỉnh. Duy một số vùng phía nam huyện có lệ khi gả con gái phải có “ruộng hoa nữ), một kiểu hồi môn, thƣờng gọi là “ruộng nhà trai” (khi nhà trai đến nạp tài thì trao giấy chuyển ruộng luôn). Vài nơi có tục “đón đƣờng”, khi đám rƣớc dâu đi qua. Họ nhà gái phải mời trầu và tặng một ít tiền, mới tiếp tục đi. Đƣa dâu có ngƣời đón là điềm tốt đẹp.
Nhiều nơi hàng năm có lệ “hạ thọ” mừng các cụ già lên lão. Có nơi lại có tục khi ngƣời mẹ sinh con thì trong tuần đầu, bà con chòm xóm thay nhau đến “ngủ đêm”, sau đó đều đến chúc mừng.
Các làng cũng có những tục lệ riêng. Vùng Thần Đầu làm lễ hạ điền vào ngày đông chí. Làng chọn một lão nông có “ông mụ song tuyền, con cháu đông đúc” xuống cấy trƣớc, sau đó mọi ngƣời mới đƣợc cấy, ai cấy trƣớc bị làng phạt bằng năm quan tiền. Có làng cứ 27 Tết thì nhà nào cũng quét bánh dĩ (bánh dầy) để cúng tất niên. Làng Đại Hào vào dịp mồng năm tháng năm hoặc mồng mƣời tháng mƣời, mọi nhà đều dọn cỗ bánh chƣng và mật mía đƣa lên cúng thần Thành hoàng. Làng Ngƣu Sơn có lễ làm “ruộng sãi”. Ai đến tuổi 50 thì đƣợc nhận ruộng cấy. Thu hoạch xong, đến rằm tháng tám phải biện 10 cỗ chay (xôi chè) đƣa đến cúng ở miếu Liễu Hạnh... Ai làm “ruộng sãi” thì năm đó đƣợc miễn tạp dịch... Những lệ làng này sau cách mạng đều bị xóa bỏ.
1.2. Tín ngƣỡng
Đến nay, có thể nói ở Kỳ Anh chƣa tìm thấy dấu vết của tín ngƣỡng nguyên thủy và ảnh hƣởng của Chăm-pa trong thờ cúng. Cũng nhƣ các nơi khác trong tỉnh, thờ cúng tổ tiên là chính, ngoài ra có tín ngƣỡng thành hoàng. Làng nào cũng có đền thờ thành hoàng và miếu thờ sơn linh (ở miệt núi), thờ thần bốn phƣơng nam bắc tây đông, thờ thần cá voi... (ở miệt biển)
Đáng chú ý là ở Kỳ Anh cũng nhƣ Hà Tĩnh, truyền thuyết về bà chúa Liễu Hạnh rất đậm, Đèo Ngang đƣợc coi là một trong những nơi phát tích câu chuyện bà chúa Liễu., đến nay dƣới chân núi vẫn còn miếu thờ bà.
Nhiều nơi khác nhƣ Mỹ Sơn, Đan Du, Thanh Sơn, Đạo Nguyên-Trạch Hậu... đều có đền thờ tam tòa (thờ Liễu Hạnh công chúa).
Ở Rú Đọ còn có đền Thánh Mẫu Càn Vƣơng (tức Thái hậu họ Dƣơng đời Tống ở Trung Quốc xƣa đƣợc thờ đầu tiên ở đền Cửa Còn - Càn Hải -, Quỳnh Lƣu, Nghệ An.)
Ở Hải Khẩu, Ao Bạch có đền thờ Chế Thắng phu nhân, cũng đƣợc gọi là đền thờ Thánh Mẫu.
Cùng với việc thờ Thánh Mẫu, tục thờ sơn thần, ngƣ thần cũng tƣơng đối phổ biến.
Ở vùng Vọng Liệu, vùng Rú Đọ... có đền thờ các sơn thần “Cao các nhạc sơn” hay “mạc sơn”, “Bát vạn sơn tinh công chúa” (có thể là cách gọi khác về công chúa Liễu Hạnh).
Ở vùng ven núi đều có các miếu “cửa núi” thờ sơn linh.
Vùng biển cầu thần “Độc cƣớc”, thờ thần Cá voi (Cá ông) ở Thuận Định (Kỳ Ninh), Kẻ Dỏ, Long Trì (Kỳ Phú), Hải Phong (Kỳ Lợi)... ở gần miếu thờ thƣờng có mộ Ông Cá, do chết tạt vào đƣợc dân làng mai táng...
Các làng có đình làng và miếu nhỏ thờ “ông bụt”...
Đặc biệt Thành hoàng làng ở Kỳ Anh phần lớn là nhân thần. Đó là những con ngƣời cụ thể, có công với làng, với một vùng quê. Nhƣ Trần Rô, ngƣời lập ra làng Đan Du, Phạm Tiêm, ngƣời “lấp cửa Lỗ, trổ eo Bù” ngăn lụt và mở vùng Đồng Nại, tƣớng quân Võ Thắng ở Xuân Sơn, tổ sƣ nghề thợ bạc ở phƣờng Ngân Tƣợng, tổ sƣ nghề làm gốm ở Nhân Canh, ba ông họ chu đào sông ở Rú Vong...
Đó là những văn thần, võ tƣớng ngƣời địa phƣơng, nhƣ Lê Quảng Chí, Lê Quảng Ý ở Thần Đầu, Phùng Trí Tri ở Liệt Thƣợng, Phan Nhàn ở Sơn Luật, Lê Tuấn ở Mỹ Lũ, Lan quận công Lê Thát ở Hữu Lệ, Thọ quận công Phạm Tiêm ở Hƣng Nhân, Điện quận công Phạm Hoành ở Sơn Triều, Thái giám Võ Vƣơng, và hai quận công ở Thanh Sơn, Sùng lễ hầu họ Nguyễn ở Thần Đầu...
Đó là những nhân vật lịch sử mà hành trạng có quan hệ với vùng đất Kỳ Anh nhƣ Chế Thắng phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu ở Hải Khẩu, tƣớng quân Võ Thắng ở Xuân Sơn,
Sát hải tƣớng quân Hoàng Tả Thốn (miếu ở núi Cao Vọng, Kỳ Lợi). các trấn tƣớng Nghệ An đời Lê làm quan và chết ở Dinh Cầu nhƣ: Hào quận công Lê Thì Hiến, Trung quận công Lê Thì Liêu, Tiến quận công Lê Quang Hiểu (đền ở núi Bạch Thạch, Quyền Hành), Hải quận công Phạm Đình Trọng (đền ở núi Càn Hƣơng)...
Và một số đền chƣa rõ thờ vị thần nào nhƣ: đền Chính Tiền, đền Mỹ Sơn, đền Mỹ Lý, đền Phú Thƣợng, đền Long Hoa, miếu Vạn Kỳ (Kỳ Châu), miếu Rỏi (Kỳ Văn), đền Đình Vua (Kỳ Lạc)...
Việc nhân thần đƣợc thờ nhiều hơn thiên thần và thần tự nhiên chứng tỏ lớp cƣ dân gốc gác bản địa xa xƣa không nhiều, thậm chí rất hiếm. Đối với họ Thành hoàng làng là những ngƣời có tên tuổi, có sự tích và công cán rõ ràng, chứ không phải hoàn toàn do con ngƣời tƣởng tượng ra.
1.3. Tôn giáo
1.3.1 Nho giáo
Nho giáo tồn tại từ rất sớm ở nƣớc ta từ thời bắc thuộc, nhƣng ở Kỳ Anh cũng phải đến thế kỷ XV, đời Lê mới xuất hiện những ngƣời đỗ đạt, đến thời Nguyễn mới phát triển. Giới nho sĩ Kỳ Anh lúc đầu chỉ thờ Văn Thánh (Khổng tử) ở Văn miếu Phƣơng Cần (Mỹ Duệ) cùng với hai huyện Thạch Hà và Cẩm Xuyên.
Đến giữa đời Nguyễn mới dựng nhà Văn miếu ở Biểu Duệ (Kỳ Tân), nay vẫn còn ngôi cổng. Một số làng, xã thịnh nho học cũng dựng nhà Văn thánh làng. Lễ tế Văn thánh tiến hành hàng năm vào ngày “thƣợng đinh” (ngày đinh tháng hai âm lịch), do giới tử văn chủ trì.
1.3.2. Phật giáo
Đạo Phật xuất hiện ở Kỳ Anh cũng rất muộn. Chùa chiền đều mới đƣợc thành lập từ cuối triều Lê, đầu triều Nguyễn, chùa có sớm nhất cũng sau chiến tranh Trịnh - Nguyễn (thế kỷ XVII).
Sách “Đại Nam nhất thống chí” viết đời Tự Đức chỉ chép 3 ngôi chùa ở Kỳ Anh là chùa Bàn Độ, “ở sƣờn núi Bàn Độ, thôn Phú Duyệt”, chùa Phú Dẫn “Trƣớc chùa có núi đá đứng sững nhƣ hình rộng phƣợng, bên cạnh có khe nƣớc trong mát...” và chùa Lý Nhân “ở trên gò đất thôn Lý Nhân, chùa rất anh linh, thề nguyền thƣờng ứng nghiệm”.
Một số làng, xã khác cũng có chùa nhƣng nhỏ, không có giá trị gì về lịch sử và kiến trúc nhƣ: chùa Biểu Duệ (Kỳ Tân), chùa Đan Du (Kỳ Thƣ), chùa Đông Hải (Trảo Nha, Kỳ Khang), chùa Mỹ Lý (Vọng Liệu), chùa Vịnh Lộc (Kỳ Ninh), chùa Phú Thƣợng (Kỳ Phú), chùa Thanh Sơn (Kỳ Văn), chùa Ngƣu Sơn (Kỳ Nam)... các chùa đều đã mất hoặc hƣ hỏng, chỉ còn một số rất ít, nhƣ chùa Dền (chùa Phúc Toàn) ở Kỳ Châu còn giữ đƣợc đến ngày nay.
Các chùa ở Kỳ Anh rất hiếm chùa có sƣ trụ trì, việc thờ phụng chủ yếu do sải chùa cùng lý dịch trong làng sắp đặt vào các dịp thƣợng nguyên, trung nguyên... Dân làng không phải chính danh là tín đồ Phật giáo, mặc dầu họ vẫn kính trọng Đức Phật cũng nhƣ kính trọng Thành hoàng.
1.3.3. Thiên Chúa giáo
Đạo Thiên Chúa đã du nhập vào Kỳ Anh ít ra là vào cuối thế kỷ thứ XVIII. Năm 1812 ở Nghệ Tĩnh đã có 45.680 ngƣời theo đạo. Ngày 27-3-1846 “Địa phận truyền giáo phía Nam xứ Bắc Kỳ (địa phận xã Đoài ngày nay) đƣợc thành lập, với phạm vi hoạt động từ Nghệ An đến bắc Quảng Bình. Giáo chủ Ngô-Gia-Hậu (Gautier) đƣợc bổ nhiệm cai quản (ông nhận chức vào tháng 2 -1847). Cùng giữa năm 1846, một linh mục ngƣời Pháp là “Cố Châu” đƣợc cử đến Dụ Lộc (Kỳ Trinh), năm 1863 cụ Xuân (ngƣời Việt) đến xứ Quy Hà (Kỳ Hà ngày nay), năm 1921 cụ Chế (ngƣời Việt) đến xứ Dụ Thành (Kỳ Khang), năm 1930 cụ Vinh (ngƣời Việt) đến xứ Đông Yên (Kỳ Lợi) và cố Khanh (Père Kerbao) đến xứ Châu Long (Kỳ Châu), sau đó cố Mỵ (Père Roucin) đến thay cố Khanh...
Sau năm 1945 Thiên Chúa giáo cùng đồng hành và phát triển với cả nƣớc trong chế độ mới.
Năm 1996 Kỳ Anh có khoảng 6000 giáo dân ở 10 xã: Kỳ Hà, Kỳ Châu, Kỳ Lợi, Kỳ Long, Kỳ Trinh, Kỳ Khang, Kỳ Hòa, Kỳ Lạc, Kỳ Sơn, có 4 linh mục và 8 nhà thờ ở: Đông Yên, Tây Yên, Tây Hà, Bắc Hà, Kỳ Lạc, Châu Long, Long Giang, Liên Giang.
Trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, đồng bào giáo dân luôn là những người kính Chúa, yêu nước.
2. Văn thơ chữ Hán viết về mảnh đất Kỳ Anh
Từ thời cổ đại và trải nghìn năm bắc thuộc, sử sách ghi chép rất ít về vùng đất này, cho đến đầu Tiền Lý (thời vua Lý Nam Đế - 543) mới đƣợc nhắc đến trong “Đại Việt sử ký toàn thƣ”.
Mãi đến thời Tiền Lê, khi Phụ quốc Ngô Tử An mở ra con đƣờng xuyên Việt qua đèo Ngang (năm 992) vùng đất Kỳ Anh vẫn thuộc vùng biên viễn xa xôi, ít ngƣời biết đến, đời sống vật chất, tinh thần đều lạc hậu, lại thƣờng xuyên bị giặc giã quấy nhiễu. Thơ văn thời kỳ này chƣa tìm thấy trong các lƣu bản, sách vở.
Phải đến đời Lý, năm Ất Sửu (1025) vua Lý Thái Tổ xuống chiếu lập trại Định Phiên ở nam giới của Châu Hoan tức vùng Kỳ Anh bây giờ để bảo vệ biên giới phía nam đất nƣớc.
Và tiếp theo là đời Trần... vùng đất Kỳ Anh mới thật sự đƣợc quan tâm, chú ý nhiều hơn...
Mở đầu cho dòng thơ ca viết về mảnh đất Kỳ Anh, ngoài một vài câu ca dao, truyền miệng không đáng kể, có lẽ bài thơ: “Chiều hôm đậu thuyền ở cửa Thần Đầu” của Thân Công Quốc nhập nội đại hành khiển Nguyễn Trung Ngạn (1289 - 1370) là bài đầu tiên đƣợc ghi chép cho đến ngày nay.
Thần Đầu cảng Khẩu vãn bạc
Ba đao nhật cƣớc tán hà hồng
Vô hạn ngƣ gia lạc chiếu trung
Nhất thủy bạch tòng thiên thƣợng lạc
Quần sơn thanh đáo hải môn không.
Long qui động khẩu tình sinh vụ
Kình phún triều đầu mộ khởi phong
Độc phiếm lan châu quan hạo đãng
Hốt nghi thân tại lạn ngân cung.
(Trích Hoàng Việt thi văn tuyển của Bùi Huy Bích sƣu tầm, biên dịch, NXB Văn hóa Hà Nội - 1957, tập 1, trang 69)
Dịch nghĩa:
Chiều hôm đậu thuyền cửa Thần Đầu
Sóng lay chân mặt trời, tỏa thành ráng đỏ
Vô số nhà chài lẫn trong bóng chiều
Một dòng nƣớc trắng tựa trên trời rơi xuống
Mấy ngọn non xanh, đến cửa biển nhạt màu.
Rồng về cửa hang, trời tạnh hóa mù
Kình phun đầu sóng, chiều hôm nổi gió
Một mình cƣỡi chiếc thuyền lan ngắm cảnh bát ngát
Ngỡ nhƣ thân ta ở chốn thần tiên.
Dịch thơ:
1. Chiều hôm đậu thuyền cửa Thần Đầu
Sóng lay nguồn nắng ráng hồng tƣơi
Bao cảnh chiều hôm phủ xóm chài
Ngọn nƣớc lƣng trời dòng trắng dội
Dẫy non đầu biển nét xanh phai.
Rồng về cửa động mù che khắp
Kình nổi ngoài khơi gió thổi hoài
Cƣỡi chiếc thuyền nan trong bát ngát
Ngỡ mình nhƣ ở chốn Bồng lai.
(Không rõ ngƣời dịch)
2. Chiều hôm đậu thuyền cửa Thần Đầu
Sóng lay ráng đỏ tận chân trời
Làng chài thấp thoáng mái chơi vơi
Nước rẽ lưng trời tuôn trắng xóa
Núi xuôi gần biển nhạt màu tươi.
Rồng về cửa động trời sẫm tối
Cá vờn đầu sóng gió tung khơi
Trên thuyền ngắm cảnh chiều man mác
Nào khác thần tiên lạc cõi ngƣời… (Xuân Lộc phỏng dịch)
Thơ vua Lê Thánh Tông viết ở Kỳ Anh
Tiểu dẫn: Lê Thánh Tông (1442 - 1497) tên tự là Tƣ Thành, là con trai thứ tƣ, con út của vua Lê Thái Tông. Mẹ là Ngô Thị Ngọc Giao, ngƣời làng Động Bành, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Ông là hoàng đế thứ năm của nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam. Trị vì từ ngày 26 tháng 6 năm 1460 đến khi qua đời năm 1497, tổng cộng 37 năm, là vị hoàng đế trị vì lâu nhất thời Hậu Lê – giai đoạn Lê sơ trong lịch sử Việt Nam. Thời kỳ của ông đƣợc đánh dấu bởi sự hƣng thịnh của nhà Hậu Lê nói riêng và chế độ phong kiến Việt Nam nói chung với tên gọi là Hồng Đức Thịnh Thế.
Lê Thánh Tông lên ngôi, trị vì 37 năm, là một ông vua tài năng và nhiệt huyết với nhiều thành tựu nổi bật. Ông đã làm cho quốc gia Đại Việt phát triển rực rỡ về mọi mặt. Lê Thánh Tông còn là một nhà thơ lớn. Ông tự lập ra Hội Tao Đàn, gồm 28 tiến sĩ giỏi thơ văn nhất đất nƣớc thời đó, gọi là “Tao Đàn nhị thập bát cú” do chính ông làm nguyên soái. Khối lƣợng sáng tác của ông và hội Tao Đàn có vị trí rất đặc biệt trong nền văn học nƣớc nhà.
Tác phẩm “Hồng Đức quốc âm thi tập”, văn Nôm có: “Thập giới cô hồn quốc ngữ văn”, thơ Hán có: “Chinh Tây kỷ hành”, “Minh Lƣơng cẩm tú”, “Văn minh cổ xúy”, “Cổ tâm bách vịnh”.
Ông có riêng 5 bài thơ chữ Hán và 1 bài chữ Nôm viết về Kỳ Anh (Hà Hoa xưa)
Bài 1: Hồng Đức nguyên niên thập nhị nguyệt thập nhất nhật
Tiểu tiểu bồng song để đỉnh miên
Lục sa trƣớng quyển bạc nhƣ thiền
Càn khôn dạ vũ tam canh mộng
Triều hải đông phong vạn lý thiên.
Diễu diễu ba đào cùng vọng mục
Thông thông thời tự tích lƣu niên
Khƣớc lân nê lộ cù lao sĩ
Phúc thủ nan vô mộc quách tiền.
(Thơ văn Lê Thánh Tông, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1986, trang 170 - 171)
Dịch nghĩa:
Hồng Đức năm thứ nhất ngày 11 tháng 12
Mui thuyền vắng lặng tựa đầu mà ngủ
Bức màn the xanh mỏng tựa cánh ve
Giữa trời đất đêm mƣa canh ba mơ màng giấc mộng
Gió đông vù vù nơi sông nƣớc, muôn dặm bát ngát trời xanh
Sóng nƣớc mênh mông nhìn ngút tầm mắt
Quang âm thấm thoắt tiếc ngày tháng trôi
Luống thƣơng binh sĩ dầm bùn vất vả
Ngã chết mà trong túi không tiền sắm áo quan.
Dịch thơ:
Ngày 11 tháng 12 năm Hồng Đức thứ nhất
Ngủ tựa đầu nhan, thuyền lạnh vắng
Rèm xanh mỏng tựa cánh ve xanh
Gió đông vỗ biển trời muôn dặm
Đêm tối tràn mƣa mộng mấy canh.
Hun hút tầm xa nhòa sóng nƣớc
Vèo trôi ngày tháng tiếc thời gian
Luống thƣơng binh sỹ dầm chân đất
Chết thiếu tiền mua cỗ áo quan.
Ngô Linh Ngọc dịch
Bài 2: Tiến thoái cách
(Thập nhị nguyệt thập tam nhật, dạ tử canh, khai thuền hành nhất tiểu giang. Thập tứ nhật tảo, nhập Sa Tắc cảng, phong hàn vũ chú, thuyền bạc ngạn biên, lƣỡng ngạn bình điền, mục cực thiên lý, nhân hy địa quảng, my lộc thành quần. Tự Trƣờng Lang cảng dị tiền, dung thỉ dân sổ vạn gia hỷ.Ngẫu thành nhất luật vân):
Uyên yên đà cổ thủy biên qua
Phong ngoại lâu thuyền lƣợc ngạn qua
Tiếp dã tri dƣ thiên vạn khoảnh
Chẩm giang ly lạc lƣỡng tam gia
Hải nhai lỗ viễn thần quang mại
Đầu thƣợng thiên đê vũ ý đa.
Trịnh trọng thanh hanh hiểu hơn sắc
Tự năng tƣơng tống quá Hà Hoa.
Dịch nghĩa:
Thể tiến thoái
(Canh tƣ, đêm mƣời ba tháng 12, rời thuyền bơi vào một dòng sông nhỏ. Sáng 14 vào cảng Sa Tắc, mƣa to gió lạnh, thuyền dừng lại sát bờ. Hai bên bờ ruộng phẳng bát ngát muôn dặm nhìn ngút tầm mắt, đất rộng ngƣời thƣa, hƣơu nai từng đàn. Từ cảng Trƣờng Lang trở về phía trƣớc có thể di dân chừng mấy vạn gia đình. Ta ngẫu hứng thành một bài thơ rằng):
Thùng thùng tiếng trống vang lừng bên sông
Thuyền lầu lƣớt gió chạy sát ven bờ
Bát ngát liền bờ ruộng muôn ngàn khoảnh
Lác đác kề sông dăm ba nóc nhà.
Góc bể đƣờng xa chan hòa nắng sớm
Trên đầu trời thấp, lộ rõ vẻ mƣa
Sắc núi sớm xanh ngắt một cách trịnh trọng
Dƣờng nhƣ tiễn ta qua cửa Hà Hoa.
(Sách đã dẫn trang 172)
Dịch thơ:
Thế tiến lui
Rộn rịp bên sông tiếng trống đà
Thuyền lầu lƣớt gió dọc bờ qua
Ruộng đồng liên tiếp ngàn muôn khoảnh
Làng mạc lưa thưa mấy túp nhà
Góc bể lờ mờ khi rạng sáng
Bầu trời u ám cảnh mưa sa
Núi non trịnh trọng màu xanh biếc
Trƣớc cửa Hà Hoa tống tiễn ta.
(Theo bản dịch HVTVT)
Bài thứ 3: Trú Hoành Sơn dịch
(Thập nhị nguyệt, thập tứ nhật trú Hoành Sơn dịch thị. Dạ tứ canh nhiên đăng lãm quyển, xuất lệnh chƣ quân nhục thực, minh nhật khai thuyền, dĩ nhi chuyển thâu Tắc Giang, cụ mộc chẩm thủy nải lệnh tiền khu tả dực phạt mộc thông chu. Tắc Giang chƣ thuyền, nhất thời bạt khứ. Thập ngũ nhật Mùi thời phát hành, thƣ nhất luật vân):
Cô thôn nguyệt lạc nhất văn kê
Văn ngoại tinh hà ảnh tiệm đê
Tiểu trí nhất thời quy phụ thố
Đại canh thiên cổ bất điều tê.
Sóc phong quyển địa mai hoa sấu
Hiểu vụ mãn thiên thiết mã tê
Quốc sự viễn lai vô khả vấn
Thƣơng lƣơng hành sắc dạ ô đề.
(Sách đã dẫn trang 174)
Dịch nghĩa:
Nghỉ ở trạm Hoàng Sơn
(Ngày 14 thang 12 đóng quân ở trạm Hoàng Sơn. Canh tƣ đêm ấy đốt đèn đọc sách, hạ lệnh cho ba quân ăn cơm từ sớm, sáng ra rời thuyền tiến vào Tắc Giang, gặp cây to chắn giữa đƣờng, bèn ra lệnh cho cánh quân tiền khu tả dực chặt cây thông thuyền. Đoàn thuyền trên sông Tắc Giang một lát qua đƣợc ngay. Giờ Mùi ngày 15 lại khởi hành, ta bèn viết một bài thơ luật rằng):
Thôn vắng trăng lặn, chợt nghe tiếng gà gáy
Sông Ngân ngoài lớp mây, bóng đã thấp dần
Chí mọn nhất thời ôm cây đợi thỏ
Canh ngọt muôn thủa gia vị chẳng cần.
Gió bấc cuốn đất, hoa mai gầy guộc
Mù sớm mịt mùng ngựa sắt hí vang
Việc nƣớc xa xôi không thể hỏi đƣợc
Chỉ có trời xanh lạnh ngắt với tiếng quạ kêu đêm.
Dịch thơ:
Nghỉ ở trạm Hoàng Sơn
Xóm vắng trăng lu vẳng tiếng gà
Chân mây dần thấp dải Ngân Hà
Một thời hiểu ít cây ôm hảo
Ngàn thủa canh ngon vị chẳng pha.
Gầy võ cánh mai cơn gió bấc
Hí vang ngựa sắt sớm mù sa
Mịt mùng việc nƣớc khôn giò hỏi
Lạnh ngắt trời khuya tiếng quạ xa,
(Ngô Linh Ngọc dịch)
Bài thứ 4: Hà Hoa hải môn lữ thứ
Hà Hoa đáo xứ vũ trùng siêu
Hoàn hải mang nhiên tứ vọng dao
Xúc thạch du du vân luyến tụ
Bài nham húng húng lãng tùy triều.
Thủy tiên đàm thƣợng yên hà cổ
Chế Thắng từ trung thảo mộc kiều
Túy ỷ bồng song ngâm hứng phát
Thi hoài khách tứ kết vô liêu.
(Sách đã dẫn trang 188)
Dịch nghĩa:
Nghỉ lại ở cửa biển Hà Hoa
Khắp vùng Hà Hoa mƣa suốt buổi sáng
Xa xa nhìn bốn phía vũ trụ mênh mang
Vách núi xanh mƣớt, mây quấn quít quanh đỉnh
Đỉnh núi nhấp nhô, sóng thủy triều vỗ ầm ầm
Trên đầm Thủy Tiên vẫn mây khói xƣa
Quanh đền Chế Thắng cỏ cây xanh tốt
Say rượu, ngồi tựa cửa thuyền, hứng thơ chứa chan
Thơ mang nỗi niềm ngƣời khách xa nhà, càng thêm vời vợi.
Dịch thơ:
Nghỉ lại ở cửa biển Hà Hoa
Mƣa mai mù mịt bến Hà Hoa
Ngắm bể mênh mang bốn phía xa
Mây mến đầu non lơ lửng đứng
Sóng theo con nƣớc rập rờn qua.
Thủy Tiên đầm nọ đầy sƣơng sáng
Chế Thắng đền kia rực cỏ hoa
Say tựa bên mui càng nảy hứng
Lòng thơ dạ khách khó khuây khoa.
(Đỗ Ngọc Toại dịch)
Bài 5: Xích Lỗ hải môn lữ thứ
Xích Lỗ giang trung phiếm khách thuyền
Lữ hoài hƣơng tứ cộng mang nhiên
Đào đầu hải thú hà vi bảo
Ngạn chủy nhân gia lại tác duyên.
Mạo vũ phàm quy ngƣ tử quốc
Duyên lƣu triều trƣớng lạc hầu điền
Thắng hoài thặng nghĩ hy tiền triết
Khóa lãng thừa phong khoái trứ tiên.
(Sách đã dẫn trang 190)
Dịch nghĩa:
Nghỉ lại ở cửa biển Xích Lỗ
Chiếc thuyền khách lƣớt trên sông Xích Lỗ
Nỗi xa nhà nhớ quê khiến ta man mác
Phòng thủ bờ biển nơi đầu bãi lấy sông làm lũy
Nhà dân gốc bờ sông lấy tre làm kèo nhà.
Cánh buồm đội mƣa trở về vùng cá nƣớc
Ven sông thủy triều lên ngập ruộng Lạc hầu
Nhớ mãi tới các vị hiền triết đời trƣớc
Ta bèn đƣa con thuyền lƣỡi sóng lƣớt vun vút.
Dịch thơ:
Nghỉ lại ở cửa biển Xích Lỗ
Lênh đênh Xích Lỗ mơ màng
Non xanh nƣớc biếc xốn xang nhớ nhà
Chòi canh dựng giữa phong ba
Chênh chênh bến nƣớc bóng nhà nghiêng nghiêng
Mƣa giông gõ nhịp mạn thuyền
Triều dâng ruộng Lạc chung chiêng mé đồi
Mơ màng hiền triết xa xôi
Rẽ mây cƣỡi gió băng vời vút lên
(Võ Minh Châu dịch)
Bài thư 6 : Qua Đèo Ngang
Bãi thẳm ngàn xa cảnh vắng teo
Đèo Ngang lợi bể nƣớc trong veo
Thà là cúi xuống cây đòi sụt
Xô xát xông lên sóng muốn trèo.
Lảnh chảnh đầu mầm chim vững tổ
Lanh đanh cuối vụng cá ngong triều
Cuộc cờ kim cổ chừng bao nả
Non nƣớc trông qua vẫn bấy nhiêu.
(Văn đàn bảo giám, NXB Văn học 1998, Trần Trung Viên sƣu tập, trang 19)
Bài thứ 7: Đề đền Chế Thắng phu nhân
Một vị hiền nhân cửa điện trần
Hy sinh vì nƣớc dám liều thân
Đào hoa chìm nổi cơn giông tố
Mộng điệp mơ màng giấc mộng xuân.
Dòng nƣớc vô tình chôn Sở phụ
Hƣơng hồn nào chỗ viếng Tƣơng quân
Than ôi! Trăm vạn binh hùng mạnh
Lại kém thƣ sinh một hịch quân.
(Lê Thánh Tông-1470 niên hiệu Hồng Đúc)
Bùi Huy Bích
Bùi Huy Bích (1744 - 1802) tự Hy Chƣơng, hiệu Tồn Am. Nhà thơ, nhà văn Việt Nam. Quê ở huyện Thanh Trì, trấn Sơn Nam, nay thuộc Hà Nội. Đỗ hoàng giáp năm 1769, làm quan đến chức hành tham tụng ở phủ Chúa Trịnh. Tác phẩm của ông có các tập Bích Câu thi tập, Nghệ An thi tập, Thoái Hiên thi tập gồm nhiều bài phản ánh tình hình nhân dân đói khổ vì thiên tai, thuế khoá, binh dịch; nhiều bài tả cảnh đẹp thiên nhiên nơi Bùi Huy Bích làm quan hoặc ở quê hƣơng. Thời Tây Sơn, Bùi Huy Bích ẩn náu ở Sơn Tây và viết cuốn Lữ trung tạp thuyết (1789) chép tản mạn những suy nghĩ về triết học, văn học, lịch sử, giống nhƣ một cuốn tuỳ bút. Bùi Huy Bích còn soạn bộ Hoàng Việt thi tuyển, chọn thơ các đời cho đến đời Cảnh Hƣng (cuối Lê), trong đó có phụ thêm thơ của ông; bộ Hoàng Việt văn tuyển gồm phú, ký, minh, văn tế, chiếu, chế, sách, biểu, công văn, sắp xếp theo thể loại.
Những bài thơ ông viết về miền phiên dậu kỳ Anh có nhiều. Trong bài thơ “Vịnh núi Cao Vọng” có hai câu:
“Trƣơng Phụ lai thời thanh thạch lão
Hán Thƣơng khứ hậu bạch vân lƣu”
(Đá cũng bạc đầu, Trƣơng Phụ đến
Mây còn trắng núi, Hán Thƣơng đi) (Thái Kim Đỉnh dịch)
Trong Nghệ An ký (NAK), bài “Phú Nghĩa Sơn hành vũ trung” của Bùi Huy Bích đƣợc đƣa vào mục từ “Hoành Sơn”, tiết Núi, chƣơng Địa chí, với lời dẫn: “Hoành Sơn “tức Đèo Ngang) ở xã Hoằng Lễ, Kỳ Hoa, (nay thuộc xã Kỳ Nam, Kỳ Anh) là dãy núi trấn giữ biên cƣơng thuở trƣớc, trên đất Kỳ Hoa. Một nhánh từ phía Tây vƣợt tới biển chặn ngang, cây cối um tùm xanh tốt. Xƣa, đây là nơi xung yếu ngăn cách hai miền Giao Châu và Chiêm Thành. Thành dài, lũy ngắn hiểm trở, vững chắc đủ để cầm giữ. Ông Bùi Chấp Chính (BHB), ngƣời Thanh Trì, đi qua núi Phú Nghĩa trong mƣa có thơ:
Phú Nghĩa Sơn hành vũ trung
“Thủy tín Hoan nam biên ái tráng
Bất tri khống địa, kỷ trùng quan
Liên không thƣơng mãng hồn lâm tụ
Bạt địa tha nga tận thạch sơn
U điểu sầu viên thùy phục quản
Độc khê nguy đặng chỉ nhƣ nhàn
Vũ trung cảnh tƣợng nan miêu xứ
Noãn kiệu kê ngang vân vũ gian”
(thơ Bùi Chấp chính)
Dịch nghĩa:
Qua núi Phú Nghĩa đi trong mƣa
Mới tin miền biên ải phía nam Hoan Châu hùng tráng vững chắc.
Nơi chắn giữ này (khống địa) có biết bao lớp cửa dày đặc
Rừng cây xanh rậm tận chân trời
Đá núi cao vút nâng thế đất
Chim hận vƣợn sầu khó quản.
Nƣớc khe độc dốc nguy hiểm, chỉ thoáng rầy (nhƣ nhàn)
Cảnh tƣợng nơi đây ngày mƣa (vũ thiên) ai đến vẽ
(Ngồi trong) kiệu ấm lên (đèo) xuống (dốc) giữa mây mƣa
Dịch thơ:
Qua núi Phú Nghĩa đi trong mƣa
Mới tin biên ải Hoan Nam vững
Chẳng biết bao nhiêu lớp cửa dày
Xanh rậm chân trời, rừng bịt kín
Vút cao thế đất, đá ken đầy
Vƣợn sầu chim hận không hề quản
Khe độc dốc nguy chỉ thoáng rầy
Cảnh tƣợng ngày mƣa ai đến vẽ
Nhấp nhô kiệu ấm giữa mƣa mây
(Bùi Văn Chất dịch)
Nặng lòng với trầm tích lịch sử và cảnh sắc thiên nhiên Kỳ Anh, ông để lại trong “Nghệ An thi tập” một chùm thơ/ riêng của vùng này: 1, Phó Trấn thành ; 2, Trấn Thành trung thu dạ; 3, Trấn thành thu vũ ; 4, Thu tình Trấn thành dạ trung, tác; 5, Ngoạn Việt Sơn tuyền; 6, Hiểu quá Lạc Xuyên sơn tức sự; 7, Trùng chƣớc Việt Sơn tuyền; 8, Phú Nghĩa Sơn hành vũ trung, tác; 9, Quá Liên Sơn tự; 10, Cao Vọng Sơn; 11, Mộc Miên khê; 12, Vọng Bàn Độ Sơn; 13, Vọng Thiên Cầm sơn…
( Trích trong bài: Kỳ hoa – Miền biên ải Hoan Nam trong thơ Bùi Huy Bích của Bùi Văn Chất – Tạp chí Văn hóa Nghệ An
1. Trấn Thành Trung thu dạ
Tịch mịch sơn thành vũ vị lan
Nguyệt hoa ƣng thị chiếu Trƣờng An
Bình sở liên không dạ khí hàn
Vụ ám trùng quan thời trích lậu
Đăng minh cô quán dộc bằng lan
Số bôi đạm mính thù giai tiết
Trân trọng tƣớng quân nhất quả bàn
Dịch nghĩa:
Đêm Trung thu ở Trấn thành
Vắng vẻ Sơn thành mƣa chƣa tan
Hoa trăng đang dọi chốn Tràng An
Hoa lau tàn vây quanh ẩn tiếng thu
Bụi gai phẳng liền trời đêm gió lạnh
Sƣơng mù dăng dày cửa ải nhỏ giọt lách tách
Ngọn đèn chong quán vắng ngồi dựa lan can
Vài chén trà nhạt đón mừng tết Trung thu
Trân trọng dâng tƣớng quân một mâm hoa qủa
Dịch thơ:
Đêm Trung thu ở Trấn thành
Vắng vẻ Sơn thành mƣa chửa tan
Hoa trăng đang dọi chốn Trƣờng An
Lau tàn rạp đất hơi thu lặng
Bụi rậm liền trời đêm gió lan
Ải trĩu sƣơng dày treo ngọn cỏ
Đèn chong quán vắng tựa lan can
Chén trà nhạt đón Trung Thu đến
Trân trọng mâm quà dâng tƣớng quân
(Bài Văn Chất dịch)
2. Ngoạn Việt Sơn truyền
Nhất đái bình cƣơng thúy điệu liên
Xuyên lâm lạc thạch tiện sàn viên
Ốc tào cấp lựu hà vô vũ
Nham khiếu phi thoan cái hữu tiên
Cấp ngạnh đông tây phân viễn kính
Thi nang tằng phủ bạn phƣơng tuyền
Thanh trà số oản lƣơng âm hạ
Tƣơng phủ Hoành Sơn bích tiếu thiên
(Chữ “phủ” trong câu 8 bài này ở NAK là chữ “đối”)
Dịch nghĩa:
Ngắm cảnh suối Việt Sơn
Một dải gò bằng rừng cây xanh thẳm
Xuyên rừng luồn đá suối nƣớc ngon tuôn trào
Máng nƣớc luôn đầy, dù trời không mƣa
Hang đá lại phun, nhờ tiên thánh chỉ bảo
Đó đây nhờ gàu tát đƣa nƣớc lên lối nhỏ
Bầu bạn cùng túi thơ có suối thơm đây
Vài chén chè xanh nghỉ ngơi hóng mát
Ngắm Đèo Ngang xanh thấm tận trời
Dịch thơ :
Ngắm cảnh suối Việt Sơn
Một gò cây cối xanh xanh
Hang đá rải rác xuyên rừng xuyên khe
Không mƣa máng nƣớc chảy ra,
Bay từ hang đá nhƣ là dáng tiên
Xa xa gàu tát nƣớc lên
Túi thơ làm bạn với miền suối thơm
Tựa cây uống bát chè ngon
Núi Hoành trƣớc mặt, biếc tuôn đầy trời
(Mai Xuân Hải dịch) (Nguyễn Thị Thảo, Nxb KHXH, Hà Nội: 2004, trang 201)
3. “Quá Liên Sơn tự” Kỳ Hoa huyện
“Truyền văn cựu hữu Liên Sơn tự
Nhận đắc đài bi cổ thú trung
Bại ốc bán gian dƣ vận đạc
Tằng loan thiên điệp chỉ phƣơng tùng
Lụy môn thế thạch trùng trùng đặng
Khê thủy băng nhai dực dực phong
Tƣởng kiến vân quan vô sự cửu
Thú lâu triệt tận, tự hoàn không”
Dịch nghĩa:
Qua chùa Liên Sơn huyện Kỳ Hoa
Nghe truyền rằng (ở đây) xƣa có chùa Liên Sơn
(Nay còn) nhận rõ đƣợc tấm bia rêu phủ trong “đồn thú” cổ
Nhà nát nửa gian còn dƣ âm tiếng mõ
Núi cao nghìn tầng chỉ toàn là rừng thơm
Cửa lụy xếp thềm tầng tầng đá dựng
Nƣớc khe xói bờ lớp lớp gió lay
Cứ nghĩ chốn quan ải trên mây không có chuyện cũ
“Lầu canh” triệt hết, chùa cũng không còn.
Dịch thơ:
Qua chùa Liên Sơn huyện Kỳ Hoa
Truyền rằng xƣa có Liên Sơn tự
Còn đó bia rêu giữa điếm hoang
Nghìn lớp non cao rừng mãi thắm
Nửa gian nhà nát, mõ còn vang
Xếp thềm cửa lụy tầng tầng dựng
Xói vách dòng khe lớp lớp loang
Quan ải trong mây đâu chuyện cũ
Lầu canh triệt tận, góc chùa hoang.
(chƣa rõ ngƣời dịch)
4. Kỳ Hoa đạo trung vọng Thiên Cầm sơn
Hải Thƣợng đê mê thảo thụ âm
Quý Ly hà xứ hốt hành cầm
Khả liên tặc tử mƣu thiên quốc
Bất ngộ Hoàng thiên sát phụ tâm.
Khẩu thực vạn niên nhân thỏa mạ
Sơn quang nhất phiến khách trầm ngâm
Kỳ La đông vọng phù lam xứ
Thiên ức Hồ Vƣơng thính ngọc cầm.
Dịch nghĩa:
Giữa đƣờng Kỳ Hoa trông núi Thiên Cầm tức sự
Trên bờ biển mịt mùng cỏ cây rậm rạp
Quý Ly bỗng bị bắt ở nơi nào đây
Đáng thƣơng tặc tử mƣu dời nƣớc
Không biết Hoàng thiên giết kẻ phụ tâm
Bia miệng muôn năm ngƣời đời chửi rủa
Trƣớc quang cảnh núi khắc lòng khách trầm ngâm
Kỳ La hơi núi từ phƣơng đông tới
Riêng (Ta) nhớ Hồ Vƣơng nghe tiếng ngọc cầm.
Dịch thơ:
Giữa đƣờng Kỳ Hoa trông núi Thiên Cầm tức sự
Bờ biển mịt mùng cây với cỏ
Nơi đâu Hồ Quý bị giam cầm
Đáng thƣơng giặc tính mƣu dời nƣớc
Chẳng biết trời hành kẻ phụ tâm
Bia miệng muôn năm đời chửi rủa
Trời quang một khoảnh khách trầm ngâm
Phƣơng đông hơi núi Kỳ La nổi
Riêng nhớ Hồ Vƣơng thƣởng ngọc cầm.
(Chƣa rõ ngƣời dịch)
Nhà thơ Ninh Tốn
Ninh tốn (1744 - 1790), tự Khiêm Nhƣ, sau đổi là Hy Chí, hiệu là Mẫn Hiên và Chuyết Sơn cƣ sĩ. Quê xã Côi Trì, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Thân sinh là ông Nin Sản, hiệu Dã Hiên, Hy Tăng nguyên.
Năm 19 tuổi đỗ Hƣơng Cống, năm 27 tuổi (1770) đề thơ ở núi Vân Lổi (thuộc địa phận Thanh Hóa). Khi Trịnh Sâm đi xem xét phong tục thấy bài thơ trên, biết là của ông, vì mến bài thơ ấy mà triệu ông vào giữa chức Phiêm liêm tri binh. Từ 1770 - 1787 làm quan với vua Lê, Chúa Trịnh. Từ 1788 - 1790 làm quan với Tân triều Tây Sơn.
Tác phẩm: “Chuyết Sơn thi tập”, “Chuyết Sơn thi tập đại đoàn”, “Tiền Lê Tiến sĩ Ninh Tốn thi tập”.
Kỳ La
Kỳ La tòng cổ hiệu danh môn
Cự lãng hồng đào vạn phái bôn
Võng cổ nhân tƣ vô tật vận
Yên ba khách kết mạc sầu thôn.
Cầm sơn thanh lạc Chƣơng Hoàng đảm
Bảo sát hƣơng ky Vũ Mộc hồn
Cảnh lý tinh thần: Tâm hội xứ
Mang mang thiên hải dã nan ngôn.
(Thơ văn Ninh Tốn, NXB KH-XH Hà Nội 1984, trang 119)
Dịch nghĩa:
Cửa biển Kỳ La
Kỳ La là cửa biển có tiếng từ xa xƣa
Muôn lớp sóng to xô đẩy nối tiếp
Bằng nghề chài lƣới, ngƣời dành lấy vật không bao giờ hết
Với cảnh nƣớc mây khách xây dựng xóm làng không chút buồn rầu
Tiếng núi Thiên Cầm* làm rơi rụng mật Chƣơng Hoàng** đế
Hƣơng chùa báu quyện với hồn Vũ Mục vƣơng***
Tinh thần trong cảnh ấy chính là nơi hiểu rõ của tấm lòng
Trời biển mênh mông thật khó nói.
Dịch thơ:
Cửa biển Kỳ La
Cửa biển Kỳ La dội những ngày
Lòng sâu sóng cả nƣớc tuôn đầy
Ngƣời siêng vật sẵn nơi chài lƣới
Khách kết thôn vui chốn nƣớc mây.
Tên núi vở gan quân giặc nƣớc
Hƣơng chùa quyện vía bậc tôi ngay
Tinh thần trong cảnh nơi tâm hiểu
Trời biển mênh mông khó nói thay.
(Nguyễn Hữu Chế dịch)
* Núi Thiên Cầm ở cẩm Xuyên
** Chƣơng Hoàng tức Hồ Quý Ly
*** Vũ Mục Vƣơng tức Lê Khôi.
Ngô Thì Nhậm
Ngô Thì Nhậm (1746-1803), ngƣời làng Tả Thanh Oai, trấn Sơn Nam, (Nay là xã Đại Thanh, huyện Thƣờng Tin, tỉnh Hà Tây), thủa nhỏ có tên là Phó, sau đổi thành Nhậm. Tên tự là Hy Doãn, hiệu Đạt Hiền, xuất thân trong một gia đình quý tộc có truyền thống văn học. 11 tuổi đã đọc đƣợc kinh, truyện, sử. 15 tuổi học với bố là Ngô Thì Sỹ (1726-1780). 17 tuổi sát hạch ở trƣờng huyện hai lần đều chiếm hạng ƣu. Mấy năm sau đỗ khoa sỹ vọng và đƣợc bổ hiến sát Phó sử Hải Dƣơng. 30 tuổi đỗ tiến sỹ. Năm 1776 làm giám sát ngự sử đạo Sơn Nam, sau đó làm giám khảo khoa thi hƣơng ở Hải Dƣơng rồi thăng lên Đốc đồng Kinh Bắc. Năm 1778 kiêm cả Đốc đồng Thái Nguyên.
Năm 1788, Nguyễn Huệ ra Bắc lần hai, Lê Chiêu Thống trốn chạy, ông về ở ẩn tại thôn Kim Quan, Thạch Thất, Sơn Tây. Kết thúc cuộc đời làm quan dƣới triều Lê-Trịnh.
Tác phẩm: “Kim mã hành dƣ”, “Hào mân ai lục”, và những tập thơ “Cẩm đƣờng nhàn thoại”, “Thu cận dƣơng ngôn”.
1. Quá Hoành Sơn
Hoan Châu nam giới tận Hoành Sơn
Sáp Hán tầng tầng tẩm bích lan
Bảo tƣợng quân vƣơng chinh bái cổ
Huyền Trân công chúa sính liêm tàn.
Trƣờng đê sa dũng, kình nghê thiếp
Cố lũy yên thâm, điểu tƣớc nhàn
Quan cái bất phƣơng lăng hiển lộ
Mai hoa tảo dĩ hoán xuân hoàn.
(Ngô Thì Nhậm, NXB Văn học 1986, trang 110)
Dịch nghĩa:
Qua núi Hoành Sơn
Địa giới phía nam Châu Hoan đến dải Hoành Sơn là hết
Núi đá trùng trùng cao chọc sông Hán và thấm tới làn biển xanh
Ngọn cờ vua Bảo tƣợng còn truyền chiến trận xƣa
Hộp cƣới công chúa Huyền Trân, tiêu tàn từ thủa nào.
Cát đùn chạn đê dài, giống kình ngƣ im lặng
Khói tỏa thành lũy xƣa, bầy yến tƣớc tung tăng
Mũ, xe lên đƣờng, không nề dấn bƣớc buổi sƣơng sớm
Mấy đóa hoa mai sớm đã gọi xuân về.
Dịch thơ:
Qua núi Hoành Sơn
Cõi Nam Hoan Diễn sát non Hoành
Non chọc tầng mây, áp biển xanh
Lễ cƣới Huyền Trân khôn hỏi dấu
Bóng cờ Bảo tƣợng vẫn truyền danh.
Đê dài cát dãi, kình im bặt
Lũy cổ mây mờ, sẻ lƣợn quanh
Áo mũ ngại gì sƣơng móc sớm
Gọi xuân mai đã nở đầu cành.
(Nguyễn Sĩ Lâm dịch)
2. Đăng Hoành Sơn vọng hải
Tạo hóa đƣơng sơ khổ dụng công
Khƣớc tƣơng hổ huyệt xấn giao cung
Hoàn vƣơng phong vực quy ô hữu
Trần đế tinh kỳ quải thái không.
Tình thụ thê cầm thƣơng dục lão
Nộ đào hý ngạc bạch thành ông
Vô cùng kim cổ phù âu sự
Phân hợp du du hạc mộng trung.
(Sách đã dẫn, trang 112)
Dịch nghĩa:
Lên núi Hoành Sơn trông biển
Thủa xƣa tạo hóa cũng nhọc công bày đặt
Lại đem hang cọp áp tới cung rồng
Bờ cõi nƣớc Hoàn vƣơng* đã biến vào chỗ không
Cờ quạt vua nhà Trần nhƣ còn treo bóng trên tầng mây.
Lùm cây đậu đầy chim, màu xanh coi biết buổi trời tạnh
Sóng dữ đùa cá ngạc, trắng xóa tựa đầu ông già
Biết bao chuyện cổ kim nhƣ một đám bọt nổi
Cuộc phân hợp man mác trong một giấc mộng lạc.
(* Hoàn Vƣơng tên gọi khác của Chiêm Thành)
Dịch thơ:
Lên Hoành Sơn ngắm biển
Hóa công sắp đặt tự lâu rồi
Hang cọp, cung rồng tạo một đôi
Đất Chiêm xƣa đã thành hƣ ảo
Cờ Trần nay tựa bóng mây trôi.
Trời tạnh cây xanh chim ríu rít
Bạc đầu sóng dữ cá vờn chơi
Kim-cổ việc đời nhƣ bọt bể
Tan-hợp, vui-buồn, giấc mộng thôi.
Xuân Lộc phỏng dịch
3. Ngụ Dinh Cầu muộn thuật
“Tuyết ủng Lam Quan mã bất tiền”*
Tích nhân tằng thử hận thiên diên
Liễu dƣơng cảnh huống tha hƣơng khách
Phần tử tình hoài cố quốc thiên.
Khuất chỉ hải môn tam thập lục
Đài đầu lĩnh kiệu vạn dƣ thiên
Mộng tàn huyền hạc** si hoàn tỉnh
Phù thế phong xà thƣơng hữu niên
(Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhiệm, quyển 1, NXBKH-XH Hà Nội 1978, trang 150)
* Câu thơ của Hàn Vũ đời Đƣờng
** Huyền hạc-hạc đen. Trong bài “Hậu Xích Bích phú” của Tô Đông Pha có đoạn tả, đại ý: “Đêm đã khuya, cuộc
rƣợu đã tàn, chợt thấy một con hạc đen bay qua thuyền... đem nằm ngủ ông mơ thấy một đạo sĩ áo đen cúi chào...”
Dịch nghĩa:
Trú ngụ ở Dinh Cầu, buồn thuật lại
Tuyết phủ Lam Quan, ngựa không tiến lên đƣợc
Ngƣời xƣa đã từng vì thế mà ôm hận dằng dặc
Cảnh huống liễu dƣơng, đất khách quê ngƣời
Lòng nhớ quê hƣơng, bầu trời cố quốc.
Bấm nốt tính, băm sáu cửa biển
Ngẫng đầu nhìn, ngàn vạn núi non
Tan giấc mộng “Hạc đen” ngây lại tỉnh
Cuộc đời phong trần hãy còn dài.
Dịch thơ:
Nỗi buồn ở Dinh Cầu
“Tuyết phủ Lam Quan chồn vó ngựa”
Ngƣời xƣa ôm hận mãi vì đây!
Tấm thân đất khách bao ly biệt
Gốc tử trời quê xiết cảm hoài.
Bấm nốt ba lăm dƣ cửa biển
Ngẫng đầu nghìn vạn lẻ non mây
Hạc đen tan giấc mê đà tỉnh
Lận đận phù sinh bƣớc vẫn dài...
(Khƣơng Hữu Dụng dịch)
4. Dinh Cầu hữu cảm
Tự tích Hà Trung thị cực biên
Đàm đàm sƣ mạc khống thanh phiên
Chi già xuy tán thiên trì lãng
Thú cổ xao tàn hỏa hiện yên.
Tế liễu lục thùy Tiên Thánh miếu
Trƣờng dƣơng thúy kết Thắng Phi điền
Thùy giao Vân Đảo khai biên hấn
Tần Tấn doanh thâu để cục phiên.
(Sách đã dẫn, trang 152)
Dịch nghĩa:
Cảm nghĩ qua Dinh Cầu
Từ xƣa đất Hà Trung là biên giới tận cùng
Thăm thẳm trại quân khống chế bờ cõi
Kèn trận thổi, tan sóng ao trời
Trống canh khuya, lụi khói lửa hiệu.
Cây liễu rủ xanh miếu Tiên Thánh
Khói dƣơng tỏa biếc trâm Thắng Phi
Ai xui nên biên hấn ở Vân Đảo
Nghĩa Tấn Tần đổ vỡ bởi cuộc ăn thua.
Dịch thơ:
a.Cảm nghĩ qua Dinh Cầu
Từ trƣớc Hà Trung cuối đất mình
Kín ngăn bờ cõi đóng quân doanh
Sóng khơi tan giữa hồi kèn trận
Lửa hiệu tàn trong tiếng trống canh.
Viên tƣớng, miếu buông tơ liễu biếc
Bà Phi bông kết đóa dƣơng xanh
Đƣợc thua, Vân Đảo ai gây hấn
Tần, Tấn xui nên chếch mách tình
(Bản dịch Khƣơng Hữu Dụng)
b. Cảm nghĩ qua Dinh Cầu
Hà Trung xƣa tận cùng biên giới
Giữ bờ phiên dậu hạ quân doanh
Tan sóng giữa trời kèn trận thổi
Lửa hiệu tàn trong tiếng trống canh.
Tiên Thánh miếu buông tơ liễu biếc
Chế Thắng đền tỏa mát dƣơng xanh
Ai xui gây hấn miền Vân Đảo
Tần, Tấn tranh nhau nghĩa chẳng thành
(Bản dịch của Xuân Lộc)
5. Ký kiến
Địa tận Kỳ Hoa hạn Bắc - Nam
Hoành Sơn nhất đái ỉ thƣơng lam
Huyền Trân sính vật dƣ thanh thụ
Chế Thắng hƣơng liêm ngụ bích đàm.
Tƣớng mạc tiêu sơ vân tác bính
Dân cư thác lạc trúc vi am
Thanh toàn tƣơng chiếu ngân hoa trản
Vị mạch thuần giai, vạn cổ am.
(Sách đã dẫn, trang 160)
Dịch nghĩa:
Ghi lại những điều trông thấy
Hết đất Kỳ Hoa là hạn Bắc – Nam
Dải Hoành Sơn đứng tựa vào vòm trời biếc
Đồ sính lễ Huyền Trân còn nhiều cây xanh
Hộp hƣơng thơm Chế Thắng gửi dƣới đầm biếc.
Trại tƣớng quân tiêu sơ mây là bức chắn
Xóm dân cƣ lác đác lấy trúc làm am thờ
Suối trong soi bóng chén ngân hoa
Mạch nƣớc thuần khiết vạn năm còn ngon ngọt.
Dịch thơ:
Ngẫm những điều trông thấy
Cuối đất Kỳ Hoa rạch Bắc - Nam
Hoành Sơn một dải ngất trời lam
Huyền Trân sính lễ um cây lá
Chế Thắng hòm hƣơng gửi nƣớc dầm.
Đồn tƣớng tiêu sơ may ghép dậu
Xóm dân thƣa thớt trúc làm am
Suối trong gợi ánh soi ly ngọc
Nếm mạch ngàn xƣa vị ngọt thơm.
(Ngô Linh Ngọc dịch)
6. Hoành Sơn đạo trung
Thạch Sơn tận xứ khởi sa sơn
Khê giản chu hồi sa thạch gian
Thủy tẩm phong yêu giao ẩn đảo
Lâm thùy hải diện điểu khuy lan.
Trƣờng kiều xa mã đồ nghênh tống
Dũng đạo tiều ngƣ thị vãng hoàn
Nhất vị tự thông Nam, Bắc lộ
Thùy môn bất tự Kiếm môn quan.
(Sách đã dẫn, trang 162)
Dịch nghĩa:
Trên đường Đèo Ngang
Hết nơi núi đá bắt đầu núi cát
Khe suối quanh co giữa khoảng đá và cát
Nƣớc ngâm lƣng núi, thuồng luồng núp dƣới đảo
Rừng soi bóng xuống chim chóc nhòm sóng vỗ.
Cầu dài, đƣờng rộn ràng xe ngựa đƣa đón
Lối hẻm bác tiều phu, bác dân chài đi về
Một con bè từ khi thông đƣờng Bắc - Nam
Cửa thầy không giống cửa kiếm các.
Dịch thơ: Trên đường Đèo Ngang
Núi đá qua rồi, núi cát trông
Quanh vùng cát đá suối khe vòng
Rừng nhô mặt biển chim nhòm sóng
Nƣớc ngấm sƣờn non đảo ẩn rồng.
Cầu đón đƣờng đƣa xe ngựa rộn
Lối về củi cá chợ thêm đông
Cửa Thầy khác hẳn đƣờng Tây Thục
Một chiếc bè con Nam - Bắc thông.
(Khƣơng Hữu Dụng dịch)
Đoàn Nguyên Tuấn
Đoàn Nguyên Tuấn (1750 - ?), hiệu Hải Ông. Ngƣời làng Hải An, huyện Quỳnh Côi tỉnh Thái Bình. Là con Hoàng giáp Đoàn Nguyễn Thục, và là anh vợ Nguyễn Du. Đỗ hƣơng cống triều Lê, sau làm quan thời Tây Sơn đến Trực học sỹ, tƣớc hầu, đi sứ nhà Thanh, về thăng Lại bộ tả thị lang, Hải phái hầu.
Tác phẩm: “Kinh quá Nghệ An”, “Đạo quá Hồng Lĩnh kí kiến”. “Túc Dinh Cầu hữu cảm”, “Độ Hoành Sơn”, “Túc Hoành Sơn đồn hải đảo thanh”...”
1. Độ Hoành Sơn
Trùng trùng liệt chƣớng bán thiên già
Nham hiểm vu hồi hựu nhất qua
Lê hoắc tạc văn tằng bất thái
Kinh trăn kim kiến phục vi gia.
Thƣơng thƣơng bách lý thiên niên hải
Hạo hạo song đôi lãng khích sa
Huống thị quy tâm hƣơng quốc nhĩ
Bạch vân thân xá vọng nhƣ hà.
(Thơ văn Đoàn Nhƣ Tuấn, NXB KH-XH, Hà Nội 1982, trang 91)
Dịch nghĩa:
Vƣợt Đèo Ngang
Núi giăng giăng trùng điệp che khuất lƣng trời
Hiểm trở quanh co - ta qua đây lần nữa
Xƣa đồn rằng: Lê hoắc chẳng ai buồn hái
Nay thấy gai góc biến thành cửa nhà.
Trăm dặm xanh xanh trời liền với biển
Đôi cồn bát ngát sóng đẩy cát lên
Thêm nỗi nhớ quê canh cánh bên lòng
Trông vời nhà ta dƣới làn mây trắng.
Dịch thơ:
Vƣợt Đèo Ngang
Che nửa trời cao, núi điệp trùng
Lại qua hiểm trở quãng đƣờng vòng
Xƣa chê rau cỏ ngƣời không hái
Nay bạt chông gai bếp đã đông.
Muôn dặm liền khơi trời biếc ngắt
Đôi cồn dãy cát sóng mênh mông
Nhớ quê lòng những không xa mấy
Mây trắng nhà ta bát ngát trông.
(Trần Duy Vôn dịch)
2. Túc Hoành Sơn đồn, văn hải đảo thanh
Hà xứ đào thanh triệt dạ văn
Hoành Sơn sơn hạ đại dƣơng tân
Phù sinh danh lợi không giao cát
Thử địa quan hà kỷ hợp phân.
Nhất hoạn tiêu điều suy mấn khách
Bách hoa tịch mịch cố viên xuân
Minh triêu hựu hƣớng Ô Châu khứ
Tiện thị thiên nhai hải giác nhân.
(Sách đã dẫn, trang 93)
Dịch nghĩa:
Ngủ đêm ở đồn Hoành Sơn nghe tiếng sóng biển
Tiếng sóng đâu đây vang suốt đêm trƣờng
Dƣới núi Hoành Sơn là bờ biển cả
Danh lợi trong cõi phù sinh luốn những rối bời
Núi sông ở dải đất này bao lần chƣa hợp.
Khách bạc tóc với một chức quan mọn
Vƣờn xuân cũ cùng trăm hoa hiu quạnh
Sáng mai lại đi về phía Châu Ô*
Thế là con ngƣời góc bể chân trời.
(* Châu Ô - Quảng Bình ngày nay)
Dịch thơ
Ngủ đêm ở đồn Hoành Sơn nghe tiếng sóng biển
Sóng đâu vang vọng suốt đêm ngồi
Nghe dƣới Đèo Ngang bể réo sôi
Danh lợi mơ màng bao chuyện đó
Quan hà chƣa hợp mấy phen rồi.
Trăm hoa vƣờn cũ ngày xuân vắng
Một chức quan hèn tóc bạc phơi
Lại hƣớng Châu Ô, mai bƣớc tiếp
Rồi ra góc bể với chân trời.
(Thái Kim Đỉnh dịch)
3. Qúa Hoành Sơn
Tứ niên tam độ quá Hoành Sơn
San sắc y y khách mấn ban
Kim cổ tích âm sinh quái mị
Càn khôn hạo khí hổng cuồng lan.
Thu phong tiêu sắt gia âm diễu
Hoạn hải thê lƣơng thế lộ nam
Văn đạo Nam chinh tân thác địa
Hải Vân sơn ngoại cánh trùng quan.
(Sách đã dẫn, trang 94)
Dịch nghĩa:
Qua núi Hoành Sơn
Bốn năm ba lần qua núi Hoành Sơn
Sắc núi vẫn xanh, khách đã bạc tóc
Âm khí cổ kim sinh loài ma quái
Hạo khí trời đất gầm tiếng sóng cuồng.
Gió thu hiu hắt tin nhà mờ mịt
Bể hoạn thê lƣơng đƣờng đời khó khăn
Nghe nói vào Nam tới nơi đất mới
Ngoài núi Hải Vân còn nhiều cửa ải.
Dịch thơ:
Qua núi Hoành Sơn
Bôn năm ba dạo vƣợt Đèo Ngang
Núi đó, ngƣời nay tóc điểm bạc
Hồn cổ kim dồn: ma hiện quái
Khí kiền khôn lớn: sóng gầm vang.
Gió thu hiu hắt tin nhà vắng
Bể hoạn thê lƣơng bƣớc khó lƣờng
Nghe nói vào Nam miền đất mới
Hải Vân trùng điệp núi giăng giăng.
(Hà Thúc Minh dịch)
Bùi Dương Lịch
Bùi Dƣơng Lịch (1757 - 1827), tự Tồn Thành, hiệu Tồn trai, ngƣời làng Yên Đồng, huyện La Sơn, nay thuộc xã Tùng Ảnh, huyện Đúc Thọ, Hà Tĩnh. Thân sinh là Bùi Quốc Toại, đỗ Hƣơng cống, bổ tri huyện Thiện Thiên (Thanh Hóa), mẹ là con gái ngƣời họ Dƣơng ở Đồng Môn, huyện Thạch Hà, nên ông có tên kép là Bùi Dƣơng.
Ông đỗ Hoàng giáp khoa Đinh Mùi (1787), làm nội hầu viên cung phụng sứ ngoại lang. Nhà Lê mất, ông về ở ẩn ở quê mẹ. Năm 1790 làm Hàn lâm dƣới triều Tây Sơn, chuyên dịch sách ở Sùng chính viện. Đời Nguyễn làm đốc học Nghệ An một thời gian rồi về dạy học.
Tác phẩm: “Nghệ An ký”, “Nghệ An phong thổ thoại”, “Yên hội thôn chí” “Bùi gia huấn hài...)
Hoành Sơn
Nam khứ trùng sơn viễn
Đông lai đáo hải hoành
Thạch thành Lâm Ấp trúc
Lục lỗ Tử An bình.
Thùy hoạch Miên khê hạn
Trƣờng khan Yến hải thanh
Sơn hà quy hữu đức
Yên dụng khổ kinh doanh.
(Thơ Bùi Dƣơng Lịch, sờ VH-TT Hà Tĩnh 1996, Võ Hồng Suy sƣu tầm và biên dịch, trang 55)
Dịch nghĩa:
Đèo Ngang
Núi non lớp lớp chạy về phía nam xa xa
Phía đông, một dải biển ngang xô lại
Thành đá, ngƣời Lâm Ấp xây dựng nên
Con đƣờng bộ này do ông Tử An đắp.
Ai vạch ra con khe Miên làm giới hạn
Đảo yến ngoài biển xanh mênh mông
Ngƣời có đức thờ sông núi quy vào một mối
Sao còn phải khó nhọc để mở mang thêm.
Dịch thơ:
Đèo Ngang
Rừng xanh lớp lớp hƣớng về Nam
Xuôi biển Đông này một dải ngang
Lũy đá ngƣời Lâm Ấp kè đắp
Đƣờng mòn dân Việt mấy lần san.
Khe Miên ai vạch viền phân cách
Biển Én trong xanh đến ngỡ ngàng
Sông núi quy về do có đức
Sao còn đeo đẳng nỗi gian nan.
(Võ Minh Châu dịch)
Nguyễn Đề
Nguyễn Đề (1760 - 1806), tự Tiến Phủ, hiệu Quế Hiên. Ngƣời làng Tiên Điền, nay là xã Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Là anh cùng mẹ với Nguyễn Du, đỗ đầu kỳ thi hƣơng năm Qúy Mão (1783), làm Hàn lâm viện cung phụng, đổi sang võ chức, sung thêm thủ chấp mật viện sự, tƣớc Đức phái hầu. Sau giúp nhà Tây Sơn làm Đông các trung thƣ, tƣớc Nghi đính hầu. Đời Nguyễn cũng làm quan ở Thuận Hóa và Quy Nhơn, từng đi sứ Trung Quốc hai lần.
Tác phẩm: “Quế Hiên giáp ất tập”, “Hoa trình tiêu khiển tập”.
1. Qúa Hoành Sơn
Nam Bắc trì khu dục cánh thiên
Danh sơn sơ đáo vọng mang nhiên
Thụ sâm lộ kính thiên doanh kích
Lam khởi nham đầu vạn táo yên.
Loạn thạch y y đôi cổ lũy
Đồi ba cổn cổn hạn tiền xuyên
Mang trung nghĩ hƣớng sơn ông vấn
Dĩ thƣớng phân cƣơng kỹ bách niên.
(Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Đệ, NXB KH-XH Hà Nội 1995, trang 101)
Dịch nghĩa:
Qua Đèo Ngang
Rong ruổi Nam Bắc muốn đi khắp trời
Vừa đến núi danh tiếng đã thấy mênh mang
Cây rừng nhƣ gƣơm giáo ngàn doanh trại
Khí bốc đầu non tựa hàng vạn bếp thổi.
Đá ngổn ngang san sát thành gò ở lũy cũ
Sóng xô đẩy cuồn cuộn ngăn dòng sông phía trƣớc
Trong lúc vội vã nghĩ muốn hỏi ông già bên núi
Đến nay đã phân ranh giới đƣợc mấy trăm năm rồi.
Dịch thơ:
Qua Đèo Ngang
Đi khắp muôn nơi ruỗi Bắc Nam
Danh sơn vừa đến thấy mênh mang
Bên đƣờng cây mọc ngàn gƣơm giáo
Đầu núi khí xông, vạn kiếp cơm.
Đá chất ngổn ngang thành lũy vững
Sóng xô cuồn cuộn chặn sông tràn
Đƣơng khi vội hỏi ông già núi
Ranh giới phân chia đã mấy năm.
(Lâm Giang dịch)
2. Túc Hoành Sơn
Hiểu phách hà Linh dịch
Mộ túc Hoành Sơn bàng
Thiều thiều lữ trình viễn
Tịch tịch thu dạ thƣờng.
Viên khấu âm vân thấp
Thƣớc đề minh nguyệt quang
Cổ chẩm bút thành mộng
Phi song nhất thừa lƣơng.
(Sách đã dẫn, trang 123)
Dịch nghĩa:
Nghỉ lại ở Hoành Sơn
Buổi sớm đi từ nhà trạm Sông Linh
Chiều nghỉ bên Đèo Ngang
Dằng dặc con đƣờng cách xa
Tịch mịch trong đêm thu dài.
Vƣợn kêu dƣới bóng cây ẩm
Thƣớc hót trong ánh trăng
Gối đơn không ngủ đƣợc
Mở cửa sổ hóng gió.
Dịch thơ:
Nghỉ lại ở Hoành Sơn
Sớm rời trạm sông Gianh
Chiều nghỉ bên núi Hoành
Dặm khách xa thăm thẳm
Đêm thu dài mông mênh.
Vƣợn gào sƣơng núi ẩm
Thƣớc hót ánh trăng thanh
Gối lẻ không thành giấc
Mở song đón gió lành.
(Ngô Linh Ngọc dịch)
3. Hoành Sơn
Nam Bắc phân ranh thử nhất quan
Kiền khôn di tích tại trung gian
Thập triều thành lũy nham đôi cổ
Vạn đội tinh kỳ, trúc thụ nhàn.
Chinh mãi hữu tâm, bi nhật nguyệt
Biến thiên vô diện đối giang san
Thu hoa bất giải nhân sầu tứ
Không hƣớng kim phong * đấu diễm nhan. (Sách đã dẫn, trang 175)
Dịch nghĩa:
Hoành Sơn
Núi Hoành Sơn, Nam Bắc chia bờ cõi ở một cửa quan này
Giữa trời đất vết cũ hãy còn đây
Thành đá qua mƣời triều đại vẫn xếp cao nhƣ lèn núi
Nhƣ thấy muôn đời cờ quạt giữa vùng cỏ cây tƣơi tốt.
Nghĩ về việc chinh chiến mà lòng đau thấu trăng sao
Đứng trước sông núi, mặt ủ mày chau sự đổi đời
Hoa mùa thu không làm khuây đƣợc nỗi buồn của ta
Chỉ việc đón ngọn gió Tây làm cho nét mặt rạng rỡ.
Dịch thơ:
Hoành Sơn
Cửa này phân giới Bắc - Nam
Non sông di chỉ trung gian một thời
Mƣời triều thành lũy chơi vơi
Muôn quân gƣơm giáo ẩn nơi đại ngàn.
Đau lòng kẻ hợp ngƣời tan
Biến thiên gƣơng mặt giang san bấy chầy
Hoa thu vui gọi chút này
Gió Tây qua, nở mặt mày dung nhan.
(Võ Minh Châu dịch)
* Kim phong: gió thu, nghĩa là gió tây, ý là Nguyễn Đề theo Tây Sơn.
Phạm Quý Thích
Phạm Quý Thích (1760 - 1825), tự là Dữ Đạo, hiệu Lập trai, biệt hiệu Thảo Đƣờng cƣ sỹ. Ngƣời xã Hoa Đƣờng, huyện Đƣờng An, tỉnh Hải Duong. Đậu tiến sỹ năm Cảnh Hƣng thứ 40 (1779), làm đến chức Thiêm sai tri công phiên. Năm Gia Long nguyên niên 1802, vua Nguyễn ra Bắc thành, ông bị triệu đến yến kiến, phong chức Thị trung học sỹ, ông từ chối không đƣợc, xin ở lại Bắc thành đƣợc bổ vào làm đốc học.
Tác phẩm: “Thảo đƣờng thi tập”, “Lập trai văn tập”, “Nam hành tập”.
Quá Hoành Sơn
Bạch sa mạc mạc bạch vân phù
Bích thụ trùng trùng bích hải lƣu
Bách chiến quan hà dƣ cổ lũy
Thập phần yên cảnh nhập tân thu.
Diễn, Hoan giới chỉ Thần Đầu dịch*
Trực Lệ doanh thôn Bố Chính châu*
Thùy liệu Bắc Nam phân hợp lý
Y y nhất bộ nhất hồi đầu.
(Tuyển tập thơ văn Việt Nam, tập 3, NXB Văn học 1976, trang 504)
Dịch nghĩa: Qua núi Hoành Sơn
Cát trắng man mác, mây trắng lững lờ
Cây xanh trùng điệp, biển xanh mênh mang
Nƣớc non trăm trận giao tranh, còn dƣ lại những đồn lũy xƣa
Cảnh vật mƣời phần tƣơi tốt, đã chuyển sang tiết mùa thu mới.
Địa giới Diễn, Hoan trỏ thẳng tới trạm Thần Đầu
Doanh Trực Lệ thu gọn cả châu Bố Chính vào trong
Ai suy lƣờng đƣợc cái ý nghĩa Bắc Nam phân hợp
Thấy cảnh núi lƣu luyến không muốn rời bỏ, mỗi bƣớc đi lại một lần quay đầu lại.
Dịch thơ: Qua núi Hoành Sơn
Cát trắng phau phau mây trắng bay
Cây xanh bát ngát biển xanh đầy
Lũy xƣa trăm trận bờ lƣu lại
Thu mới, mƣời phần cảnh đổi thay.
Đất trải Thần Đầu, Hoan, Diễn rộng
Doanh ôm Trực Lệ, Bố Châu dài
Bắc Nam ai hiểu điều phân hợp
Mỗi bƣớc xa rời mặt mỗi quay.
(Ngô Bách Bộ dịch)
* Hoan, Diễn, khu vực Nghệ An, Hà Tĩnh, Thần Đầu thuộc Kỳ Anh, dƣới chân đèo Ngang) Trực Lệ chỉ Quảng Bình, Bố Chính tứ Bố trạch,
Quảng Bình
Nguyễn Du
Nguyễn Du (1766 - 1820), tự Tố Nhƣ, hiệu Thanh Hiên, biệt hiệu Hồng Sơn liệp hộ, Nam Hải điếu đồ. Là con thứ 7 của Hoàng giáp Nguyễn Nghiễm và Trần Thị Tần. Quê Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh.
Thi hƣơng đỗ tam trƣờng năm Quý Mão (1783), tập ấm chức Hoằng tín đại phu, trung thành môn vệ úy tƣớc du nhạc bá. Năm 1789 nhà Lê mất về ở ẩn quê vợ họ Đoàn, Quỳnh Côi, Thái Bình. Đến 1796 mới trở về Tiên Điền. Dƣới triều Nguyễn, đời Gia Long bị triệu ra làm tri huyện Phù Dung, thăng Tri phủ Trƣờng Tín, xin về, lại bị triệu ra làm cai bạ Quảng Bình, thăng Đông các đại học sỹ, tƣớc Du đức hầu, rồi thăng Cần chánh điện Đại học sỹ, đƣợc chọn làm sứ qua nhà Thanh. Năm 1820 lại đƣợc cử đi sứ nhƣng chƣa lên đƣờng thì bị mất đột ngột vì bệnh dịch.
Tác phẩm: “Thanh Hiên tiền hậu tập”, “Bắc hành tạp lục”, “Nam trung tạp ngâm”, “Đoạn trƣờng tân thanh”...
1. Ninh công thành
Độc thƣợng cao sơn nhãn giới tân
Anh hùng vãng sự quải giang tân
Nhất thành thƣợng hạ tận kiều mộc
Thập lý uy phong kiến cổ nhân.
Thử địa Bắc Nam duy nhất trục
Đƣơng thì tỉnh táo trú tam quân
Thập niên vị tiết nam nhi hận
Đàn kiếm trƣờng ca đối bạch vân.
(249 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du, NXB Văn hóa dân gian 1999, Duy Phi biên dịch, trang 84).
Dịch nghĩa:
Thành ông Ninh
Một mình đứng trên đỉnh núi phóng tầm mắt nhìn
Ngƣời anh hùng còn nhiều nợ cũ với non sông đất nƣớc
Từ trên chí dƣới chỉ một thành xanh màu cây mới
Trong mƣời dặm vẫn thấy sự oai phong của ngƣời xƣa.
Nơi này là điểm quy tụ Nam Bắc về một mối
Thời ấy đem quân về đây đóng trại, đào giếng
Đã mƣời năm chí làm trai đang nuốt hận
Đành ôm đàn đeo kiếm ngữa mặt nhìn mây trắng mà hát.
Dịch thơ:
Thành ông Ninh
Một mình thƣợng đỉnh ngóng trông
Anh hùng luống nợ non sông mấy đời
Lũy thành xanh giữa ngàn cây
Oai phong mƣời dặm ngắm trời tổ tiên.
Bắc Nam một dải nối liền
Ba quân chung bếp, giếng miền núi non
Mƣời năm biết mấy tủi hờn
Ôm gƣơm đứng hát mây tuôn giữa trời.
(Võ Minh Châu dịch)
2. Đại tác cửu thú tƣ quy
Thiên nhận Hoành Sơn nhất đái hà
Bạch vân hồi thủ cách thiên nha (nhai)
Tân thu khí hậu thôi hàn chữ
Cố quốc quan sơn ký dạ già.
Thiên địa nhất thân trung dịch hiếu
Phong trần vạn lý quốc vong gia
Nguyệt trung hoành địch thái vô lại
Bán dạ giang thành xuy “lạc hoa”.
(Sách đã dẫn, trang 194)
Dịch thơ:
Làm thay ngƣời đi thú lâu năm mong về
Muôn trƣợng Hoành Sơn sông lƣợn xen
Ngoảnh nhìn mây trắng phía trời bên
Lạnh sƣơng thu tiết mau chày vải
Nhớ núi sông quê gửi tiếng kèn.
Trời đất thân trung đành hiếu khuyết
Phong trần dặm nƣớc chịu nhà quên
Buồn tênh dƣới nguyệt cầm ngang sáo
Nổi khúc lạc hoa lúc nửa đêm.
(Duy Phi dịch)
Hà Tôn Quyền
Hà Tôn Quyền (1798 - 1839), sau đổi là Hà Quyền, tự Tốn Phủ, hiệu Phƣơng Trạch, Hải Ông. Quê huyện Thiên Lộc, nay là huyện Can Lộc, Hà Tĩnh. Sau dời ra sống ở làng Cát Động, huyện Thanh Oai, Tỉnh Hà Đông (Hà Tây sau này).
Là dòng dõi Hà Tôn Huân, đậu tiến sỹ khoa Nhâm Ngọ (1822), bổ tri huyện rồi làm việc ở nội các, có lỗi phải đi hiệu lực ở Nam Dƣơng (Inđônêxia), sau đƣợc phục chức làm quan ở viện cơ mật, phụ trách làm sách, sau khi mất đƣợc thăng Thƣợng thƣ.
Qúa Ninh Công thành cổ lũy
Ninh Công cổ lũy ỷ toàn ngoan
Thụ thạch sâm si tích thúy gian
Kỷ kiến anh hùng tranh tạo hóa
Thặng thuyền kim cổ thử giang san.
Vi vi tịch chiếu hoàn minh diệt
Mạc mạc phù vân tự vãn hoàn
Đăng diếu nhãn cùng thƣơng hải ngoại
Du nhiên vong khƣớc lộ hành nan.
(Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập 3, NXB Hà Nội 1978, trang 611)
Dịch nghĩa:
Qua lũy cũ ông Ninh
Lũy cũ ông Ninh tựa đầu vào đá núi
Đứng giữa vùng đá lô nhô, cây xanh thăm thẳm
Hiếm thấy anh hùng giành quyền với tạo hóa
Giang sơn này dõi truyền xƣa nay.
Ánh nắng chiều nhè nhẹ, sáng rồi lại mờ
Mây bồng bềnh bay qua bay lại
Phóng tầm mắt nhìn ra ngoài biển xanh
Lòng phơi phới quên bƣớc đƣờng đi vất vả.
Dịch thơ:
Qua lũy cũ ông Ninh
Lƣng trời lũy cũ chon von
Rừng xanh hun hút đá vòm lô nhô
Anh hùng tạo dựng điểm tô
Truyền cho con cháu cơ đồ giang san.
Ráng chiều rực rỡ mơn man
Bồng bềnh mây trắng lang thang giữa trời
Phóng tầm mắt ngắm biển khơi
Đèo cao chẳng ngại, thảnh thơi cõi lòng.
(Võ Minh Châu
Vũ Tông Phan
Vũ Tông Phan (1804 - 1851) tự Hán Phủ, hiệu Đƣờng Xuyên và Lỗ Am, tục gọi là ông Nghè Tự Tháp.
Năm 1825 đậu cử nhân, 1826 đậu tiến sỹ. Trong vòng 3 năm 1826-1829, từ một tân tiến sỹ ở Viện hàn lâm, Vũ Tông Phan thăng đến tham hiệp (hàng quân đầu tỉnh, hàng tứ phẩm). Làm quan đƣợc 7 năm thì cáo bệnh xin về, chuyên sáng tác thơ văn.
Tác phẩm: “Tô Khê tùy bút tập”, “Lỗ Am di khảo thi tập”, “Kiếm hồ tập vịnh”, “Thăng Long hoài cổ thập tứ thủ”, “Tƣ Tháp Vũ tiên sinh tập”.
Qúa Ninh Công lũy hoài cổ
Nhƣợc tƣơng thử địa phân Nam, Bắc
Hà sự kinh niên động giáp bào
Thiên tạo Hoành Sơn do vị hiểm
Nhân vi cô lũy diệc đồ lao.
Doanh thân để sự không di chủng
Sát phạt dƣ thanh đới nộ đào
Vũ trụ nhƣ kim quy nhất thống
Mạc nhiên sơn thủy tự thanh cao.
(Vũ Tông Phan, cuộc đời và thơ văn, NXB Văn hóa Hà Nội 1995, Vũ thế Khôi biên khảo, tuyển chọn, dịch, trang 90)
Dịch nghĩa:
Qua lũy ông Ninh nhớ chuyện xƣa
Đất này nếu nhƣ có chia thành Nam với Bắc
Thì cớ gì mà đánh nhau liên miên năm này qua năm khác
Ông trời tạo ra dãy Hoành Sơn còn chƣa hiểm trở
Nên ngƣời dựng một lũy đất trơ trọi cũng phí công thôi.
Đƣợc thua đều để lại những nấm mồ hoang cả
Sóng giận giữ kia nhƣ còn mang dƣ âm chém giết năm nào
Đất nƣớc ngày nay đã quy về một mối thống nhất
Núi sông vẫn dửng dƣng trong vẻ thanh cao vốn có.
Dịch thơ:
Qua lũy ông Ninh nhớ chuyện xƣa
Đất này ví thử chia Nam - Bắc
Hà cớ năm dài động kiếm đao
Trời tạo Hoành Sơn còn chẳng hiểm
Ngƣời xây lũy đất uổng công lao.
Thắng thua rốt cuộc phơi hoang mộ
Sát phạt dƣ âm rợn sóng đào
Thiên hạ nay đà quy một mối
Non sông muôn thủa vẫn thanh cao.
(Vũ Thế Khôi dịch)
(Bài thơ sáng tác năm 1826, trên đƣờng từ Huế ra Bắc ngay sau khi đậu tiến sỹ)
Phạm Văn Nghị
Phạm Văn Nghị (1805 - 1881), hiệu Nghĩa Trai, nhân dân thƣờng gọi ông là ông Hoàng Tam Đăng, vì ông đỗ Hoàng giáp, quê ở Tam Đăng, tổng An Trung, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hƣng, tỉnh Nam Định. Cha là Phạm Văn Căn, mẹ là Bùi Thị Phiến.
Năm 1826 đỗ Tú tài, năm 1837 đỗ Cử nhân, năm 1838 trúng nhị giáp Tiến sỹ (Hoàng giáp) khoa Mậu Tuất, ngay năm đó đƣợc làm tu soạn Viện hàn lâm. Năm 1839 đƣợc bổ Tri huyện phủ Lý Nhân. Năm 1841 đƣợc vời kinh làm biên tu Quốc sử quán. Năm 1846 cáo quan về quê. Nhiều lần triều đình gọi ông đều từ chối. Mãi đến năm 1857 không thể từ chối ông ra làm Đốc học Nam Định. Pháp xâm lƣợc, ông hăng hái tham gia chống Pháp, triều đình đuổi ông về Hoa Lƣ
Tác phẩm: Ông để lại khá nhiều văn thơ (gần 600 tác phẩm) chữ Hán và chữ Nôm: “Tùng Viên văn tập”. “Liên Hoa động tập”, “Tự ký”.
1. Đăng Hoành Sơn
Phong khinh quy thác thƣớng tằng loan
Nhất đới hoàng già vạn nhân sơn
Thiên hạn tòng lai phân lƣỡng giới
Đế kinh kim nhật nhất trùng quan.
Hải trung thuyền hạm viễn nghi cận
Thụ miễu vân yên khứ phục hoàn
Vân điểu thanh thanh, xuân thảo lục
Vƣơng tôn đáo thử nhất bàn hoàn.
(Thơ văn Phạm Văn Nghị, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1979, Nguyễn Văn Huyền giới thiệu, trích dịch, trang 69)
Dịch nghĩa:
Lên Đèo Ngang
Gió nhẹ, trên đƣờng về xách túi trèo lên núi cao
Một dải núi non muốn chắn ngang đƣờng
Từ xƣa đây là giới hạn thiên nhiên chia hai miền
Ngày nay đó là một cửa ải quan trọng của kinh đô.
Ngoài biển, tàu thuyền xa mà nhƣ gần
Trên ngọn cây, mây khói bay đi bay lại
Tiếng chim xuân hót ran, cỏ xuân xanh ngắt
Các chàng vƣơng tôn qua đây ai cũng phải bâng khuâng.
Dịch thơ:
Lên Đèo Ngang
Xách túi lên đèo nhẹ gió bay
Non cao một dải chặn đƣờng mây
Xƣa nơi địa hạn ngăn ranh giới
Nay chốn trùng quang trấn cõi ngoài.
Ẩn hiện thuyền nâu tô điểm biển
Đi về mây trắng vấn vƣơng cây
Chim xuân ríu rít, chồi xuân biếc
Du khách ai mà chẳng ngất ngây.
(Nguyễn Văn Huyền dịch)
2. Thần Đầu song miếu
Nhất môn, huynh cập đệ
Thiên cổ miếu ƣ dân
Khoa giáp tuy chân quý
Thông minh thủy vị thần.
Tất năng sung chính khí
Khởi đãn tác văn nhân
Ngã học hạo nhiên dƣỡng
Linh đài ngộ vị chân.
(Sách đã dẫn, trang 70,71)
Dịch nghĩa:
Đề hai miếu ở cửa biển Thần Đầu
Một nhà cả anh lẫn em*
Đều đƣợc dân khói hƣơng thờ phụng mãi mãi
Tuy khoa bảng là điều đáng quý
Song có thông minh mới gọi là thần.
Tất nhiên phải đầy bầu chính khí
Có phải chỉ là văn nhân mới thôi đâu
Tôi đang nuôi dƣỡng cái khí hạo nhiên
Nhƣng lòng chƣa hiểu thấu đƣợc chân lý.
Dịch thơ:
Đề hai miếu ở cửa biển Thần Đầu
Anh em cùng một cửa
Hƣơng khói đậm tình dân
Khoa bảng ai không quý
Thông minh mới gọi thần.
Chắc hẳn đầy phí phách
Đâu phải chỉ thơ văn
Ta nuôi lòng cƣơng thực
Giác ngộ chƣa đủ phần.
(Đỗ Ngọc Toại dịch)
* Hai anh em Lê Quảng Chí và Lê Quảng Ý, ngƣời xã Thần Đầu.
Vũ Phạm Khải
Vũ Phạm Khải (1807 - 1872), quê làng Thiên Trì, huyện Yên Mỗ, tỉnh Ninh Bình. Tên chữ là Đông Dƣơng, Hựu Phủ, tên hiệu là Nam Minh, Ngu Sơn, Dƣỡng Trai.
Năm 22 tuổi đỗ Tú tài khoa thi hƣơng Mậu Tý (1828). Năm 25 tuổi đỗ Cử nhân khoa Tân Mão (1831), năm sau thi hội đỗ Phó bảng. Năm 1833 đƣợc phái vào hậu bổ ở Nghệ An, rồi Tri huyện Thanh Chƣơng. Gần 30 năm làm quan suốt ba triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức ông đã cống hiến hết mình cho đất nƣớc. Có niềm say mê đặc biệt với sử học. Ông là ngƣời biên soạn phần lớn bộ “Đại Nam thực lục”. Ông cũng sáng tác khá nhiều thơ văn.
Qúa Hoành Sơn
Kỷ bộ tang thƣơng nhất mộng tinh
Y y thạch cốt tẩu thƣơng minh
Địa khu sơn hải thông Nam Bắc
Thiên giới âm dƣơng bán vũ tình.
Chinh cổ thƣợng nghiêm kim thế tỏa
Phong sƣơng trƣờng điếu tích nhân thành
Hạnh phùng tứ hải vi gia hội
Nhất nhất đăng lâm vạn cổ tình.
(Vũ Phạm Khải, danh nhân văn hóa Văn thân yêu nƣớc chủ chiến thế kỷ XIX, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội 1998, trang 62)
Dịch nghĩa:
Qua Hoành Sơn
Mấy độ bể dâu biến đổi nhƣ qua một giấc mộng tỉnh ra
Cốt đá vẫn nhƣ xƣa, chạy ra tận biển biếc
Đây là vùng đất núi kề biển, đƣờng thông từ Nam ra Bắc
Là vùng trời âm dƣơng xen nhau nửa tạnh nửa mƣa.
Chiêng trống vẫn nghiêm cẩn, là cái khác của đất nƣớc thời nay
Gió sƣơng thăm viếng mãi bức thành của ngƣời xƣa
May gặp thời buổi bốn bể tụ hội một nhà
Một ngày lên đây man mác tình muôn thủa.
Dịch thơ:
Qua Hoành Sơn
Tang thƣơng mấy độ bỗng bừng giấc
Cốt đá nhô ra ngoài biển biếc
Trời bán âm dƣơng, nửa tạnh mƣa
Đƣờng kề non biển, thông Nam - Bắc.
Cõi nay chiêng trống gác then vàng
Lũy cũ, gió sƣơng phong vẽ bạc
Bốn bể nay vui hội một nhà
Lên đây, muôn thủa tình không khác.
(chƣa biết tên ngƣời dịch)
Cao Bá Quát
Cao Bá Quát (1808 - 1854), hiệu Chu Thần, ngƣời làng Phú Thị, Gia Lâm, Hà Nội. Thi hƣơng đỗ Cử nhân, bị đánh rớt xuống cuối bảng, thi hội không đỗ, sau làm hành tẩu đi chấm thi hƣơng, thấy bài học trò hay nhƣng có sơ suất, ông mến nên sửa cho, bị hạ ngục, đƣợc tha, bổ làm Giáo thụ phủ Quốc Oai. Ông tham gia cuộc khởi nghĩa Mỹ Lƣơng, bị giết.
Tác phẩm: “Hoành Sơn vọng hải ca”, “Đăng Hoành Sơn”, “Quá Mỵ Nƣơng miếu”, “Hý tặng Phan Sinh”...
1. Hoành Sơn vọng hải ca
Quân bất kiến:
Hải thƣợng bạch ba nhƣ bạch đầu
Nộ phong hám phá vạn hộc châu
Lôi khu điện bác hải nhân mục
Trung hữu điểm điểm phù khinh âu.
Hải khí quyển sơn, sơn nhƣ chỉ
Sơn Bắc, sơn Nam thiên vạn lý
Công danh nhất lộ kỷ nhân nhàn?
Quan cái phân phân ngã hành hỹ.
(Thơ Cao Bá Quát, NXB Văn học 1976, trang 59)
Dịch nghĩa:
Bài ca trên biển Hoành Sơn
Anh có thấy không:
Sóng trên biển trắng xóa nhƣ đầu bạc
Gió giận giữ xô vỡ chiếc thuyền vạn hộc
Sấm rền, chớp giật làm ngƣời ta xanh mắt
Vậy mà trong cảnh kinh hãi ấy vẫn nổi lên.
Những chớm trắng chim âu bay liệng
Hơi nƣớc biển quyện lên núi, núi nhìn vút nhọn những ngón tay
Núi phía Bắc, núi phía Nam dài suốt nghìn dặm
Trên con đƣờng đi tìm công danh mấy ai đƣợc nhàn
Mũ lọng tờ mờ ta cũng đi đây.
Dịch thơ:
Bài ca trên biển Hoành Sơn
Anh chẳng thấy:
Sóng biển trào lên nhƣ đầu bạc lô nhô
Gió giận dữ đánh chìm cả những chiếc thuyền to
Chớp giật, sấm ran ai cũng đều xanh mắt
Giữa cảnh con chim hải âu vẫn nhởn nhơ.
Biển nhƣ cuốn núi, núi vẫn sừng sững
Non Bắc, non Nam ngàn bạt ngàn
Mũ lọng mình đi bƣớc lếch thếch
Công danh đƣờng ấy mấy ai nhàn.
(Trần Huy Liệu dịch)
2. Đăng Hoành Sơn
Sơn ngoại thanh sơn vạn lý trình
Sơn biên giả thảo tống nhân hành
Anh hùng mạc vãn thiên niên quốc
Chinh chiến không tồn, nhất lũy danh.
Bắc lĩnh đoạn vân thu túc vũ
Nam trang sơ hiểu đái tân tình
Há sơn phản giác đăng sơn khổ
Tự thán du du ủy tục tình.
(Sách đã dẫn, trang 149)
Dịch nghĩa:
Lên Hoành Sơn
Ngoài non xanh lại non xanh, đƣờng dài vạn dặm
Cỏ hoang ven núi nhƣ đƣa chân ngƣời đi đƣờng
Anh hùng chẳng kéo lại đƣợc nƣớc ngàn năm
Bao lần chinh chiến qua, chỉ còn một tên lũy.
Ngọn núi phía Bắc, mây lác đác mƣa dần dần tạnh
Làng xóm phía Nam, buổi sớm lóa ánh nắng mới
Xuống hết đèo mới biết lên đèo là vất vả
Ngậm ngùi thân mình để cho thói đời cuốn đi mãi.
Dịch thơ:
1. Lên Hoành Sơn
Núi xanh tiếp núi đƣờng muôn dặm
Ven núi bờ lau tiễn khách đi
Nƣớc cũ anh hùng khôn cứu nổi
Lũy xƣa chinh chiến dễ còn ghi.
Mây treo đỉnh Bắc mƣa rào ngớt
Sáng hửng chòm Nam nắng mới về
Xuống núi phởn phơ, lên núi mệt
Thói tình an ủi nỗi chia ky.
(Thanh Minh dịch)
2. Lên Hoành Sơn
Đường xanh muôn dặm rừng xanh
Ngàn lau tiễn khách bộ hành ra đi
Anh hùng để nƣớc lâm nguy
Nợ xƣa, chuyện cũ còn ghi chốn này.
Mƣa rào đỉnh Bắc tan mây
Trời Nam nắng ấm hây hây gió về
Mấy lần vãn cảnh sơn khê
Lòng riêng an ủi chia ly nỗi niềm.
(Võ Minh Châu dịch)
3. Dục Bàn Thạch kính
Triêu đăng Hoành Sơn tập
Mộ há bàn kính dục
Huề thủ lƣỡng phiến thạch
Giang sơn bất dinh cúc.
(Sách đã dẫn, trang 150)
Dịch nghĩa:
Tắm ở khe Bàn Thạch
Sớm lên đứng đỉnh Đèo Ngang
Chiều xuống tắm dƣới khe Bàn Thạch
Nhặt lấy mỗi nơi một hòn đá
Thấy rằng non sông không đầy một vóc tay.
Dịch thơ:
Tắm ở khe Bàn Thạch
Đỉnh Hoành sáng sớm dạo chơi
Khe Bàn, chiều vẫy vùng bơi ngƣợc nguồn
Mỗi nơi sỏi nhât một hòn
Non sông ta nắm chƣa tròn vóc tay.
(Hải Nhƣ dịch)
4. Hoành Sơn quan
Địa biểu lập sàn nhan
Liên phong đáo hải gian
Bách niên khan cổ lũy
Thiên lý ngập trùng quan.
Túc điểu sơ đầu thụ
Quy vân bán ủng sơn
Trì trì Tô* quý tử
Cừu tệ vị tri hoàn.
(Sách đã dẫn, trang 189)
Dịch nghĩa:
Cửa ải Hoành Sơn
Dãy núi cao đứng đây nhƣ biểu tƣợng của vùng đất này
Ngọn nọ kề ngọn kia, kéo mãi ra tận biển
Tòa lũy cổ chứng kiến chuyện trăm năm qua
Con đƣờng nghìn dặm nhƣ bị hút vào mấy lần cửa ải
Lác đác chim chiều bay và những con tìm chổ đậu
Mây trôi về che kín nửa dãy núi
Chàng quý tử họ Tô cứ lần lữa mãi
Áo cừu rách rồi mà chƣa biết ngày nào trở về.
Dịch thơ:
Cửa ải Hoành Sơn
Non co nên đất nƣớc
Liền một dãy ra khơi
Thành cũ trăm năm vững
Ải xa nghìn dặm dài
Chim về rừng lác đác
Mây bám núi chơi vơi
Chàng Tô nấn ná mãi
Tấm áo rách tơi rồi.
(Hóa Dân dịch)
* Tác giả ví mình nhƣ Tô Tần, nhà du thuyết đời chiến quốc bên Trung Hoa. Mƣợn chữ trong bài thơ “Tô Tần đình” của Nguyễn Du.
Miên Thẩm
Miên Thẩm (1819 - 1870), tên chữ là Thận Minh, hiệu Thƣơng Sơn, biệt hiệu Bạch Hào Tử, con trai thứ 10 của vua Minh Mạng, thƣờng gọi là Tùng Thiện Vƣơng.
Ông là ngƣời có học vấn uyên thâm, thơ văn tao nhã, đƣợc văn sỹ đƣơng thời tôn phục. Miên Thẫm sáng tác khá nhiều thơ văn, quan trọng nhất là tập: “Thƣơng Sơn thi tập”.
Hoành Sơn
Hàn vu thiên chƣớng hợp
Cổ đạo nhất quan khai
Tiền đại hạn Nam Bắc
Kim nhân hoàn vãng lai.
Chiến dƣ tàn lũy tại
Xuân Tận đoạn già ai
Khô cốt mai thanh thảo
Trầm thƣơng tỏa lục đài.
Ngƣu sơn kiều mộc ám
Yến dữ nộ triều hồi
Nhật mộ thâm bằng diếu
Không tƣ tế thế tài.
(Tuyển tập thơ văn Việt Nam,NXB Văn học, trang 164)
Dịch nghĩa:
Đèo Ngang
Hoang vu nghìn núi nghẽn
Lối xƣa mở một đƣờng
Đời trƣớc ngăn Nam Bắc
Ngƣời nay qua lại thƣờng.
Lũy nát sau chinh chiến
Xuân tàn kèn thêm buồn
Xƣơng khô vùi cỏ biếc
Rêu xanh lấp giáo thƣơng.
Núi Ngƣu cây che lối
Đảo yến sóng dữ vờn
Chiều hôm nhìn xa thẳm
Mong suông bậc cứu đời.
(Trần Đình Sử dịch)
Dịch thơ:
Đèo Ngang
Điệp trùng núi vắng chen nhau
Lối mòn xƣa mở từ lâu đƣờng dài
Nam Bắc một thủa chia hai
Ngƣời nay qua lại mỗi ngày vu vi.
Chiến chinh qua, lũy nát ghi
Xuân tàn, kèn thổi làm gì sầu thêm
Xƣơng khô vùi lớp cỏ mềm
Giáo thƣơng rỉ sét dƣới nền rêu xanh
Ngƣu sơn cây cối che mành
Sóng vờn đảo Yến giữ lành biển khơi
Chiều hôm xa thẵm chân trời
Hận mình sức mọn cứu đời khó thay.
(Xuân Lộc phỏng dịch)
Nguyễn Trường Tộ
Nguyễn Trƣờng Tộ (1828 - 1871), ngƣời làng Bùi Chu, huyện Hƣng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Lúc trẻ học chữ Hán, theo đạo Thiên Chúa. Lên Tân Ấp dạy chữ Hán ở trƣờng dòng, học tiếng Pháp và Khoa học phổ thông với giám mục Ngô Gia Hậu. Sau theo giám mục sang Pháp, Ý học tiếp, qua Hồng Kông rồi về nƣớc. Từ năm 1863-1871 viết 14 bản điều trần cải cách cai trị gửi triều đình Huế nhƣng không đƣợc chấp nhận.
Tác phẩm: 14 bản điều trần và một số bài thơ chữ Hán...
Quá Hoành Sơn quan hữu cảm
Thử địa tích tầng Nam Bắc hạn
Hân kim nhất thống Nam Bắc bình
Nguy quan túc tráng sơn hà tắc
Tuyệt đỉnh trung nhân vũ trụ hình.
Chiến lũy dĩ tàn lƣu cổ tích
Ngự bi trƣờng tại tác sơn linh
Hoành nhân mạc thán đăng lâm khổ
Qúa thử ƣng tri cận đế thành.
(Trích Hợp tuyển thơ văn Việt Nam NXB Văn học, trang 240)
Dịch nghĩa:
Cảm tác khi qua cửa ải Hoành Sơn
Nơi này xƣa từng là nơi giới hạn Nam Bắc
Mừng nay một dải Nam Bắc yên ổn
Cửa quan cao vợi, sắc núi sông càng tráng lệ
Đỉnh núi nghi ngút chia hình vũ trụ.
Lũy chiến đã sụp đổ, lƣu lại dấu vết xƣa
Bia vua còn mãi đây làm hồn thiêng của núi
Khách đi đƣờng chớ than thở leo núi vất vả
Qua đây sẽ biết là đã gần đến kinh đô.
Dịch thơ:
Viết qua cửa Hoành Sơn
Nơi này ngày trƣớc chia Nam Bắc
Nhất thống mừng nay hội tụ bình
Rạng sắc núi sông tòa cổng lớn
Chia hình trời đất chóp non xanh.
Lũy Hời* một thủa cây lƣu dấu
Bia ngự nghìn đời đá hóa linh
Khách chớ phàn nàn leo núi mệt
Qua đèo biết đã tới gần kinh.
(Thái Kim Đỉnh dịch)
* Lũy ông Ninh, còn có tên gọi là Lũy Hời.
Dƣơng Thúc Hạp
Dƣơng Thúc Hạp (1835 - 1920), hiệu Ngọc Hiên, quê làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lƣu, Nghệ An. Dòng họ gốc Hà Tĩnh. Đỗ tiến sỹ khoa Giáp Thân 1884, đƣợc bổ làm thừa biện Quốc sử quán. Năm Ất Dậu 1885 kinh thành Huế thất thủ, vua Hàm Nghi lánh nạn ra Sơn Phòng - Quảng Trị rồi ra Hà Tĩnh, không theo kịp xa giá, ông bỏ về quê. Đồng Khánh lên ngôi ông có chỉ dụ ra làm Tri phủ Quỳ Châu. Thời gian này phong trào Cần vƣơng hoạt động mạnh, ông cũng tham gia. Khi phong trào bị đàn áp, ông về lánh tạm gần quê, sau có lệnh gọi ông nhận làm một chức quan thuộc ngạch học quan. Năm 1891 làm Đốc học Nghệ An, năm 1899 nghỉ hƣu về quê dạy học, viết sách.
Tác phẩm: “An Tĩnh sơn thủy vịnh”, “Nhàn trung vịnh cổ vịnh sử”, “Ngọc hiên thi tập”
“An Tĩnh sơn thủy vịnh” vừa là một tác phẩm văn học vừa là tác phẩm địa chí lịch sử, di sản văn hóa dân tộc quý báu, trong đó có nhiều bài viết về Kỳ Anh.
1. Kỳ La hải
Thiên Cầm song ngoại hoát song mâu
Thủy quốc yên ba nhất vọng thâu
Trẩn trạch thƣơng mang ba thƣớng há
Ngƣ thôn triêu mộ đỉnh trầm phù.
Tƣởng lai Trƣơng Phụ, đào duy nộ
Thuyết đáo Hồ Ly thủy vị trung ƣơng
Tường hải khởi giao kình lãng hống
Thị thùy kích tiếp thệ trung lƣu.
(An Tĩnh sơn thủy vịnh của Dƣơng Thúc Hạp, Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Tĩnh 2004, Võ Hồng Huy phiên dịch, chú thích, trang 277)
Dịch nghĩa:
Cửa biển Kỳ La
Từ núi Thiên Cầm mở rộng đôi mắt nhìn ra
Trời mây, khói sóng thu trong một tầm nhìn
Vƣờn thẩn mênh mang, sóng xô lớn nhỏ
Làng chài sớm tồi, thuyền lƣớt bồng bềnh.
Nhớ lại tên Trƣơng Phụ, sóng còn căm giận
Nói đến Hồ Quý Ly, nƣớc chƣa hết thẹn
Mặt biển há cứ để cho sóng kình gầm thét
Ai là ngƣời dám cầm chèo, cất cao lời thề giữa sông.
Dịch thơ:
Cửa biển Kỳ La
Từ núi Thiên Cầm nhìn biển cả
Trời mây, khói sóng ngắm trong tầm
Thấp cao sóng “Thẩn” triều lên xuống
Sớm tối thuyền câu, sóng dập dờn.
Nói đến Quý Ly sông lại thẹn
Nhắc tên Trƣơng Phụ sóng còn căm
Ai ngƣời cầm lái thề sông nƣớc
Giữ biển không cho bão sóng gầm.
2. Kỳ Đầu sơn
Dịch nhiên vọng
Nhƣ xí liệt, nhƣ kỳ nhai
Thanh thƣơng bích lập
Song uất thạch bài
Linh am, sơn chỉ túc
Thạch khứ, hải phi lai
Chung cổ cao kình thiên đại phái
Phiêu đan, vũ phấn, tảo phân ai.
Dịch nghĩa:
Núi Kỳ Đầu
Ngững cao trông
Nhƣ phƣớn múa, nhƣ cờ bay
Xanh tƣơi vách đứng
Rậm rạp đá bày.
Chim quen rừng về nghỉ
Đá rời biển bay lên
Lá cờ trời đất, cắm cao chót vót xƣa nay
Rải màu đỏ, tung phấn trắng để quét bụi bẩn.
Dịch thơ:
Núi Kỳ Đầu
Nhón cao trông này
Nhƣ phƣớn múa, nhƣ cờ bay
Núi xanh tƣơi, dốc đứng
Đá lố xố, chất bày
Chim quen rừng nghỉ lại
Đá rời biển lên đây
Trƣơng cờ muôn thủa trong trời đất
Rải phấn, tung son quét bụi đời.
3. Cao Vọng sơn
Hoành Sơn Nam hạ khởi cao cƣơng
Giang lại tây triền tiếp thủy quang
Địa diện hàng tiêu hà nhất lộ
Thiên biên hoành chƣớng hải trùng dƣơng.
Phong xao hoa thƣợng oán Trƣơng Phụ
Vũ đoạn viên do khấp Hán Thƣơng
Đồ ỷ thành đầu nhất diếu vọng
Phù không phiếu diếu lĩnh vân tƣờng.
(Sách đã dẫn, trang 281)
Dịch nghĩa:
Núi Cao Vọng
Đèo Ngang, hƣớng Nam đổ xuống nổi lên một ngọn cao
Phía tây có bến sông uốn quanh tiếp thêm ánh nƣớc
Mặt đất cắm tiêu, sông đã thành đƣờng
Chân trời chặn ngang, biển khơi trùng dƣơng.
Gió chao cành hoa, căm giận Trƣơng Phụ
Mƣa dứt tiếng vƣợn, buồn khóc Hán Thương
Luống đứng dựa đầu thành, nhìn khắp một lƣợt
Mây núi bay đi, bồng bềnh mờ xa.
Dịch thơ:
Núi Cao Vọng
Đèo Ngang đổ xuống một khu rừng
Sông lƣợn bờ tây nƣớc lóa gƣơng
Mặt đất cắm tiêu, sông một lộ
Chân trời chặn vách, biển trùng dƣơng.
Hoa chao gió lốc, căm Trƣơng Phụ
Vƣợn hú mƣa chiều, khóc Hán Thƣơng
Đứng tựa bên thành, nhìn một lƣợt
Bồng bềnh mây bạc, núi mờ sƣơng.
(Chƣa rõ ngƣời dịch)
4. Bàn Độ sơn
Sơn tông Vọng Liệu tằng loan hạ
Địa thị Kỳ Anh duyên thụ đa
Phiếu diêu cao phong lâm cự hải
Sà nga liệt bích chƣớng trƣờng sa.
Tiên nga bộ nguyệt không đàm thủy
Trần đế hành tinh phất lĩnh hà
Cung nữ kim bàn hà xứ khử
Sơn biên di miếu tịch dƣơng tà.
(Sách đã dẫn, trang 283)
Dịch nghĩa:
Núi Bàn Độ
Mạch từ Vọng Liệu nổi chìm đổ xuống
Vùng đất Kỳ Anh này cây cối um tùm
Tỏ mờ ngọn núi cao chạy ra tận cửa biển lớn
Chót vót dãy thành dựng lên giữa bãi cát dài.
Nàng tiên dạo chơi, nƣớc đầm lồng ánh trăng lấp lánh
Vua Trần nghỉ lại, cờ lệnh lẫn trong ráng núi phất phơ
Mâm vàng dâng cô cung nữ để đâu rồi
Bên núi ngôi miếu các bóng chiều xuyên ngang.
Dịch thơ:
Núi Bàn Độ
Đến đất Kỳ Anh cây xanh rợp bóng
Núi từ Vọng Liệu đá chen đƣờng
Núi xây chất ngất trên bờ biển
Thành dựng nguy nga giữa bãi bằng.
Tiên đến, nƣớc đầm chao bóng nguyệt
Vua đi, ráng núi lóa cờ sƣơng
Mâm vàng cung nữ giờ đâu tá
Miếu cũ bên đồi bóng tịch dƣơng. (Chƣa rõ ngƣời dịch)
Nguyễn Khuyến
Nguyễn Khuyến (1835 - 1909), lúc nhỏ tên là Thắng, sinh năm Ất Mùi ở quê mẹ làng Hoàng Xá, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, lớn lên và sống chủ yếu ở quê cha, làng Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.
Năm 17 tuổi đi thi cùng một khóa với cha nhƣng không đỗ, sau đó cha mất, nhà nghèo ông đi dạy học để kiếm sống và nuôi mẹ. Năm 1864 Nguyễn Khuyến thi hƣơng đậu giải Nguyên. Năm sau thi hội bị hỏng, ông vào Kinh theo học trƣờng Quốc Tử Giám. Năm 1871 thi lại lần nữa và đỗ cả hội nguyên và đình nguyên. Nguyễn Khuyến đỗ đầu cả ba kỳ nên ngƣời ta gọi ông là Tam nguyên Yên Đổ. Làm quan 10 năm rồi chán nản từ quan về nhà, sáng tác văn thơ chủ yếu sau thời kỳ này.
Tác phẩm: “Quế Sơn thi tập”, “Quế Sơn tam nguyên thi tập”, “Yên Đổ thi tập”, Cẩm ngự”, “Hải Vân am thi tập”, “Long tuyển thi sách”, “Việt túy tham khảo”.
1. Quá lƣỡng Trạng nguyên từ
Bách lƣu đông há chúng phong hoành
Hƣơng hỏa song từ, ỷ lộc quynh
Khoa hoạn nhất gia phi ngẫn đắc
Văn chƣơng kỳ khí, tự nhiên linh.
Hoàng trần vũ đoạn sơn khê tĩnh
Bách thụ nhân hy quán hạc minh
Hoài tích cánh đa kim nhật cảm
Bán sinh bạo lục vị thành danh.
(Nguyễn Khuyến tác phẩm, NXB TP.HCM 2002, trang 240)
Dịch nghĩa:
Qua đền hai ông trạng
Trăm dòng suối đổ xuống chảy về đông, núi chặn ngang
Hai ngôi đền thờ đứng tựa chân núi
Một nhà đỗ đạt không phải ngẫu nhiên mà đƣợc
Văn chƣơng có khí lạ tự nhiên thành thiêng liêng.
Bụi vàng mƣa đã xối sạch núi khe êm ả
Ngàn xanh vắng bóng ngƣời, sếu cò kêu vang
Hôm nay cảnh thấy tiếc cho mình
Nửa đời khó nhọc mà chƣa thành nên trò gì.
Dịch thơ:
1. Qua đền hai ông trạng
Trăm sông xẻ núi biển đông
Hai đền đứng tựa cửa rừng ngát hƣơng
Anh em cùng chiếm bảng vàng
Văn hùng khí lạ, lẽ thƣờng hiển linh.
Mƣa về lắng bụi non xanh
Vắng ngƣời chim choắt chuyển cành ríu ran
Ngẫm ngƣời mà trách đến thân
Nửa đời lận đận chƣa nên phận gì.
(Nguyễn Văn Huyên dịch)
2. Qua đền hai ông trạng*
Trăm dòng khe suối xuôi về biển
Tựa vào chân núi một đôi đền
Đâu phải ngẫu nhiên nhà hai Trạng
Văn chƣơng hùng khí mới nên thiêng.
Mƣa xối bụi vàng, khe yên ả
Thƣa ngƣời, chim ríu rít cành xanh
Thấy cảnh, ngẫm thƣơng cho mình quá
Nửa đời lận đận chửa thành danh.
(Xuân Lộc phỏng dịch)
* Hai đền Thần Đầu ở thôn Thần Đầu, Kỳ Anh - Hà Tĩnh, thờ hai anh em Lê Quảng Chí và Lê Quảng Ý
2. Qúa Hoành Sơn
Nhất đới Hoành Sơn, thiên địa gian
Khách trình thu tứ, tại cầm tôn
Huyền nhai khê thị, bán không thủy
Phù hải sơn nhƣ nhất điểm ngân.
Đao chủy hữu đào kinh khách đỉnh
Ngƣu sơn vô thụ, ẩn hàn thôn
Ninh Công cổ lũy lƣ hà ngoại
Đối thủ kim nhân, dục đoạn hồn.
(sách đã dẫn, trang 243)
Dịch nghĩa:
Qua Đèo ngang
Một dải Hoành Sơn đứng giữa vùng trời đất
Lòng khách cảm ở chén rƣợu, ngọn đèn
Dòng khe trên núi nhƣ dòng nƣớc treo lơ lửng giữa không trung
Hòn đảo nổi lên giữa biển nhƣ một khối bạc trắng.
Mũi Đao nổi sóng làm cho thuyền khách kinh sợ
Ngƣu sơn không còn cây cổ thụ để xóm nghèo ẩn náu
Ngoài vùng lau lách là lũy cũ ông Ninh
Nhìn thấy cảnh này, lòng ngƣời những buồn tênh.
Dịch thơ:
Qua Đèo ngang
Đất trời một dải chắn ngang
Đƣờng xa thi phú, rƣợu đàn giải khuây
Suối treo lơ lửng chừng mây
Trùng khơi đảo nổi, chim bay trắng trời.
Mũi Đao biển dập, sóng dồi
Ngƣu Sơn cây vắng, đâu rồi bóng ai
Hoành Sơn lau lách ken dày
Trông lên cảnh đấy, ngƣời đây đoạn trƣờng.
(Võ Minh Châu dịch)
Thiệu Trị
Thiệu Trị, tên thật là Nguyễn Phúc Miên Tông, là con trƣởng của vua Minh Mạng. Thân mẫu là bà Hồ Thị Hoa, ngƣời Bình An, Biên Hòa. (Nay thuộc Thuận An - Bình Dƣơng). Sinh năm Đinh Mão (1807), lên nối ngôi vua năm Tân Sửu (1841), lấy hiệu Thiệu Trị. Mất tháng 9 năm Đinh Mùi (1847) hƣởng dƣơng 40 tuổi. Vua Thiệu Trị là ngƣời yêu văn chƣơng và sáng tác khá nhiều. Ông cũng là ngƣời khai sinh ra tên gọi huyện Kỳ Anh (1841)
Quá Hoành Sơn quan
Nhất đái miên Hoành hạn tiệt san
Uyển diên khởi phục, hải tần gian
Vệ Nam củng Bắc, phân nghiêm trấn
Lịch cổ lai kim, tác hiểm quan.
Tồi lũy bất trung bình vãng sự
Trùng loan vi tín, khả cao phan
Tiếp thiên nham thụ thanh nhi thúy
Bán lĩnh phi vân khứ phục hoàn.
Dịch nghĩa:
Cửa Hoành Sơn
Một dải núi giăng ngang chia giới hạn ở đây
Nhƣ hình rồng rắn uốn lƣợn chỗ cao, chỗ thấp bên bờ biển
Gìn Nam giữ Bắc đây là nơi đồn binh nghiêm ngặt
Trải từ xƣa đến nay đây là cửa ải hiểm yếu.
Men theo bức lũy chẳng nên bàn chuyện đã qua
Núi lƣơn trùng điệp có thể vin mà lên cao mãi
Nhìn lên đá và cây xanh biếc nhƣ liền với trời xanh
Ở lƣng chừng núi những đám mây trôi qua lại.
Dịch thơ:
Cửa Hoành Sơn
Khe vòng núi cũng lƣợn theo
Quanh quanh thành lũy, lƣng đèo, biển khơi
Giữ gìn Nam - Bắc đôi nơi
Cổ kim chốt lại đỉnh trời sơn quan.
Bàn chi chuyện cũ tang thƣơng
Trông cao hồ dễ, đoạn trƣờng lâm ly
Nƣớc non cây cỏ xanh rì
Hoành Sơn mây trắng đi về sớm hôm. (Võ Minh Châu dịch)
Nguyễn Thượng Hiền
Nguyễn Thƣợng Hiền (1868 - 1925), ngƣời làng Liên Bạt, huyện Sơn Láng - tỉnh Hà Đông. Là con thứ Nguyễn Thƣợng Phiên, đậu Hoàng giáp khoa Nhã sĩ (1865). Mẹ là ngƣời họ Phan, làng Sài Sơn, Quốc Oai - Sơn Tây. Nguyễn Thƣợng Hiền xuất thân trong gia đình khoa bảng, đƣợc giáo dục tốt, tƣ chất thông minh.
Năm 1884 (17 tuổi) thi đậu cử nhân. Năm 1885 thi hội, lẽ ra ông đổ đầu bảng nhƣng chƣa kịp truyền lô thì kinh thành thất thủ. Năm 25 tuổi thi đâu Hoàng giáp. Tham gia hoạt động cách mạng trong nƣớc, giúp đỡ phong trào Đông Du, đẩy mạnh phong trào Duy Tân, ông cũng từng ra nƣớc ngoài hoạt động (Trung Quốc, Thái Lan). Nhƣng rồi ông thất chí, vào chùa đi tu và mất tại chùa Thƣờng tịch Quan Lan trên núi Vân Sơn ở Hàng Châu - Trung Quốc.
Tác phẩm: “Nam thi tập” và nhiều văn thơ chữ Hán, chữ Nôm
Hoành Sơn xuân vọng
Lập mã tình vân ngoại
Thiên sơn hiểu sác thu
Sa bình văn nhạn xứ
Lâm noãn kiến ho sơ.
Hải khí thông nam cực
Nhân thanh lạc thái hƣ
Giao liên ngũ hành vọng
Long hổ vệ hoàng cư.
(Thơ văn Nguyễn thƣợng Hiền,NXB Văn hóa 1959, Lê Thƣớc, Vũ Đình Liên dịch, chú thích, trang 70)
Dịch nghĩa:
Mùa xuân trông núi Hoàng Sơn
Dừng ngựa ngoài những lớp mây tạnh
Ngàn non buổi sáng có vẻ vui tƣơi
Trên bãi cát phẳng lặng nghe tiếng nhạn kêu
Trong rừng cây ấm áp thấy cành hoa nở.
Khí bể thông suốt đến miền Nam
Tiếng ngƣời dội vang giữa không trung
Xa trong thấy núi Ngũ hành*
Long hổ hộ vệ nơi vua ở
Dịch thơ:
Mùa xuân trông núi Hoàng Sơn
Dừng ngựa ngoài mây tạnh
Màu tƣơi núi buổi mai
Cát bằng nghe nhạn hót
Rừng ấm thấy hoa cƣời.
Nam cực thông hơi bể
Không trung dội tiếng ngƣời
Ngũ hành xa trông thấy
Long hổ hộ nhà trời.
* Ngũ hành: Tên gọi chung 5 ngọn núi ở Quảng Nam. Ý tác giả muốn nói Hoành Sơn và ngũ hảnh là:Tả long, hữu hổ bảo vệ cho kinh đô huế.
Bà Huyện Thanh Quan
Tên thật Nguyễn Thị Hinh (1805 - 1848), là một nữ sĩ trong thời cận đại của lịch sử văn học Việt Nam
Nguyễn Thị Hinh là ngƣời phƣờng Nghi Tàm, huyện Vĩnh Thuận, gần Hồ Tây (nay là phƣờng Quảng An, quận Tây Hồ), Hà Nội[2]. Cha bà là Nguyễn Lý (1755 - 1837), đỗ thủ khoa năm 1783, đời vua Lê Hiển Tông.
Bà là học trò của danh sĩ Phạm Quý Thích (1760 - 1825), và là vợ của Lƣu Nghị[3] (1804 - 1847), hiệu là Ái Lan, ngƣời làng Nguyệt Áng, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội).
Ông đỗ cử nhân năm 1821 (Minh Mạng thứ 2), từng làm tri huyện Thanh Quan (nay là một phần huyện Đông Hƣng và huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình), nên ngƣời ta thƣờng gọi bà là Bà Huyện Thanh Quan. Sau đó, ông bị giáng chức rồi lại đƣợc bổ chức Bát phẩm Thƣ lại bộ Hình. Chồng bà làm quan trải đến chức Viên ngoại lang bộ Hình, nhƣng mất sớm (43 tuổi).
Dƣới thời vua Minh Mạng bà đƣợc mời vào kinh giữ chức Cung Trung Giáo Tập để dạy học cho các công chúa và cung phi.
Khoảng một tháng sau khi chồng mất, bà lấy cớ sức yếu xin thôi việc, rồi dẫn 4 con về lại Nghi Tàm và ở vậy cho đến hết đời.
Không biết rõ chính xác về thời gian sống của bà nhƣng theo nhiều tƣ liệu ghi chú là bà sinh năm 1805 và mất năm 1848 ở tuổi 43. Mộ bà đƣợc đặt bên bờ Hồ Tây (Hà Nội), nhƣng sau này sóng gió đã làm sạt lở không còn tăm tích.
Qua Đèo Ngang
Bƣớc tới Đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen đá lá chen hoa
Lom khom dƣới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ* mấy nhà.
Nhớ nƣớc đau lòng con quốc quốc
Thƣơng nhà mỏi miệng cái gia gia
Dừng chân ngắm lại trời non nƣớc
Một mảnh tình riêng ta với ta.
* Câu thơ này: Chợ hay rợ đang có nhiều tranh cãi, chƣa có sự thống nhất trong giới nghiên cứu.
3. Văn thơ viết bằng chữ quốc ngữ.
Lê Văn Huân
Lê Văn Huân (1876 - 1929) hiệu là Lâm Ngu, quê làng Trung Lễ, huyện Đức Thọ - Hà Tĩnh, đậu giải nguyên năm 1906, nên gọi là giải Huân. Lê Văn Huân tham gia phong trào Duy Tân, năm 1908 bị bắt và đày Côn Đảo, năm 1917 đƣợc tha về, tiếp tục hoạt động và thành lập Hội Phục Việt ở Nghệ Tĩnh. Năm 1927 gia nhập đảng Tân Việt. Năm 1929 bị bắt giam và mất tại nhà lao Hà Tĩnh.
Lại qua Đèo Ngang
Lại lần này nữa tới Đèo Ngang
Mặt nƣớc xanh xanh đá mọc hàng
Mắt mỏi gió mây càng quạnh quẽ
Thân cùng non nƣớc hóa đa mang.
Lên cao thế phải ngồi trên đỉnh
Gánh nặng lòng đâu bỏ giữa đàng
Máy vẫn âm âm còi vẫn rúc
Bên đèo bổng chốc chuyến xe sang.
(Thơ văn nhà nho xứ Nghệ, Ninh Viết giao sƣu tầm, biên soạn, NXB Văn hóa thông tin 1995, trang 403)
Huỳnh Thúc Kháng
Huỳnh Thúc Kháng (1867 - 1947), quê làng Thạch Bình, tổng Tiên Giang Thƣợng, huyện Tiên Phƣớc, phủ Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Sinh ra trong một gia đình nông dân, nổi tiếng thông minh nhƣng thi cử nhiều phen lận đận. Năm 29 tuổi mới đậu tiến sỹ, từ đó bắt đầu học chữ Quốc ngữ và phát động phong trào Duy Tân. Bị thực dân Pháp đày ra Côn Lôn đến năm 46 tuổi mới đƣợc tự do. Năm 1945-1946 tham gia chính phủ cách mạng lâm thời, giữ chức Bộ trƣởng bộ Nội Vụ, làm quyền chủ tịch nƣớc trong thời gian Hồ Chí Minh sang Pháp đàm phán.
Mất ngày 21 tháng 4 năm 1947,
Tác phẩm: Có nhiều thơ văn chữ Hán và Quốc ngữ: “Thi tù tùng thoại”, “Khả tác lục”, “Đê hải thi tập”.
Qua núi Hoành Sơn
Bắc Nam phân giới trƣớc là đây
Tục gọi Đèo Ngang ấy chổ này
Ải cổ rã rời ba đống gạch
Non xanh mù mịt mấy tầng mây.
Một đƣờng xe điện dừng không đứng
Hai cánh rừng cây dựng muốn bay
Thử hỏi nghìn năm hồn nƣớc cũ
Hồng Lam danh tiếng vẫn xƣa nay.
Khương Hữu Dụng
Sinh ngày 01/01/1907 tại phố cổ Hội An, trong một gia đình Nho học nghèo, có truyền thống nhân nghĩa, yêu thơ và giỏi chữ Hán. Khƣơng Hữu Dụng học giỏi mà bị đánh hỏng tốt nghiệp vì hoạt động phong trào yêu nƣớc năm 1925 - 1926 nên đi dạy chỉ đƣợc bổ nhiệm “trợ giáo”, năm 1939 bị cách chức, ông chuyên tâm vào thơ phú. Trƣớc 1945 phần lớn sáng tác của ông là thơ đấu tranh, yêu nƣớc. Ông cũng dịch rất nhiều từ thơ Đƣờng, Tống, thơ Đỗ Phủ, Lý Bạch... đến Nguyễn Trãi, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Du..., ông mất tại Hà Nội.
Tác phẩm xuất bản:“Kinh nhật tụng của nguời chiến sỹ”, “Từ đêm mƣời chín”, “Những tiếng thân yêu”,“Qủa nhỏ”...
Hoành Sơn hoài cổ
1.
Đất dựng trời xây một dãy ngang
Thủa nay bao trải cuộc tang thƣơng
Bia xƣa còn đó rêu in chữ
Lũy cũ mòn đâu đá dựng hàng.
Mù mịt nƣớc non mây khói phủ
Vào ra Nam Bắc ngựa xe tràn
Đoái nhìn cảnh cũ ngày xƣa đó
Luống giận cho ai khéo mở đƣờng.
2.
Cùng nhau đến viếng cảnh Đèo Ngang
Thấy cảnh tiêu sơ luống đoạn tràng
Tuyết nhuộm sƣơng pha bia lợt chữ
Mƣa dầm nắng dãi đá trơ gan.
Mây bay đầu ải: Cờ in bóng
Cây đứng sƣờn non: Lính sắp hàng
Thành quách phân đàn nay khác trƣớc
Buồn trông phong cảnh chốn Hoành San.
3.
Dâu bể bao lần núi vẫn ngang
Trơ trơ đá nọ đứng giăng hàng
Bia xƣa còn tỏ gƣơng minh nguyệt
Ải cũ đà nghiêng bóng tịch dƣơng.
Mỏ điểm: Sóng dồn khi biển động
Đèn canh: Soi rọi lúc đêm trƣờng
Nhìn trông phong cảnh tiêu điều đó
Ai khách ƣu thời khỏi cảm thƣơng.
4.
Bắc Nam phân giới, giới lâu rồi
Kẻ lại ngƣời qua chẳng thấy thôi
Xe chạy quanh co đƣờng dọc đất
Mây giăng chồng chập núi ngang trời.
Non sông nhƣ có nhiều đau đớn
Hoa cỏ chừng ra dáng hổ ngươi
Thôi nỏ buồn chi dâu bể ấy
Đã hay rày lở, hẳn mai bồi...
5.
Vừa đến Hoành Sơn bóng xế đèo
Tƣ bề nhìn lại vắng teo teo
Cổn vôi rời rã, tƣờng nghiêng ngửa
Bia đá lờ mờ chữ mốc meo.
Núi chất thành sầu, đông dễ khóc
Sóng dồn bể khổ, hạ quên kêu
Đoái nhìn non nƣớc, lòng riêng hỏi:
Hỏi gấm chờ ai để dệt thiêu?
6.
Tới đây nào biết hỏi ai đây
Nam Bắc phân chia phải chốn này?
Lấp bể không chìm bờ sẵn cát
Vá trời thiếu đá, núi phun mây.
Một đƣờng xe chạy rồng nhƣ lƣợn
Mấy cánh buồm giƣơng bƣớm tƣởng bay
Thấy cảnh nhậm ngùi riêng với cảnh
Riêng mình, mình biết với mình hay.
(Khƣơng Hữu Dụng, NXB Văn học Hà Nội 2004, trang 104 - 106)
Phan Công Bích
Phan Công Bích (1899 - 1973), quê làng Hiệu Thuận, nay là xã Kỳ Châu. Tham gia đảng Tân Việt (1927), vào đảng cộng sản 1930, làm khá nhiều thơ, nhiều bài đƣợc làm trong nhà lao Hà Tĩnh.
Bị bắt
Trời bể ngang tàng trải mấy thâu
Gian nguy vì chút nợ mày râu
Nổi chìm đâu quản chi làn sóng
Qua lại ai hay mấy nhịp cầu.
Dâu bể trải qua tuôn giọt lệ
Tang bồng gẫm lại rỉ hàng châu
Cậy ai nhắn nhủ ông Bành Tổ
Thu xếp càn khôn lại một bầu.
Lê Bá Cảnh
Lê Bá Cảnh (1911 - 1941), quê xã Kỳ Văn, là con cháu dòng dõi Hoàng giáp Lê Tuấn. Thông minh chính trực, tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1930, có uy tín lớn ở địa phƣơng. Năm 1941 ông bị giết hại cùng các chiến sỹ Nam Kỳ khởi nghĩa.
Khai bút
Một năm một tuồi một thêm trông
Trông hết gian truân kiếp chậu lồng
Trông dứt cạnh tranh trên thế giới
Trông tan áp bức giữa trần trung.
Trông cho thế giới đừng hai dạ
Trông khắp năm châu phải một lòng
Nghĩ lại ngồi trông chừng chẳng đƣợc
Thôi thì làm lấy chắc hơn trông.
Nguyễn Tiến Huệ
Nguyễn Tiến Huệ (1903 - 1958), quê xã Kỳ Bắc, đảng viên thời kỳ (1930 - 1931). Khi đang bị giam ở nhà lao Hà Tĩnh, nghe tin Nguyễn Trọng Bình bị giết, ông đã làm bài thơ này:
Sống chết nhƣ anh
Sống thác nhƣ anh trọn vẹn rồi
Sống cao thanh khí một con ngƣời
Sống ham tranh đấu rung trời đất
Thác để nêu gƣơng sáng giống nòi.
Vững bƣớc phất cao cờ xã hội
Phanh gan chửi đổng bọn nhơ đời
Tinh thần khí phách anh lƣu mãi
Rực rỡ hình anh trong trí tôi.
Tính sao đây
Anh em ta phải tính sao đây
Cực khổ có đâu mãi thế này
Sƣu thuế bần cùng đời kẻ khó
Cùm gông kìm hãm kiếp ngƣời cày.
Tham lam chúng nó già tay cƣớp
Cay đắng dân tình lắm nỗi gay
Chẳng lẽ ngồi nhìn đời thế mãi
Anh em ta phải tính sao đây?
Võ Phát
Quê làng Đan Du, nay là Kỳ Thƣ - Kỳ Anh - Hà Tĩnh. Đỗ cử nhân võ đời Tự Đức, tham gia phong trào Cần Vƣơng 1885, giữ chức Bang biện quân vụ, thƣờng gọi là Bang nhu. Ông từng phụ trách quân thứ Kỳ Anh, sau làm việc văn thƣ ở đồn Vũ Quang. Khi Tể chƣởng vệ quân Cao Thắng hy sinh, ông đƣợc Phan Đình Phùng sai làm văn tế.
Tế Chưởng vệ quan văn
Than rằng:
Thanh bảo kiếm mƣời năm sẵn có, đấng anh hùng mài dũa mãi không thôi,
Áng nhung trƣờng một phút nhƣ không, con tạo hóa ghét ghen chi lắm thế.
Chữ đồng ƣu tƣởng đến luống đau lòng
Tình văn điếu ngẫm càng thêm giọt lệ.
Tôn linh xƣa:
Trung chính ấy lòng;
Kinh luân là chí1
Vén mây nửa gánh giang sơn
Vổ cánh bốn phƣơng hồ thỉ.
Gặp quốc bộ đang cơn binh bách, nghĩa Cần vƣơng chung nỗi ân ƣu;
Đem gia tình theo việc nhung đao, công thảo tặc riêng phần lao tụy.
Địa bộ muốn theo dòng Nhạc mục2, thét nhung bào từng nhiều trận oai linh;
Thiên tài toan học chƣớc Võ hầu3, chế pháo đạn biết bao chừng cơ trí.
Ơn quân tƣớng, Đổng nhung vâng lệnh, cầm án quan phòng;
Tƣớc triều đình, Chƣởng vệ gia phong, mở cờ tân chế.
Chắc rằng những tam sinh hữu hạnh, hăm hở mài gƣơm chống đá, chí khuông phù không phụ với quân vƣơng4,
Nào ngờ hay nhất đán vô thƣờng5, mơ màng đạn lạc tên bay, trƣờng chiến đấu biết đâu là số hệ.
Ôi thƣơng ôi!
Trời chăng vay hay là mệnh chăng vay;
Ngƣời ra thế mà sao phần ra thế.
Trong ba kỷ xuân thu6, tuy chửa mấy, yên ngựa đòi phen sấm sét, gánh cƣơng thƣờng cho tỏ mặt nam nhi;
Ngoài mƣời năm sự nghiệp biết chừng nào, dinh rồng bỗng chốc sao sa, thu linh phách vội cƣớp công tráng sĩ.
Thà thác nữa luận tay địch khái7, về theo tổ phụ cũng vinh;
Kìa sống nhƣ mấy mặt hàng di, ở với tinh chiên thêm bậy.
Núi Thiên Nhẫn phất phơ hơi gió thổi, nhớ ngƣời tiết nghĩa ngậm ngùi thay;
Nƣớc Tam Soa thấp thoáng bóng trăng soi, tƣởng kẻ trung trinh ngao ngán nhẽ.
Rày nhân:
Chung thất tới tuần,
Thúc sô dâng lễ8
Chén rƣợu thoảng bổng bay mùi chính khí, trƣớc dinh đều đủ mặt quan liêu;
Triện hương thơm, nghi ngút khói bạch vân, dƣới án khắp dàn hàng cơ vệ.
Đau đớn nhẽ huyên già tuổi tác, ấm lạnh cậy tay em nƣơng tựa, nỗi tình thâm thấu xuống hoàng tuyền;
Xót xa thay chồi liễu thơ ngây, ân cần nhờ công vợ dạy nuôi, may di phúc sản nhành đan quế 9,
Linh phách dẫu mà tinh sảng, hộ phen này tƣớng mạnh quân bền;
U hồn mà có oan khiên, rồi ngày khác sắc phong điện tế.
Thôi, cửa tía suối vàng đành kẻ khuất, đem thân bách chiến, nổi tiếng thơm cho vẹn cuộc trần ai;
Nào súng đồng gƣơm bạc mặc ngƣời còn, truyền lệnh tam quân, thét hơi mạnh quyết xây nền bình trị.
...............................................................................................
1. Kinh luân: do chữ trong Kinh dịch “Quân tử di kinh luân”, ngƣời quân tử sắp đặt mọi việc. Nghĩa đen là việc kéo tơ, lấy từng mối tơ mà chia ra gọi là kinh, so những sợi tơ cùng một thứ mà hợp lại gọi là kinh. Nghĩa bóng là tài sắp xếp mọi việc.
2. Nhạc Mục: Tức là nhạc Vũ Mục, tên là Nhạc Phi, tƣớng nhà Nam Tống, quần quân đánh quân Kim, sau bị gian thần trần Cối giết hại.
3. Võ Hầu: Túc Võ hƣơng hầu Gia Cát Lƣợng, quân sƣ của Lưu Bị.
4. Tam sinh hữu hạnh: Cuộc đời gặp may, khuông phù: giúp rập vua.
5. Nhất đán vô thƣờng: Một sớm không chừng
6. Ba kỳ: Tức ba con giáp = 36 năm.
7. Địch khái: Tinh thần chống chọi với kẻ thù địch.
8 .Thúc sô: Bó cỏ non, đặt trƣớc mộ để viếng.
9. Đan quế: Cây quế đỏ. Ở đây chỉ con cái làm nên. Do câu: “Linh xuân nhất lão thu, đan quế ngũ chi hƣơng” khen ngƣời con đỗ đạt.
Phan Công Lộc
Là con trai đầu xứ Phan Công Kế (1854 - 1920), quê làng Nhân Lý, nay là xã Kỳ Châu - Kỳ Anh - Hà Tĩnh. Ông là một nho sĩ tài hoa, tác giả bài “Văn tế sống” thƣờng gọi là “Văn cô Nhiễu” - một tác phẩm có giá trị nghệ thuật cao.
Văn tế sống
(Văn cô Nhiễu)
Than rằng:
Vàng lộn cùng thau;
Ngọc lầm với đá.
Kén khách mà không gặp khách, nỗi vuông tròn thƣơng phận gái thuyền quyên;
Trao tơ chẳng lựa múi tơ, nghĩ đôi lứa ngán cho ngƣời thiên hạ.
Phận đã đành song còn chút chƣa đành;
Lặng cũng dở mà nói càng thêm dở.
Nhớ cô xưa:
Dự bậc nữ trung;
Vốn người lịch sự.
Lƣng eo vú dảnh, ngọc thốt vàng trau.
Má phấn răng đen, miệng cƣời huê nở.
Mấy buổi chơi đình dạo chợ, nhởn nhơ dải đào yếm thắm, nét trai lơ nhìn hết mặt tài hoa;
Đòi phen đi chợ về quê, lân la điếu thuốc miếng trầu, điều ăn ở xiêu lòng ngƣời bạn lứa.
Ngoài phong lƣu mọi vẻ đủ rồi.
Trong khuê khổn trăm bề giỏi cả.
Phụng dƣỡng treo gƣơng hiếu kính, nết trung trinh thay mặt nam nhi;
Cửi canh nẩy mực kiệm cần, đƣờng công tắc1 ra tay thục nữ.
Gần xa náo nức chữ sắc chữ tài,
Ong bƣớm xôn xao làng Đon, làng Hạ2.
Nhà phú hữu ao liền ruộng cả, những mong mỏi duyên ƣa phận đẹp, bảy năm tròn chờ đợi ƣớc non sông;
Khách văn chƣơng tai thánh mắt hiền, những ƣớc ao gái sắc trai tài, mấy tháng chẵn đi về tin nhạn cá.
Dẫu lòng kia hay nghĩ hay suy;
Thời đó cũng là đôi là lứa.
Tốt phận nữa kết duyên ngƣời sĩ nhất, may mắn rồng gặp mây gặp hội, ắt chồng loan vợ phƣợng sum vầy;
Xấu duyên chăng chắp mối kẻ nông nhì, sớm khuya trâu ruộng cày bừa, cũng đụn ló (lúa) kho tiền chan chứa.
Sao cô chẳng biết đƣờng toan liệu, chẳng nghĩ đũa so với phƣớn, những chắc nào trƣớng gấm, nào màn the, nào võng điều, nào sáo vẽ, thấy vàng son mà giục dạ mơ màng;
Vậy cô...3 luống những đợi chờ, quản bao dạ cạn nhƣ đèn, cũng có khi lên huê, khi xuống nguyêt, khi trên Bộc, khi trong dâu4 , đem sắt đá để ghi lòng cậu mợ.
Những tƣởng ông tơ rèn cặp đó, bậc bố kinh5, dành lựa chốn trâm anh;
Nào ngờ con tạo ghét ghen chi, đƣa thành thị xui về miền biển dã.
Giai tế6 hình dung xem cũng khá, tóc rễ tre, da đồng điếu, phỏng chừng trong một nƣớc mấy ngƣời này.
Tân lang tuổi tác đã bao nhiêu, hạt cau giống, nƣớc chè hâm, chừng đâu độ bốn tuần thêm lẻ nữa.
Nài mai ép trúc, nỗi căn duyên chếch mác bởi vì đâu;
Chê muống ôm dênh (dền), bể ân ái phụ phàng chi lắm rứa.
Duyên phận ngán thay duyên phận, trâm gài lƣợc giắt, luống công trình chải chuốt bấy lâu;
Chồng con sao khéo chồng con, nón gọ quai mây, ngó hình dạng ra chiều buồn bã.
Đành bến nƣớc mƣời hai là phận8, trong gia đạo chƣa có ngƣời toan liệu, sao cô chẳng kiếm nơi gần gũi, nỡ để mẹ thầy tuổi tác, lấy ai khi mƣa dầu nắng lửa, gió kép sƣơng đơn;
Mà quả mai ba bảy đang vừa9, ngoài hƣơng thôn cũng lắm kẻ yêu vì, sao cô không nghĩ đến nguồn cơn, nỡ đem thân phận liễu bồ, gieo vào dòng nƣớc biếc non xanh, cát vùi sóng xõa.
Hay là cô thử nếm mùi đời mặn lạt, nên chẳng quản đồng chua nƣớc mặn, lối sinh nhai toan ngày thang đủ no;
Hay là cô muốn dò dạ thế cạn sâu, chỉn (chỉ) tham nơi chèo ngắn sào dài, câu thích chí đƣợc sớm trƣa nghiêng ngả.
Hay là bởi mẹ thầy lộn quýt10, ham những thói mớ tôm mảng cá, qua lại ít nhiều ngọng miệng, ép uổng duyên cô nông nỗi thế, nặng tiền tài mà nhẹ gánh tình chung;
Hay là vì mối lái đèo bòng, chẳng nhằm khi vào lộng ra khơi, nói phô mật rót vào tai, dỗ dành phận gái ngẩn ngơ tình, già nhân sự để non quyền tạo hóa.
Duyên xích thằng11, ƣớc trăm năm có lẻ, phỏng một ngày chi không nghĩ thiệt hơn;
Phận hồng nhan vừa hai mốt tuổi tròn, chi nên tội nỡ đƣa thân nhan đày đọa.
Lúc vãng sính qua miền Cầu thị12, cám cảnh nỗi duyên nài phận ép, vật sầu nhân cây cỏ héo dàu dàu;
Buổi hồi môn về bến Vịnh giang13, ngao ngán thay vợ trẻ chồng già, cảnh liêu khách cáy cua cƣời rả rả14.
Thôi thời thôi,
Hồng ngâm chuột vọc, liễu ủ đào phai;
Mình ngọc ngâu vầy, hoa tàn phấn rã.
Mây Hồng Lĩnh khi tan khi hợp, tủi thân cô lƣu lạc nƣớc non xa;
Nƣớc thủy triều con ngƣợc con xuôi, thƣơng phận gái nổi chìm quê quán lạ.
Muốn lấy nhân duyên than dì gió, gió qua cửa bể, dáng phất phơ thêm dục cơn sầu;
Toan đem phận số trách bà trăng15, trăng giọi đầu non, chiều lơ láo không soi tấc dạ.
Những quyết lễ thời trả lễ, duyên phong nhã chẳng vuông tròn nhƣ trƣớc, thời cũng đã câu vào miệng cá, khó đƣa mối chỉ làm đôi;
Tính rằng duyên lại phụ duyên, tình chăn gối êm đềm nhƣ xƣa, thời làm chi ván đã đóng thuyền, khôn cắt dải đồng16 chia lấy nửa.
“Hoa lƣu động khẩu ứng trƣờng tại”, phận hồng nhan bao quản bƣớc truân chuyên;
“Thủy đáo nhân gian định bất hồi”17, của xuân tỏa tha hồ ai khép mở18.
Tơ một mối không vƣơng bạch diện, nợ tình chi mà nói, nói nữa mà chi;
Giấy ba hàng đƣa chị hồng nhan, đã thành lỡ thì thôi, thôi đành chịu lỡ.
Ai tai! Thƣợng hƣởng.
..............................................................................................
1. Công, tắc: Nữ công là việc của đàn bà, phép tắc cƣ xử của đàn bà...
2. Làng Đon (hay) Đôn là làng Hạ (Đan Du hoặc Đôn Tẩu), tổng Hà Trung
3. Các bản đều ghi thiếu một chữ,
4. Trên bộc trong dâu: Tích Tàu... trong bài này chỉ ý nói không giao tiếp với bạn trai.
5. Bố kinh: Tức bố quần kinh thoa lá quần vải, thoa gai, mặc đơn giản.
6. Giai tế: Rể quý
7. Tân lang: Chàng rể mới.
8. Bến nƣớc mƣời hai: Câu mƣời hai bến nƣớc, trong nhờ đục chịu
9. Quả mai ba bảy: Do chữ “Phiếu hữu mai” trong Kinh thi, chỉ ngƣời con gái nhỡ thì. Ba bảy đang vừa: vừa đến tuổi thành gia thất.
10. Lộn quýt: Tiếng Nghệ nói về ngƣời tính quẩn, tác giả chơi chữ...
11. Xích thằng: Ta dịch là tơ hồng. Tích Vi Cố đời Đƣờng, gặp một ông già ngồi dƣới trăng đang xem quyển sổ trong đó có sợi chỉ đỏ. Hỏi thì ông lão cho biết sợi chỉ đỏ dùng để buộc đôi trai gái vào với nhau thành vợ chồng. Ta hay gọi Ông tơ hồng, ông tơ bà nguyệt.
12. Vãng sính: Đi ăn hỏi, Cầu thị là chọ Cầu.
13. Vịnh giang: Tức sông Vịnh, con sông chảy ra cửa Khẩu.
14. Liêu khách: Triêu ngƣời.
15. Bà trăng: Tức bà Nguyệt lão.
16. Dải đồng: Tùy Đƣờng đế sai ngƣời lấy lụa ngũ sắc kết thành nút gọi là “đồng tâm kết” ban cho vợ yêu của mình. Chỉ sự gắn bó giữa hai vợ chồng...
17. Hoa lƣu động khẩu ứng trƣờng tại / Thủy đáo nhân gian định bất hồi: Hai câu thơ trong bài thơ: “Các nàng tiên đƣa Lƣu Nguyễn ra khỏi động” của Tào Đường đời Đƣờng, nghĩa là: Hoa còn ở trên cửa động thì còn mãi, nƣớc chảy về xuôi thì không quay lại nữa.
18. Xuân toản (tỏa) khóa xuân. Ở đây ý nói đã lấy chồng thì nhƣ buồng xuân không khóa nữa.
19. Bạch diện: Mặt trắng, chỉ những ngƣời học trò, nhà nho. Ở đây tác giả tự xƣng mình là học trò.
PHẦN II
KỲ ANH – ĐỊA LINH NHÂN KIỆT
Chương 1
Những nhân vật lịch sử thời phong kiến
Trải qua hàng ngàn năm nằm dƣới ách đô hộ của phƣơng bắc, sử sách ghi chép về miền đất phên dậu Kỳ Anh thời kỳ cổ đại không lƣu lại đƣợc bao nhiêu do nhiều nguyên nhân.
Cho đến khi Lý Bí, sau khi đánh bại quân Lƣơng, thoát khỏi chính quyền trung ƣơng Trung Hoa, lên ngôi Hoàng đế lấy niên hiệu Lý Nam Đế, thành lập nhà nƣớc Vạn Xuân năm 544, vùng đất biên cƣơng tận cùng Giao Châu này mới đƣợc nhắc đến lần đầu trong “Đại việt sử ký toàn thƣ” (ngoại kỷ-quyển IV-Kỷ nhà Tiền Lý).
1. Các vị vua-quan đầu triều từng có mặt ở Kỳ Anh
- Vua Lý Nam Đế (tức Lý Bí), vào Cửu Chân (Kỳ Anh) năm 543, lên ngôi Hoàng đế năm 544, thành lập nhà nƣớc Vạn Xuân. Triều đại nhà Lý kết thúc năm 602 với vị vua sau cùng là Lý Phật tử, Vạn Xuân rơi vào tay nhà Tùy - Trung Hoa.
- Vua Lê Đại Hành (tức Lê Hoàn), năm 981, sau khi đánh thắng quân nhà Tống, cất quân vào đánh Chiêm Thành, giải phóng vùng đất từ Nam Giới đến Hoành Sơn và đẩy lùi quân Chiêm Thành vào tận Quảng Nam.
Lê Hoàn (941–18 tháng 4 năm 1005) là vị Hoàng đế sáng lập nhà Tiền Lê nƣớc Đại Cồ Việt, trị vì nƣớc Đại Cồ Việt trong 24 năm. Ông là 1 trong 14 vị anh hùng tiêu biểu của dân tộc Việt Nam
- Quản Giáp Lý Thai Giai. Vào năm Ất Sửu (1025), vua Lý Thái Tổ xuống chiếu lập trại Định Phiên ở nam giới Châu Hoan, giao cho Quản Giáp Lý Thai Giai làm trại chủ. (nam giới Châu Hoan tức Kỳ Anh ngày nay).
- Uy linh hầu Lý Nhật Quang húy là Lý Hoảng, là con trai thứ 8 của vua Lý Thái Tổ, mẹ là Linh Hiển Hoàng hậu (theo các nhà nghiên cứu là con của Lê Đại Hành và Hoàng hậu Dƣơng Vân Nga), hiệu là Bát lang Hoàng tử. Nhƣ vậy, ông là anh em cùng mẹ với vua Lý Thái Tông.
Lý Nhật Quang nổi tiếng thông minh, 8 tuổi biết làm thơ, 10 tuổi tìm hiểu kinh sử. Ông đƣợc vua cha và hoàng tộc chăm lo dạy dỗ để sớm thành rƣờng cột nƣớc nhà.
Năm 1028, vua Lý Thái Tổ băng hà, anh cùng mẹ của Nhật Quang là Lý Phật Mã lên nối ngôi, tức là Lý Thái Tông.
Năm Càn Phù Hữu Đạo thứ nhất (1039), Uy Minh Hầu Lý Hoảng đƣợc Lý Thái Tông cử vào châu Nghệ An lo việc thu thuế. Tại đây, Lý Nhật Quang làm việc cần mẫn, thu đủ số thuế đƣợc giao và không nhƣ các vị tiền nhiệm hà lạm thuế của dân nên đƣợc tiếng là thanh liêm, chính trực.
Năm 1041, xét thấy Lý Nhật Quang là ngƣời tin cẩn, Lý Thái Tông phong ông làm Tri châu Nghệ An - tƣớc hiệu là Uy Minh hầu...
Ông qua đời vào ngày 17 tháng 8 năm 1057.
Lý Thái Tông phong Lý Nhật Quang từ tƣớc Hầu lên Tƣớc Vƣơng. Nhân dân suy tôn Lý Nhật Quang là "Thƣợng thƣợng thƣợng Đẳng thần".
Câu đối tại đền Quả khái quát đƣợc công trạng của ông:
Hiển hách thần linh, hƣơng khói miếu đền lƣu vạn đại,
Lừng danh tông tộc, núi sông ghi nhớ đến nghìn năm. (Nguồn:Wikipedia)
- Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật. (1255 – 1330)
Đƣợc biết qua tƣớc hiệu Chiêu Văn vƣơng hay Chiêu Văn đại vƣơng là một nhà chính trị, quân sự Đại Việt thời Trần. Ông là con trai thứ sáu của Trần Thái Tông và là một danh tƣớng của vƣơng triều nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông là ngƣời có công trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ hai và thứ ba, đặc biệt là trận Hàm Tử.
Sau khi ông qua đời, nhiều nơi đã lập đền thờ để tƣởng nhớ ông. Cuộc đời ông đƣợc biết đến qua các bộ chính sử Việt Nam, sớm nhất là Đại Việt Sử ký Toàn thƣ - Kỷ nhà Trần. Ngày nay tại Việt Nam đang có những con đƣờng, phố và ngôi trƣờng mang tên ông.
Chiêu Văn vƣơng Trần Nhật Duật sinh vào tháng tƣ năm Ất Mão (1255), là con trai thứ sáu của Trần Thái Tông, ngƣời thời ấy thƣờng gọi là Ông hoàng Sáu hoặc Hoàng lục tử
Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần thứ hai (1285) vua Trần đề phòng giặc từ Chiêm Thành đánh ra nên sai Chiêu Văn Vƣơng Trần Nhật Duật vào trấn giữ Nghệ An. Lần thứ hai là vào tháng 2-1285 Trần Nhật Duật đƣa quân từ Phú Thọ vào đánh quân Chiêm Thành lúc này tiến ra tận cửa quan Nghệ An (tức Đèo Ngang), vào tận nơi thì gặp quân Nguyên và đánh nhau tại Đèo Ngang (trận này lực lƣợng tiếp viện chƣa vào kịp, nên phải rút lui).
- Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải. (1241 – 1294)
Thừa tƣớng Chiêu Minh Đại vƣơng Trần Quang Khải là một nhà chính trị, quân sự, tôn thất hoàng gia Đại Việt thời Trần. Ông làm đến chức Thừa tƣớng đời Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông và Trần Anh Tông, coi cả mọi việc trong nƣớc. Sách Lịch triều hiến chƣơng loại chí của Phan Huy Chú ghi nhận: "Công lao thu phục đƣợc nƣớc, ông đứng thứ nhất".
Sau khi Trần Nhật Duật vào trấn giữ Nghệ An, theo lời của Hƣng Đạo Vƣơng Trần Quốc Tuấn, nhà vua lại cử thêm Thƣợng tƣớng Chiêu Minh Vƣơng Trần Quang Khải vào tăng viện.
Lần thứ hai Trần Quang Khải cũng xuất quân từ ngày 5-3-1285 vào chi viện cho Trần Nhật Duật nhƣng chƣa vào kịp nên Trần Nhật Duật phải rút lui.
- Vua Trần Duệ Tông. Tháng Chạp năm Bính Thìn 1376, vua Trần Duệ Tông đi đánh Chiêm Thành, lần đầu tiên đoàn thuyền chiến của nhà vua đi qua kênh Kinh Hạ ra cửa Khẩu. (Gắn với lịch sử đền thờ Nguyễn Thị Bích Châu)
- Vua Hồ Quý Ly. Sử chép, tháng Giêng năm Quý Hợi 1383, Hồ Quý Ly đem thủy quân đi đánh Chiêm Thành, bấy giờ có đóng thuyền lớn, thuyền đi đến vùng Lại bộ nƣơng loan và Ô Tôn bị sóng gió hƣ hỏng phải trở về (Lại bộ nƣơng loan tức Cửa Khẩu )
.
- Vua Lê Thánh Tông. Năm 1470, 1471 vua Lê Thánh Tông hai lần thân chinh đƣa quân đi đánh Chiêm Thành, đều qua đất Kỳ Anh, và để lại nhiều bài thơ ghi chép ở Kỳ Anh trong tập “Chinh Tây kỷ hành”.
- Vua Triều Tây Sơn: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và các quan tƣớng đầu triều nhƣ Vũ hầu Võ Văn Dũng, Tả quân Vũ Văn Nhậm, Nguyễn Hữu Chỉnh... cũng từng đi qua Kỳ Anh, nhƣng không trú đóng lâu dài.
- Các vị vua dƣới triều Nguyễn nhƣ Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức... đều đã đi qua Kỳ Anh nhƣng không lƣu lại gì đáng kể, ngoài các bài thơ về Đào Ngang.
2. Dinh Cầu và các quan trấn thủ thời Lê-Trịnh
Từ các triều Lý, Trần đến đầu triều Lê (thế kỷ XV, XVI), vùng đất Hà Trung (Kỳ Anh) luôn luôn là binh đồn trọng yếu bảo vệ biên giới phía nam. Trong cuộc chiến tranh Trịnh-Nguyễn, khi thì quân Lê-Trịnh, khi thì quân nhà Mạc đồn trú ở đây.
Năm 1631 (đầu thời Lê Trung Hƣng), triều đình Lê-Trịnh quyết định thành lập thêm trấn lỵ thứ hai ở phía nam, đóng ở làng Biểu Duệ, xã Hà Trung, nên thƣờng đƣợc gọi là dinh Hà Trung, hay Dinh Cầu do Tây quận công Trịnh Tạc trấn giữ. Dinh thứ nhất từ trƣớc đặt ở Lam Thành (Vinh - Nghệ An).
Từ đây Dinh Cầu luôn đƣợc các võ tƣớng cao cấp, tâm phúc, trong đó có những ngƣời là đại khoa và văn nhân có tiếng tăm trấn thủ:
- Tây quận công Trịnh Tạc 1631
- Đào Quang Nhiêu 1660 (1601-1672)
- Hào quân công Lê Thì Hiến – 1672 (1611 - 1676)
- Yên quận công Trịnh Liệu
- Luân quận công Trịnh Huyên
- Trung quận công Lê Thời Liêu
- Tạo quận công Lê Quang Hiểu
- Thêm quận công Trƣơng Nhƣng
- Siêu quận công Nguyễn Minh Châu
- Hải quận công Phạm Đình Trọng
- Đoan quận công Võ Tá Đoan
- Đoan quận công Bùi Thế Đạt
- Việp quận công Hoàng Ngũ Phúc
- Huy quận công Hoàng Đình Bảo
- Thƣờng trung hầu Bùi Thế Thƣờng
- Dao trung hầu Võ Tá Dao
- Đang trung hầu Bùi Thế Toại. người cuối cùng
Trong đó có các đại khoa bảng Phạm Đình Trọng, Tiến sĩ Lê Hữu Kiều (làm đốc thị), Tiến sĩ Trần Danh Lâm, Hoàng giáp Phạm Nguyễn Du (làm đốc đồng), Bảng nhãn Lê Quý Đôn, Hoàng giáp Bùi Huy Bích (đều làm Hiệp trấn), Hƣơng tiến Ngô Thì Sĩ (làm tham chính). Nhiều ngƣời nhƣ Bùi Huy Bích, Trần Danh Lam... đều có thơ viết về Dinh Cầu và các vùng đất ở Kỳ Anh.
* Hào quận công Lê Thì Hiến, Hải quận công Phạm Đình Trọng mất tại Kỳ Anh và được nhân dân lập đền thờ
Cuối tháng 5 năm Bính Ngọ - 1786, quân Tây Sơn kéo ra Bắc diệt họ Trịnh, Trấn thủ Bùi Thế Toại chống không nổi, đành đốt Dinh Cầu bỏ trốn. Chấm dứt 131 năm tồn tại Dinh Cầu.
3. Các quan Tri huyện dƣới thời nhà Nguyễn
Cuộc chiến giữa nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn cho đến khi kết thúc đều không xảy ra ác liệt ở đất Kỳ Anh. Dƣới triều Tây Sơn, Dinh Cầu đã hoang tàn, không còn là trấn lỵ mà chỉ là một đồn binh.
Sau khi tiêu diệt nhà nhà Tây Sơn, lên ngôi Hoàng đế, năm 1802 vua Gia Long ra Bắc, đi qua Hà Trung (Kỳ Anh) sai đắp lại phủ thành Kỳ Hoa ở thôn Nhân Canh (Kỳ Châu). Bắt đầu triều đại nhà Nguyễn, kéo dài 143 năm với 13 đời vua.
- Tri huyện Nguyễn Đình Toản.
Quê Kẻ Tuy, Tuy Lộc, Quảng Bình có lẽ là Tri huyện đầu tiên của triều Nguyễn, từ 1802 và để lại tiếng tốt ở Kỳ Anh. Ông hai lần đỗ thi hương.
- Tri huyện Lã Xuân Oai.
Ông sinh năm 1836, quê làng Thƣợng Đồng, huyện Phong Doanh, tỉnh Nam Định (nay thuộc xã Yên Tiến, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Hà), đỗ Phó bảng năm Bính Thìn (1856), chƣa rõ làm tri huyện Kỳ Anh từ năm nào. Khi quân Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ hai năm 1884, ông làm Tuần Phủ Lạng Sơn, Cao Bằng, chủ trƣơng chống Pháp, nhƣng thất bại, ông sang Trung Quốc, rồi sau về dạy học ở Ninh Bình. Năm 1889 làng Thƣợng Đồng quê ông khởi nghĩa, ông tham gia giúp đỡ các sĩ phu và học trò, bị Pháp bắt đày ra Côn Đảo và mất tại đó ngày 23 tháng 10 năm Tân Mão (24 tháng 11 năm 1891).
- Năm 1896 Pháp mới chính thức thiết lập Chính quyển bảo hộ ở Kỳ Anh. Đơn vị hành chính vẫn do chính quyền triều đình Huế trực tiếp cai trị, đứng đầu vẫn là tri huyện.
- Tri huyện Bửu Ngọ
Quê Huế (chƣa rõ làm tri huyện Kỳ Anh vào năm nào).
- Tri huyện Lê Đức Trinh
Quê Bình Định, Làm tri huyện Kỳ Anh 1920 – 1930
- Tri huyện Nguyễn Hòa Phẩm
Quê Thanh Hóa? Là tri huyện cuối cùng đến 1945.
Những thời kỳ (phần lớn) do phủ kiêm lý thì Kỳ Anh không có Tri huyện mà do Tri phủ trực tiếp cai trị huyện.
Lúc do phủ hay đạo thống hạt thì cai trị mới có chức tri huyện, đặt dƣới quyền tri phủ hay quản đạo.
Chương 2
Những quan chức Kỳ Anh qua các thời kỳ
Lịch sử thời cổ đại đến đầu thế kỷ XV không thấy để lại tên tuổi nào.
Đến cuối thế kỷ XV dƣới thời đầu Lê - Mạc mới xuất hiện những nhà khoa bảng và tướng lĩnh:
1. Những nhân vật lịch sử và khoa bảng Kỳ Anh
- Bãng nhãn Lê Quảng Chí (1451 - 1533)
Ngƣời làng Sơn Đầu (về sau là Thần Đầu) nay là xã Kỳ Phƣơng. Lúc nhỏ nhà nghèo, ông cùng em là Lê Quảng Ý đi ở cho nhà giàu, nhờ chăm chỉ và sáng dạ nên đƣợc chủ thƣơng mến cho đi học. Lớn lên vẫn vừa làm thuê vừa cố gắng đèn sách và thi đỗ, vinh quy bái tổ về làng.
Lê Quảng Chí đỗ Đình nguyên, nhất giáp tiến sĩ đệ nhị danh (Bãng nhãn) khoa thi Mậu Tuất niên hiệu Hồng Đức thứ 9 (1478) đời Lê Thánh Tông. (Khoa thi đó không lấy trạng Nguyên)
Làm quan đến chức Tả thị lang bộ Lễ, kiêm Đông các đại học sĩ. Năm 60 tuổi ông nghỉ, về quê mở trƣờng dạy học, lấy hiệu Lãm sơn tiên sinh (có sách chép Hoành Sơn tiên sinh).
Ông mất năm 82 tuổi, đƣợc tặng Thƣợng thƣ, dân làng và học trò đặt mộ ông dƣới chân núi Hoành Sơn và lập đền thờ.
Lê Quảng Chí cũng là một nhà trƣớc tác, đƣợc vua Lê Thánh Tông coi ngang với Thân Nhân Trung, Đào Cử... Tác phẩm của ông hiện còn lƣu 5 bài thơ chép trong “Toàn Việt thi lục” và “Văn Minh cổ xúy”. Ông còn phụng chỉ soạn bài văn bia mộ Quang Thục hoàng Thái hậu (mẹ vua Lê Thánh Tông, tên là Ngô Thị Ngọc Dao, ở huyện Thƣ Trì, Thái Bình bây giờ.)
- Đồng tiến sĩ Lê Quảng Ý (1453 - 1526)
Ông là em ruột Bảng nhãn Lê Quảng Chí, cũng nhƣ anh, ông cũng trải qua tuổi thơ nghèo khó và vất vả, nhƣng cũng sáng dạ và chăm chỉ học hành. Sau khi ngƣời anh đỗ, làm quan ông mới có điều kiện tiếp tục học và đến năm 46 tuổi mới đỗ Đồng tiến sĩ khoa Kỷ Vị, niên hiệu Cảnh Thống thứ 2 đời Lê Hiến Tông (1499).
Làm quan đến Hàn lâm viện thị chế, đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, Hiến sứ kiêm Đề lĩnh tứ thành quân vụ, tƣớc Bảng quận công.
Ông mất năm 73 tuổi, mộ táng bên cạnh mộ Lê Quảng Chí. Dân làng cũng lập đền thờ ông ở quê Thần Đầu, gọi là “Đền Bảng Quận công”.
- Đồng tiến sĩ Phùng Trí Tri. (1528 - …?)
Ngƣời làng Liệt Thƣợng, tổng Cấp Dẫn, nay là xã Kỳ Giang. Theo thần phả ở đền Liệt Thƣợng và sách “Kỳ Anh phong thổ ký” thì ông đỗ nhị giáp khoa Đinh Vị, niên hiệu Vĩnh Định, năm đầu Mạc Phúc Nguyên (1547) lúc 19 tuổi.
Làm quan đến chức Hàn lâm, thƣờng gọi “Quan Hoàng Liệt Thƣợng”.
Ở địa phƣơng lƣu truyền giai thoại:
Khi đỗ Đồng tiến sĩ, Vua nhà Mạc gả công chúa cho nhƣng ông từ chối. Sau ngày vinh quy ông đƣợc vua ban “Triều hiến1”, truyền phải tự tử. Sau khi ông chết, dân làng thƣơng tiếc lập bàn thờ. Tƣơng truyền ông hiển linh, đời vua Tự Đức thƣờng giáng loan cứu giúp nhân dân...?
Các triều đều có sắc phong thần, và thần hiệu đƣợc phong đến “Đại vƣơng”.
Nhƣng sách “Đăng khoa bị khảo” của Phan Huy Ôn lại chép ông họ Dƣơng, “ngƣời làng Duy Liệt huyện Kỳ Hoa, đỗ Đồng tiến sĩ khoa Đinh Vị niên hiệu Vĩnh Định (1547). Ông làm đến Hàn lâm. Chƣa rõ sách nào chép đúng.
“1”. “Triều hiến” hay “tam ban triều bảo” là ba thứ: Thanh gƣơm, giải lụa, chén thuốc độc. Ngƣời bị buộc tự sát đƣợc chọn 1 trong ba thứ đó.
“2”. Khoa Đinh Vị 1547, theo sử ký thì Dƣơng Phúc Tƣ, Phạm Du, Nguyễn Tế đỗ tiến sĩ cập đệ, và 8 tiến sĩ xuất thân, 19 đồng tiến sĩ xuất thân, trong đó có Phùng Trí Tri.
- Lan quận công Lê Thát
Quê ở Hữu Lệ (Kỳ Phong ngày nay) sống vào thế kỷ 16
Là một võ tƣớng thời Lê-Trịnh, tham gia nhiều trận đánh với quân nhà Mạc có công trạng, đƣợc phong Lan quận công. Trƣớc Thọ Quận công Phạm Tiêm Lan Quận công Lê Thát là ngƣời quê hƣơng đƣợc nhân dân thờ từ lâu đời. Đền thờ Ngài đã hƣ hỏng, nay mới đƣợc xây lại. Đã đƣợc Nhà nƣớc xếp hạng di tích LS – VH cấp tỉnh, theo Quyết đình số 4323/ QĐ-UBND ngày 24/10/2011.
Thông tin về ngài còn lại rất ít. Chúng tôi tiếp tục sƣu tìm và bổ khuyết sau này nếu có.
- Thọ quận công Phạm Tiêm
Quê ở Hƣng Nhân. Phạm Tiêm (Đại Nam nhất thống chí chép Phạm Công Sám do phiên âm khác nhau) là con trƣởng Thái phó Quảng quận công Phạm Đốc (1512 - 1558). Nguyên quán: quê gốc ở xã Thần Khê, huyện Vĩnh Lại, phủ Ninh Nhân tỉnh Hải Dƣơng (không rõ ông sinh năm nào), là một võ tƣớng thời Lê-Trịnh, đánh nhà Mạc có công, đƣợc phong tƣớc Thọ quận công. Lúc làm trấn thủ Nghệ An, đóng ở Dinh Cầu, ông lập ấp ở tổng Đậu Chữ, sau vào ở thôn Hƣng Nhân, xã Phú Nghĩa. Ông tổ chức khai hoang, mở ra cánh đồng xứ Đồng Nại (nay là xã Kỳ Hà) và đắp đê ngăn mặn, mở thêm 30 mẫu ruộng, lại đào con mƣơng dƣới chân núi Cao Vọng cho nƣớc thông ra biển, tránh đƣợc lụt lội cho cả vùng. Ở Kỳ Anh đến nay vẫn còn truyền câu “Lấp cửa Lỗ, trổ Eo Bù”, nhắc việc này Phạm Tiêm chết tại trấn, đƣợc nhân dân lập đền thờ. Hàng năm ở đền có lễ giỗ Thánh tổ vào ngày 12 tháng Mƣời âm lịch. Đền Phạm Tiêm ở Hƣng Nhân đã dời đến một địa điểm mới. Đền thờ và mộ Phạm Tiêm đƣợc công nhận là di tích Lịch sử - Văn hóa cấp tỉnh vào tháng 8 năm 2005.
- Điện quận công Phạm Hoành Là cháu bốn đời của Phạm Tiêm. Điện Quận công Phạm Hoành là một quan võ thời Lê - Mạc. Ông sinh trƣởng trong dòng họ Phạm – một dòng họ có gốc từ Hải Dƣơng, đã có nhiều ngƣời học hành thành đạt và làm quan phục vụ dƣới triều đại phong kiến.
Phạm Hoành là con trai của Khuê quận công Phạm Định, cháu 4 đời của Thọ quận công Phạm Tiêm. Gia đình ông có bốn anh em, Phạm Hoành là con trai cả. Vốn xuất thân từ gia đình dòng võ tộc, có nhiều ngƣời học hành đỗ đạt làm quan nên từ nhỏ ông đã tỏ ra là một ngƣời thông minh, ham luyện cung tên, võ nghệ. Lớn lên trong hoàn cảnh đất nƣớc bị loạn giặc, với tài sử dụng binh khí, võ nghệ điêu luyện, ông đã trở thành một vị tƣớng lĩnh trung thành, giúp triều đình nhà Lê dẹp Mạc.
Trong trận chiến với nhà Mạc ở Hoan Châu (Nghệ An), sau khi giao tranh ông đang truy kích bị địch đánh tập hậu, ông bị thƣơng, sau trận này ông đã định ra khỏi đất Châu Hoan, ông về quê điều trị rồi từ trần vào mùa xuân năm Quý Tỵ (1593) vào ngày mồng 6 tháng Giêng.
Đƣợc tin ông mất, nhà vua rất thƣơng tiếc bèn phong sắc cho ông là Điện quận công Hổ oai Đại tƣớng quân Thần võ liên tiên đại vƣơng Phạm Hoành, cho lập đền thờ tại làng Sơn Triệu (tức làng Tân Thọ - xã Kỳ Thọ ngày nay). Hàng năm đến ngày giỗ, các hàng quan văn, võ đều về đền dâng hƣơng, cúng tế. Đền đƣợc công nhận là di tích Lịch sử - Văn hóa cấp tỉnh vào tháng 7 năm 2004.
Tƣơng truyền, lúc làm trấn thủ Nghệ An (?) ông đóng quân ở Đá Bạc(1) ra trận bị chém đứt đầu, phi ngựa về đến làng Sơn Triều thì ngã xuống. Dân làng Sơn Triều và làng Hƣng Nhân cùng lập đền thờ ông dƣới động Chào (nay là xã Kỳ Thọ), thƣờng gọi là đền Chào hay “Đền Thánh Tiên”. Trong đền có bức tƣợng bằng đồng đen (?). Hàng năm ở đây có lễ giỗ Thánh Tiên vào ngày 6 tháng Giêng âm lịch. “Đền Thánh Tiên” (đền Chào) xƣa đứng bên đƣờng quốc lộ, cảnh rất đẹp. Ngô Thì Nhậm (1746 - 1803) trong bài “Dinh Cầu hữu cảm” có câu nói về cảnh đền này: “Tế liễu lục thùy Tiên thánh miếu” (Cây liễu buông mành biếc trƣớc miếu Tiên thánh). Đền Phạm Hoành ở Sơn Triều đã bị đổ nát nay mới đƣợc sửa sang lại.
- Phó bảng Lê Đức (Năm sinh chưa rõ...)
Quê làng Mỹ Lũ, xã Hà Trung, nay là xã Kỳ Văn. Ông đỗ cử nhân năm Tân Sửu (1841), đỗ Phó bảng khoa Nhâm Dần niên hiệu Thiệu Trị thứ hai (1842). Làm quan đến Hàn lâm kiểm thảo. Lê Đức là em cử nhân Lê Doãn (làm huấn đạo Cẩm Xuyên), là anh của Hoàng giáp Lê Tuấn và bác cử nhân Lê Nhất Hoàn.
(Hồ sơ số H62A /1, Quốc triều đăng khoa lục, quyển 01, mặt khắc 15)
- Hoàng giáp Lê Tuấn (1818 - 1874)
Lê Tuấn là em Phó bảng Lê Đức ở làng Mỹ Lũ, dòng dõi võ tƣớng đời Lê gốc quê Đình Bảng, Kinh Bắc (Từ Sơn ngày nay). Tổ tiên ông vào làm quan rồi ở lại Kỳ Hoa, về sau gia đình sa sút, lấy nghề nông lập nghiệp.
Lúc trẻ ông rất chăm học và rất thành thạo nghề nông. Ông đi thi 5 khoa liền chỉ đỗ tú tài, đến năm Canh Tuất (1850) ngoài 30 tuổi mới đỗ cử nhân. Tiếp đó ông đỗ nhị giáp tiến sĩ (Hoàng giáp) khoa Quý Sửu, niên hiệu Tự Đức thứ 6 (1853), năm 36 tuổi. Hiện ở nhà thờ ông còn lƣu giữ tấm biển “Tiến sĩ” và biển “Ân tứ vinh quy”.
Lê Tuấn là ngƣời có đức độ và công bình, đƣợc vua Tự Đức rất mến trọng, nên chỉ trong thời gian 10 năm, từ chức Tri phủ ông đƣợc cất nhắc lên Thƣợng thƣ bộ Hình.
Ông từng đƣợc cử làm Chánh sứ đoàn sứ bộ tuế cống nhà Thanh. Năm Tự Đức 24 (1871) ông làm Khâm sai thị tứ Bắc kỳ, cùng Hoàng Kế Viêm dẹp các cuộc khởi nghĩa của Tô Tứ, Hoàng Tề, rồi sau đó đi thƣơng thuyết với Pháp về việc thông thƣơng trên sông Hồng.
Năm Tự Đức thừ 26 (1873) ông đƣợc cử đi Pháp thƣơng thuyết về việc chuộc 3 tỉnh tây Nam kỳ, nhƣng vừa vào đến Gia Định thì bị bệnh rồi mất ở đó năm 1874. (Trong hồ sơ lƣu trữ ở Paris-Pháp vẫn còn 1 tấm ảnh của Chánh sứ Lê Tuấn – đƣợc ông Xuân Thủy sƣu tầm gửi cho gia đình.)
Triều đình cho đƣa linh cữu của ông về an táng ở quê nhà, khi đi qua kinh thành Huế, vua Tự Đức sai làm lễ dụ tế và có bài văn điếu, câu cuối nhƣ sau: “Trẫm đặc chuyết tƣơng tri chi tình, vi sổ ngôn, điện sổ trản, dĩ tận quân thần thủy chung chi nghĩa” (Trẫm nghĩ đến mối tình tƣơng tri, viết vài lời, rót mấy chén, để tỏ cái nghĩa vua tôi có trƣớc có sau).1
Ông đƣợc tặng hàm Hiệp biện đại học sĩ, và đƣợc thờ ở đền Hiền Lƣơng (Huế).
Lê Tuấn còn để lại 2 trƣớc tác là “Yên thiều bút lục” (văn) và “Nhƣ Thanh nhật ký” (sử, văn – A-112) khi đi sứ tại nhà Thanh.
“1”- Lúc ông đi sứ nhà Thanh và khi sửa soạn đi Pháp ông đều đƣợc Tự Đức có thơ ban tặng. (Chép trong sách “Quốc triều khoa bảng lục” của Cao Xuân Dục)
(Hồ sơ số H62A /2, Quốc triều đăng khoa lục, quyển 02, mặt khắc 12)
- Phó bảng Nguyễn Tiến Kiêm (1874 - ?)
Nguyễn Tiến Kiêm (tức Nguyễn Tiến Kỷ), ngƣời làng Tuần Tƣợng, nay là xã Kỳ Phong, Kỳ Anh, Hà Tĩnh.
Đỗ tiến sĩ khoa Kỷ Dậu (1909), rồi đỗ Phó bảng năm Canh Tuất, niên hiệu Duy Tân thứ 4 (1910) năm 37 tuổi, là Hành tẩu bộ Học.
(Hồ sơ số H62A /4, Quốc triều đăng khoa lục, quyển 04, mặt khắc 16)
Phó bảng Kiêm (Ký) rất mê và có tài hát ví, là bạn hát ví với O Nhẫn ở Đan Du, để lại nhiều giai thoại thú vị.
- Cử nhân Trần Công Thưởng, hiệu Quy Phong (1841 – 1914)*
Cụ Trần Công Thƣởng quê ở làng Long Trì, tổng Đậu Chữ, nay thuộc xã Kỳ Phú, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Năm Tự Đức thứ 26 (1873) cụ Thƣởng thi đậu cử nhân. Năm 1875 đƣợc bổ làm Hậu bộ ở tỉnh Phú Yên. Năm 1877 làm Huấn đạo huyện Tuy Hòa. Sau đƣợc thăng hàm Đông tƣ và quyền Tri phủ ở Phú Yên. Năm 1880 đƣợc bổ làm Tri huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Năm 1884 làm Giáo thụ phủ Hà Thanh (Hà Tĩnh). Ông làm quan rất thanh liêm, bản tính yêu thƣơng dân nghèo, không xu nịnh kẻ làm quan vì danh lợi, nhất là quan thân Pháp. Bởi vậy ông đƣợc nhân dân yêu mến, quý trọng. Năm 1885, vua Hàm Nghi bỏ ra Sơn Phòng, Hà Tĩnh, hạ chiếu Cần Vƣơng kêu gọi nhân dân chống thực dân Pháp xâm lƣợc. Hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, cụ Thƣởng đã cùng một số sĩ phu ở Kỳ Anh tham gia kháng Pháp.
Cụ Trần Công Thƣởng là ngƣời cầm đầu phái bộ Kỳ Anh lên gặp vua Hàm Nghi ở Sơn Phòng, Hƣơng Khê, Hà Tĩnh. Lúc lên Sơn Phòng, đoàn Kỳ Anh có mang theo một số sản phẩm địa phƣơng và chiếc áo “long ngũ trảo” (áo vóc thêu rồng năm móng). Đến Sơn Phòng, phái đoàn không gặp đƣợc vua Hàm Nghi mà chỉ đƣợc tiếp kiến cụ Tôn Thất Thuyết. Sau khi nghe nguyện vọng và ý chí Cần Vƣơng của đoàn, cụ Tôn Thất Thuyết bảo rằng: “Các thầy và các chú hãy trở về mà lo liệu gấp, chứ rồi đây, trừ bọn giặc ra, không ai có một tấc đất mà ở”. Vâng lời Tôn Thất Thuyết, cụ Trần Công Thƣởng cùng các sĩ phu và những ngƣời yêu nƣớc ở Kỳ Anh tham gia Cần Vƣơng rất tích cực. Phong trào này ở Kỳ Anh sôi nổi đƣợc vài năm rồi thoái trào.
Thời gian cụ Trần Công Thƣởng làm Tri huyện Đông Sơn, Thanh Hóa có yêu và lấy bà thiếp tên là Lƣơng Thị Uyển ở làng Hạc Oa, tổng Thọ Hạc.
Khi cụ Thƣởng về Kỳ Anh thì bà Uyển cũng về làng Long Trì. Năm 1886 hai ông bà sinh đƣợc ngƣời con trai đầu tên là Trần Công Tƣ. Một thời gian sau bà Uyển lại có thai. Lúc đang mang thai thì bà xin về quê ngoại ở Đông Sơn, Thanh Hóa. Thời điểm này phong trào Cần Vƣơng dƣới sự lãnh đạo của cụ Trần Công Thƣởng ở Kỳ Anh lên mạnh, tình hình không yên ổn nên bà Uyển ở luôn bên ngoại. Tại gia đình bên ngoại, bà Uyển sinh ngƣời con thứ 2 đặt tên là Cung. Vì ngƣời anh ruột bên mẹ đẻ ra bà Uyển hiếm con trai nên nhận cậu Cung về nuôi và đặt tên là Nguyễn Cung (theo họ ngƣời nuôi).
Một thời gian sau, ngƣời con Trần Công Tƣ có dịp ra thi ở Vinh. Thi xong, ông Tƣ ra quê ngoại đón mẹ là bà Uyển về lại Long Trì. Lúc ra về, bà Uyển không hề cho ai biết bà để lại một ngƣời con trai ở làng Hạc Oa – Đông Sơn, Thanh Hóa.
Lớn lên, ông Cung đã nghe ngƣời làng bảo cho biết quê quán và tên cụ thân sinh là Trần Công Thƣởng. Lúc vào lính đóng ở Vinh, ông đã bắt đƣợc liên lạc với họ Trần Công. Năm 1934, ông Cung cùng với vợ là Mai Thị Đoan (quê Đức Thọ, Hà Tĩnh) và con gái về thăm mẹ là bà Uyển và bái yết nhà thờ, gặp gỡ bà con ruột thịt họ Trần Công ở Long Trì. Từ đó trở đi gia đình ông Cung liên lạc với bà con, anh em dòng họ Trần Công ở Long Trì thƣờng xuyên.
Ông Cung vào lính khố Xanh năm 1926. Một thời gian sau đƣợc thăng suất Đội.
Trong thời gian ở lính, ông Cung đã chứng kiến nỗi khổ của nhân dân và nỗi nhục làm lính bảo hộ. Thâm tâm ông đã âm ỉ tinh thần yêu nƣớc, căm thù Thực dân Pháp xâm lƣợc và vua quan Nam triều bán nƣớc.
Hiện nay phần mộ ông Trần Công Thƣởng và bà Lƣơng Thị Uyển đều ở làng Long Trì, xã Kỳ Phú. Ngày 5/ 1/ 2017 UBND tỉnh Hà Tĩnh đã có Quyết định công nhận phần Mộ và nhà Thờ ông Trần Công Thưởng là Di tích lịch sử, văn hóa cấp tỉnh.
6. ĐỘI CUNG *
Tên húy, tên gọi khác: Trần Công Cung - Quê quán: Kỳ Anh, Hà Tĩnh - Niên đại: - 1885 - Chức nghiệp: Thủ lĩnh một cuộc binh biến tại Nghệ An chống lại thực dân Pháp. - Công trạng: Ông là một sĩ quan ngƣời Việt giữ chức đội trƣởng lính Khố xanh trong quân đội Pháp, nên gọi là Đội Cung.
Ngày 8/1/1941, ông đƣợc điều lên làm Đồn trƣởng đồn Chợ Rạng (Thanh Chƣơng, Nghệ An). Từ đây ông đã cùng anh em binh lính vào lúc 20 giờ 30 phút ngày 13/1/1941 nổi dậy cƣớp đồn Chợ Rạng và đồn Đô Lƣơng rồi cùng nhau tiến về Vinh để đánh chiếm Trại giám binh thành Nghệ An, mƣu nghiệp lớn. Pháp đã cho lính đàn áp cuộc khởi nghĩa. Ông bị Thực dân Pháp bắt và bị chúng hành hình ngày 23/2/1941 tại Vinh. Tuy cuộc khởi nghĩa nhanh chóng bị dập tắt, nhƣng “đã có tác dụng kích thích tinh thần ái quốc của đồng bào ta, làm cho đế quốc Pháp bối rối” (Báo “Cởi ách” của Tỉnh ủy Đảng cộng sản Đông Dƣơng Nghệ An). Để ghi nhớ công lao của Đội Cung, Nhà nƣớc đã cấp Bằng Tổ quốc ghi công, và cho lập Tƣợng đài ở huyện Đô Lƣơng để tƣởng niệm và ghi công các liệt sí nổi dậy kháng Pháp ngày 13/ 1/ 1941.
Trần Công Cung* (Nguyễn Văn Cung - Đội Cung) (1903 -1941) là con trai của cử nhân Trần Công Thƣởng.
Thời gian cụ Trần Công Thƣởng làm tri huyện ở Đông Sơn - Thanh Hóa có bà thiếp Lƣơng Thị Uyển ở làng Hạc Oa, tổng Thọ Hạc.
Khi cụ Thƣởng về Kỳ Anh thì bà Uyển cũng về làng Long Trì. Hai ông bà sinh ngƣời con trai đầu là Trần Công Tƣ (1886). Một thời gian sau bà Uyển lại có thai, lúc đang mang thai thì bà xin về thăm quê ngoại tại Thanh Hóa. Thời điểm này phong trào Cần Vƣơng ở Kỳ Anh lên mạnh, tình hình không yên ổn nên bà Uyển ở luôn bên ngoại. Tại gia đình bên ngoại bà Uyển sinh ngƣời con trai thứ hai tên Cung. Vì ngƣời anh ruột bên mẹ đẻ ra bà Uyển hiếm con trai nên nhận cậu Cung về nuôi và đặt tên là Nguyễn Văn Cung (theo họ ngƣời nuôi).
Một thời gian sau, ngƣời con Trần Công Tƣ ra thi ở Vinh. Thi xong ông Tƣ ra quê ngoại đón mẹ là bà Uyển về Long Trì. Lúc ra về bà Uyển không hề cho ai biết bà để lại một ngƣời con ở Hạ Oa, Đông Sơn.
Khi lớn lên, cậu Cung nghe ngƣời làng nói: “Mày không phải ngƣời họ ở đây, mày là con của một ngƣời ở Kỳ Anh - Hà Tĩnh, trƣớc ra làm tri huyện Đông Sơn, ngƣời ấy họ Trần Công”. Khi vào lính khố xanh đóng ở Vinh, ông Cung gặp một ngƣời tên là Đặng Hoán, ngƣời làng Phù Dẫn (xã Kỳ Giang - huyện Kỳ Anh) ra mở hàng cơm Thanh Hƣơng ở Vinh - Nghệ An. Nhờ ông Hoán chỉ bảo, ông Cung có gửi về cho ông anh ở Long Trì - Kỳ Anh 3 bức thư. Hai bức thư đầu thất lạc vì sai địa chỉ làng. Bức thư thứ 3 thì người anh mới nhận được. Trong thƣ ông Cung có nói rất rõ nguyện vọng muốn gặp anh em để nói về huyết thống và hẹn gặp tại hàng cơm Thanh Hương ở Vinh. Mối quan hệ giữa anh em ông Cung và họ Trần Công bắt đầu từ đó.
Khi nhận đƣợc thƣ, ngƣời cháu Trần Công Đậu - con ông Trần Công Tƣ ra gặp chú Cung ở Vinh. Ông Đậu tới hàng cơm Thanh Hƣơng nhờ ông Hoán báo với ông Cung. Chú cháu gặp nhau tâm sự rõ ràng huyết thống. Năm 1834, ông Cung cùng với vợ là bà Mai Thị Đoan, ngƣời Đức Thọ - Hà Tĩnh và con gái về thăm mẹ và bái yết nhà thờ, gặp gỡ bà con ruột thịt họ Trần Công ở Long Trì.
Từ đó trở đi, việc liên lạc giữa ông Cung và bà con họ hàng ở Long Trì đƣợc thƣờng xuyên.
Khi khởi nghĩa ở chợ Rạng - Đô Lƣơng ngày 13 tháng 01 năm 1941 bị thất bại, Đội Cung bị bắt giam, sau đó ông bị hành hình. Anh em họ Trần Công ở Long Trì có ngầm tổ chức lễ truy điệu ông. Trong lễ Tết Nguyên Đán năm 1946 họ Trần Công đã rƣớc linh vị ông Cung về thờ trong nhà thờ họ cùng với tổ tiên.
Bà Lƣơng Thị Uyển - mẹ của ông Cung sau khi ở Đông Sơn - Thanh Hóa về Long Trì lần thứ 2 thì ở lại cho đến khi mất tại quê chồng (1935). Phần mộ của bà Lƣơng Thị Uyển hiện tại ở Long Trì (Kỳ Phú). Việc thờ tự bà Uyển do ông Trần Công Tuyền, cháu ông Trần Công Tư đảm nhận.
Ông Trần Công Cung (Nguyễn Văn Cung) xuất thân trong một gia đình nho học giàu lòng yêu nƣớc, thƣơng dân, có hành động cách mạng dũng cảm, dấy binh khởi nghĩa chợ Rạng - Đô Lƣơng là hợp quy luật. Tại thời điểm lịch sử đó ông là ngƣời vận động đƣợc nhiều binh lính trong hàng ngũ quân đội Pháp quay súng đánh thực dân Pháp với quyết tâm giành độc lập tự do cho Tổ quốc nhân dân.
Việc nhà nƣớc truy tặng bằng “Tổ quốc ghi công” công nhận ông Cung là Liệt sỹ và cho tu bổ lăng mộ của ông ở Thành phố Vinh, lập đài tƣởng niệm cuộc khởi nghĩa ở Chợ Rạng (Thanh Chƣơng - Nghệ An); một số đƣờng phố, trƣờng học mang tên ông là sự ghi nhận đúng công lao của Trần Công Cung trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc.
* Địa chí huyện Kỳ Anh. NXB Văn hóa Thông tin, 2011
2. Những quan chức Kỳ Anh thời đại mới
2.1 Những quan chức đứng đầu huyện
Ngay sau cuộc khời nghĩa dành chính quyền ở huyện Kỳ Anh thành công, kết thúc giao nhận ấn tín của chính quyền cũ chiều ngày 18-9-1945. Ngay tối hôm đó các thành viên trong Ban lãnh đạo cuộc khởi nghĩa đã họp phân công bộ máy lãnh mới đạo trong chính quyền cách mạng:
- Ông Nguyễn Trọng Nhã, làm chủ tịch UBND cách mạng và Nguyễn Duy Khiêm Thư ký cấp ủy Việt Minh
|
DANH SÁCH BÍ THƢ HUYỆN ỦY QUA CÁC THỜI KỲ Họ tên |
Quê quán |
Thời kỳ |
|
Nguyễn Tiến Liên |
Kỳ Bắc |
1930 |
|
Lê Bính |
Kỳ Văn |
1946 |
|
Nguyễn Mân |
Kỳ Thƣ |
1947 |
|
Nguyễn Duy Khiêm |
Kỳ Thƣ |
1948 |
|
Lê Tƣ Sính |
Kỳ Văn |
1949 |
|
Nguyễn Thẩn |
Kỳ Sơn |
1950-1951 |
|
Dƣơng Quát |
Kỳ Phong |
1952-1953 |
|
Lê Thúc Khang |
Kỳ Văn |
1954-1955 |
|
Dƣơng Vấn |
Kỳ Phong |
1956-1961 |
|
Lê Thể |
Kỳ Ninh |
1962-1963 |
|
Dƣơng Vấn |
Kỳ Phong |
1963-1967 |
|
Thiều Y |
Kỳ Khang |
1967-1977 |
|
Nguyễn Ngọc Dinh |
Kỳ Phú |
1977-1986 |
|
Nguyễn Ký |
Kỳ Khang |
1986-1989 |
|
Nguyễn Din |
Kỳ Thƣ |
1989-1998 |
|
Thiều Đình Duy |
Kỳ Khang |
1998-2005 |
|
Tăng Nghĩa |
Kỳ Tân |
2005-2007 |
|
Phan Bình Minh |
Kỳ Văn |
2007-2011 |
|
Lê Trọng Bính |
Đức Thọ (huyện) |
2011-1015 |
|
DANH SÁCH CHỦ TỊCH HUYỆN QUA CÁC THỜI KỲ Họ tên |
Quê quán |
Thời kỳ |
|
Nguyễn Trọng Nhã |
Can Lộc |
1945 |
|
Hoàng Thành |
Kỳ Phong |
1946 |
|
Lê Tƣ Sính |
Kỳ Văn |
1947-1950 |
|
Bùi Châu |
Kỳ Châu |
1950-1956 |
|
Nguyễn Thanh |
Kỳ Hải |
1956-1958 |
|
Lê Thể |
Kỳ Ninh |
1958-1959 |
|
Thiều Y |
Kỳ Khang |
1960-1965 |
|
Nguyễn Toát |
Kỳ Trinh |
1965-1975 |
|
Nguyễn Ký |
Kỳ Khang |
1975 |
|
Lê Minh Tham |
Kỳ Trinh |
1975-1976 |
|
Lê Thể |
Kỳ Ninh |
1976-1979 |
|
Nguyễn Đình Nhu |
Kỳ Tây |
1980-1981 |
|
Nguyễn Din |
Kỳ Thƣ |
1981-1990 |
|
Phan Công Trân |
Kỳ Châu |
1990-1996 |
|
Mai Tùng Lâm |
Kỳ Lợi |
1997-2001 |
|
Nguyễn Văn Trị |
Cẩm Xuyên |
2002-2006 |
|
Trần Bá Song |
Kỳ Thƣ |
2006-2012 |
|
Nguyễn Văn Bổng |
Kỳ Châu |
2012-2015 |
2.2 Những quan chức đứng đầu thị xã Kỳ Anh và huyện Kỳ Anh Từ 2015 đến nay:
- Thị xã Kỳ Anh:
Nguyễn Đình Hải, Bí thƣ thị ủy: 2015 – 2019
Đặng Văn Thành, Bí thƣ thị uỷ: 2019 - nay
Trần Báu Hà, Chủ tịch thị xã 2015 – 2019
Nguyễn Hoài Sơn. Chủ tịch thị xã: 2019 - nay
- Huyện Kỳ Anh
Nguyễn Văn Danh, Bí thƣ huyện ủy: 2015 – 2018
Trần Đình Gia, Bí thƣ huyện ủy: 2018 – 2021
Hồ Huy Thành, Bí thƣ huyện ủy: 2021 - nay
Bùi Quang Hoàn, Chủ tịch UBND huyện: 2015 – 2020
Nguyễn Tiến Hùng, Chủ tịch UBND huyện: 2020 - nay
2.3 Những quan chức ngƣời Kỳ Anh đứng đầu tỉnh
- Bí thư tỉnh ủy Nguyễn Tiến Chương Sinh ngày 10-3-1920. Quê Kỳ Phong, Kỳ Anh. Tốt nghiệp Thành chung (diplome).
Chức vụ cao nhất: Bí thƣ tỉnh ủy tỉnh Hà Tĩnh, đại biểu quốc hội Khóa 6.
Qúa trình công tác: 1947-1946: Đội trƣởng thanh niên, tự vệ thành, đội trƣởng truyên truyền xung phong, cán bộ dân vận tỉnh Khánh Hòa. Tham gia cƣớp chính quyền ở Nha Trang ngày 19-8-1945
1947-1949: Chính trị viên đại đội thường trực huyện, Huyện đội trƣởng, Huyện ủy viên, ủy viên quân sự kháng chiến huyện Kỳ Anh.
1950-1953: Tỉnh đội phó, Tỉnh đội trƣởng, Tỉnh ủy viên, đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh
1954-1956: Tham mƣu phó, trƣởng phòng dân quân, Bí thƣ liên chi bộ tham mƣu, dân quân Bộ tƣ lệnh Quân khu 4.
1956-1972: Thƣờng vụ tỉnh ủy trực Đảng (1956-1961), Phó bí thƣ trực Đảng (1961-1966), Phó bí thƣ-Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh (1967-1971), Bí thƣ tỉnh ủy Hà Tĩnh (1972-1975)
1976-1981: Phó bí thƣ trực Tỉnh ủy Nghệ Tĩnh, Phó chủ tịch Uỷ ban mặt trận Tổ quốc tỉnh, đại biểu Quốc hội Khóa 6.
Chỗ ở hiện nay: số 2, ngõ số 31, đƣờng Phùng Chí Kiên, khối Trung Hòa, Hà Huy Tập, TP. Vinh, Nghệ An.
- Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Ký
Sinh ngày 25-12-1940. Quê quán: Kỳ Khang. Chức vụ: Phó bí thƣ tỉnh ủy, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, Phó trƣởng ban nghiên cứu của Thủ tƣớng Chính phủ.
Qúa trình công tác:
Thƣờng vụ Huyện đoàn Kỳ Anh, Bí thƣ Đảng ủy xã Kỳ Khang, Ủy viên thƣờng vụ Huyện ủy - Trƣởng ban Tuyên giáo Huyện ủy Kỳ Anh, Trƣởng trạm vận tải R3 thuộc Binh trạm 25, ủy viên thƣờng vụ, trực Đảng huyện Kỳ Anh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Kỳ Anh, Bí thƣ huyện ủy huyện Kỳ Anh, Bí thƣ Đảng ủy cơ quan - Phó văn phòng Tỉnh ủy Nghệ Tĩnh, ủy viên Ban thƣờng vụ tỉnh ủy tỉnh Nghệ Tĩnh, Phó chủ tịch UBND tỉnh Nghệ Tĩnh, Phó bí thƣ Tỉnh ủy - Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, Phó trƣởng ban nghiên cứu của Thủ tƣớng chính phủ.
Chỗ ở hiện nay: số 4, ngõ 198, Hà Huy Tập, Hà Tĩnh.
3. Những gƣơng điển hình trong thời đại mới
Trong 3 cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ (1945-1975) và bè lũ bành trƣớng Trung Quốc xâm lƣợc phía bắc, bọn Khe-me đỏ tay chân Trung Quốc ở biên giới phía nam (1979-1988), nhân dân Kỳ Anh đã đóng góp không nhỏ nhân tài và vật lực cùng với quân dân cả nƣớc. Trong đó có nhiều đơn vị, cá nhân đã đƣợc nhà nƣớc ghi nhận và tặng thƣởng các danh hiệu cao quý.
3.1 Đơn vị anh hùng
- Đội nữ dân quân xã Kỳ Phƣơng Với tinh thần khắc phục khó khăn gian khổ, trực tiếp chiến đấu gan dạ, phối hợp bắn rơi 7 máy bay Mỹ. Xây dựng đội tiến bộ nhanh, gƣơng mẫu trong mọi công tác đƣợc nhân dân yêu mến. 100% cán bộ và chiến sĩ đƣợc Hồ chủ tịch thƣởng huy hiệu.
Đƣợc Quốc hội và Chính phủ tuyên dƣơng: Anh hùng lực lƣợng vũ trang nhân dân - tháng 10-1971
.
- Trạm cảnh sát bảo vệ giao thông Kỳ Anh
Nêu cao tinh thần dũng cảm, ý thức trách nhiệm, lập thành tích xuất sắc bảo vệ tuyến đƣờng quan trọng, dũng cảm cứu xe, cứu ngƣời, bảo đảm giao thông thông suốt trong thời kỳ chống Mỹ cứu nƣớc.
Đƣợc tuyện dƣơng: Anh hùng lực lƣợng vũ trang ngân dân, tháng 9-1973.
- Dân quân du kích xã Kỳ Tân
Là địa bàn bị máy bay và tàu chiến Mỹ bắn phá hàng trăm lần, ném hàng nghìn quả bom các loại, dân quân du kích của xã luôn nêu cao tinh thần quyết chiến quyết thắng, vừa sản xuất vừa chiến đấu, sửa đƣờng, cứu xe, cứu hàng phục vụ chiến trƣờng...
Đƣợc tuyên dƣơng: Anh hùng lực lƣợng vũ trang nhân dân, tháng 9-1973.
- Đồn công an vũ trang 112 Kỳ Anh
Đóng trên địa bàn trọng yếu, cán bộ chiến sĩ luôn đạt thành tích xuất sắc trong chiến đấu, bảo vệ an ninh, chính trị trong khu vực, là đơn vị đầu tiên ở Hà Tĩnh dùng súng bộ binh bắn rơi máy bay Mỹ, nhiều năm liền là đơn vị quyết thắng của Bộ nội vụ, bộ tƣ lệnh biên phòng, đƣợc tặng nhiều huân huy chƣơng...
Đƣợc tuyên dƣơng: Anh hùng lực lƣợng vũ trang nhân dân, ngày 6-11-1978.
- Lực lượng vũ trang nhân dân huyện Kỳ Anh
Huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh ở vào một vị trí vô cùng trọng yếu trong hai cuộc chiến tranh, là hậu cứ trực tiếp của chiến trƣờng.
Lực lƣợng vũ trang nhân dân Kỳ Anh đã cùng nhân dân trong huyện lao động và chiến đấu kiên trì, dũng cảm, lập nhiều chiến công xuất sắc. Đánh thắng nhiều cuộc đổ bộ, biệt kích của địch, đập tan nhiều âm mƣu gây bạo loạn, đảm bảo an ninh, chính trị, xung kích trong sản xuất, bảo đảm giao thông vận tải phục vụ chiến trƣờng. Bộ đội địa phƣơng và dân quân tự vệ đã đánh trên 2000 trận, bắn rơi 60 máy bay Mỹ, bắn cháy và chìm 9 tàu chiến, tàu biệt kích, đƣợc thƣởng 14 huân chƣơng quân công, 3800 huân chƣơng chiến công từ hạng 1 đến hạng 3...
Đƣợc tuyên dƣơng: Anh hùng lực lƣợng vũ trang nhân dân, năm 1979.
- Ngoài ra trong thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ còn có các điển hình cá nhân và tập thể như:
- Điển hình Chu Nai
Chu Nai là thôn đội trƣởng dân quân thôn Vĩnh Áng, xã Hoằng Lợi (nay là xã Kỳ Lợi). Những năm 1947 - 1951 quân Pháp thƣờng dùng tàu thủy đuổi bắt hoặc bắn vào thuyền ngƣ dân, Chu Nai có sáng kiến dựng cột cờ trên núi để báo động khi có tàu địch. “Cột cờ Chu Nai” là một cây tre cao, trên có cành lá và lá cờ do đó gọi là cột cờ, dựng ở đỉnh núi, khi có động thì hạ xuống, thuyền bè ngoài biển không thấy cột cờ thì vội quay vào bờ, nhân dân thì sẵn sàng đi sơ tán để du kích bố trí đánh địch...
Sáng kiến trên đƣợc Bộ chỉ huy quân sự quân khu bốn khen thƣởng và hình ảnh “Cột cờ Chu Nai” trở thành biểu tƣợng của trí thông minh của du kích thời chống Pháp.
- Đội du kích Hải Khẩu
Trong kháng chiến chống Pháp, đội du kích Hải Khẩu (xã Kỳ Ninh) đã có thành tích xuất sắc trong việc đánh giặc bảo vệ xóm làng.
Đội du kích do ông Lê Thể làm đội trƣởng, bằng sự mƣu trí và dũng cảm đã nhiều lần đánh và tiêu diệt nhiều toán quân Pháp đổ bộ lên bờ, lục soát tàu bè và nhà dân, làm cho chúng kinh sợ và hoảng hốt mỗi khi gặp phải quân du kích.
- Xã Kỳ Trinh phục vụ giao thông vận tải
Trong thời kỳ chống Mỹ cứu nƣớc, xã Kỳ Trinh gồm 3 thôn Quyền Hành, Thịnh Hƣng, Dụ Lộc, quốc lộ 1A đi qua chỉ 6 km mà có tới 12 chiếc cầu với tổng chiều dài ngót 500m. Những năm chiến tranh phá hoại, không quân và hải quân Mỹ đã đánh vào đoạn đƣờng này 747 lần với 6500 quả bom, làm sập 4 cầu lớn, và đánh vào vùng dân cƣ 152 lần với 10.600 quả bom, 1750 quả rốc-két, 650 quả bom bi mẹ, 127 quả đại bác, chƣa kể các loại pháo khác. Trong xã có 180 ngôi nhà bỉ cháy, 74 ngƣời chết và bị thƣơng, 48 trâu bò bị giết, 98 tấn lƣơng thực bị hủy hoại... Nhƣng nhân dân Kỳ Trinh cả lƣơng và giáo dân vẫn bám đƣờng, bám cầu, bám ruộng, vừa chiến đấu vừa sản xuất. Với khẩu hiệu “Không để xe tắc một giờ”, hễ có tiếng kẻng báo động là dân quân, thanh niên, cả làng, xã lập tức đổ ra đƣờng đào đắp, san lấp mặt đƣờng để thông xe...
Từ 1968 - 1972 nhân dân khai thác 7600 m3 đá, cung cấp tấp bổi, cọc chống lầy, gánh lá ngụy trang, lấp 728 hố bom, phá 129 quả bom nổ chậm, thông đƣờng giải phóng 328 chuyến xe...
Với những thành tích, nổ lực trên, chính quyền và nhân dân Kỳ Trinh đƣợc tặng 8 huân chƣơng, và nhiều cá nhân xuất sắc trong phong trào toàn dân phục vụ giao thông vận tải.
(trích Sách: “Hà Tĩnh kháng chiến chống Mỹ cứu nƣớc” BCHQS-HT 1994)
- Đội lão quân Kỳ Tiến
Trong cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, đội lão quân xã Kỳ Tiến là một trong những đơn vị xuất sắc của huyện Kỳ Anh.
Đội gồm 7 cụ già từ 60 tuổi trở lên, do Lê Văn Đàn, xã đội phó trực tiếp chỉ huy. Với 2 khẩu cao xạ 12,7 ly và một trung liên, nhiệm vụ chính là bảo vệ cầu Kênh trên quốc lộ 1A. Trong thời gian địch đánh phá ác liệt, có ngày các cụ phải đánh 3-4 trận, đặc biệt ngày 19-3-1968, 6 máy bay Mỹ tới ném bom, từ ngoài biển hạm tàu Mỹ cũng bắn pháo vào, kéo dài từ 2 giờ chiều đến 6 giờ rƣỡi tôi, các cụ đánh trả quyết liệt và bắn rơi một máy bay A4.
Đội lão quân Kỳ Tiến đã đƣợc cả nƣớc biết đến nhƣ một tấm gƣơng tuổi cao chí lớn, nêu gƣơng sáng cho thế hệ trẻ lên đƣờng đánh giặc.
Theo “Hà Tĩnh kháng chiến” CMCN (SĐD)
Các xã được tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân từng thời kỳ tiếp theo:
- Lực lƣợng vũ trang nhân dân Xã Kỳ Lạc
Đƣợc tuyên dƣơng: Anh hùng lực lƣợng vũ trang nhân dân, theo quyết định ngày 26-1-1996
- Lực lƣợng vũ trang nhân dân xã Kỳ Trinh
Đƣợc tuyên dƣơng: Anh hùng lực lƣợng vũ trang nhân dân, năm 1998
- Lực lƣợng vũ trang nhân dân xã Kỳ Phƣơng
Đƣợc tuyên dƣơng: Anh hùng lực lƣợng vũ trang nhân dân, theo quyết định ngày 26-1-1998
- Lực lƣợng vũ trang nhân dân xã Kỳ Bắc
Đƣợc tuyên dƣơng: Anh hùng lực lƣợng vũ trang nhân dân, năm 2000
- Lực lƣợng vũ trang nhân dân xã Kỳ Tiến
Đƣợc tuyên dƣơng: Anh hùng lực lƣợng vũ trang nhân dân, năm 2000
- Lực lƣợng vũ trang nhân dân xã Kỳ Văn
Đƣợc tuyên dƣơng: Anh hùng lực lƣợng vũ trang nhân dân, năm 2003
- Lực lƣợng vũ trang nhân dân xã Kỳ Phong
Đƣợc tuyên dƣơng: Anh hùng lực lƣợng vũ trang nhân dân, năm 2004
- Lực lƣợng vũ trang nhân dân xã Kỳ Tây
Đƣợc tuyên dƣơng: Anh hùng lực lƣợng vũ trang nhân dân, năm 2004
- Lực lƣợng vũ trang nhân dân xã Kỳ Lâm
Đƣợc tuyên dƣơng: Anh hùng lực lƣợng vũ trang nhân dân, năm 2004
- Lực lƣợng vũ trang nhân dân xã Kỳ Phú
Đƣợc tuyên dƣơng: Anh hùng lực lƣợng vũ trang nhân dân, năm 2004
- Lực lƣợng vũ trang nhân dân xã Kỳ Giang
Đƣợc tuyên dƣơng: Anh hùng lực lƣợng vũ trang nhân dân, năm 2004
- Lực lƣợng vũ trang nhân dân xã Kỳ Hải
Đƣợc tuyên dƣơng: Anh hùng lực lƣợng vũ trang nhân dân, năm 2004
- Lực lƣợng vũ trang nhân dân xã Kỳ Ninh
Đƣợc tuyên dƣơng: Anh hùng lực lƣợng vũ trang nhân dân, năm 2004
- Lực lƣợng vũ trang nhân dân xã Kỳ Long
Đƣợc tuyên dƣơng: Anh hùng lực lƣợng vũ trang nhân dân, năm 2004
- Lực lƣợng vũ trang nhân dân xã Kỳ Khang
Đƣợc tuyên dƣơng: Anh hùng lực lƣợng vũ trang nhân dân, năm 2006
- Lực lƣợng vũ trang nhân dân xã Kỳ Thƣợng
Đƣợc tuyên dƣơng: Anh hùng lực lƣợng vũ trang nhân dân, năm 2006
- Trường Trung học cơ sở xã Kỳ Tân
Đƣợc tuyên dƣơng anh hùng lao động thời kỳ đổi mới năm 2000, về thành tích xuất sắc trong sự nghiệp giáo dục
3.2. Cá nhân anh hùng
- Trƣơng Xuân Hòa
Sinh 1942. Quê xã Kỳ Lạc, huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh, hạ sĩ quan vận tải, Trung đội phó đội thuyền, thuộc Đại đội 5, binh trạm 5, đoàn 559, Tổng cục Hậu cần. Có thành tích: Toàn tâm toàn ý phục vụ tiền tuyến, hết lòng yêu quý của công, dũng cảm, bền bỉ, sáng tạo trong công việc. Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, khiêm tốn, đoàn kết.
Đƣợc tuyên dƣơng: Anh hùng lực lƣợng vũ trang nhân dân, ngày 18-6-1969.
- Đặng Đình Chí
Sinh năm 1946. Quê xã Kỳ Ninh, huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh. 24 tuổi, tiểu đội trƣởng dân quân. Có nhiều sáng kiến tìm và phá hủy bom nổ chậm dƣới nƣớc, cùng đồng đội phá 138 quả bom, tự mình phá 28 quả, nhiều lần vƣợt bom đạn, xông pha nơi sóng gió, mƣa bão cùng đồng đội đƣa hàng hóa của nhà nƣớc tới nơi an toàn...
Đƣợc tuyên dƣơng: Anh hùng lực lƣợng vũ trang nhân dân, ngày 25-8-1970.
- Phan Công Nam
Sinh năm 1945. Quê ở xã Kỳ Lạc, huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Đại đội trƣởng, tiểu đoàn 24, sƣ đoàn 1 phòng không. Tham gia 174 trận đánh, trực tiếp bắn rơi 10 máy bay, cùng khẩu đội bắn rơi 12 chiếc khác. Suy nghĩ, tìm tòi nhiều cách đánh sáng tạo, mƣu trí, táo bạo. Tận tình giúp đỡ đồng đội, chấp hành nghiêm các mệnh lệnh, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, 6 lần đạt danh hiệu dũng sĩ bắn máy bay, 1 lần dũng sĩ diệt Mỹ, 1 lần dũng sĩ quyết thắng...
Đƣợc tuyên dƣơng: Anh hùng lực lƣợng vũ trang giải phóng, ngày 10-2-1970 của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.
- Nguyễn Công Trường (Nguyễn Xuân Trƣờng)
Sinh năm 1948. Quê xã Kỳ Lạc, huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh... Trung úy, đại đội trƣởng, nhập ngũ tháng 2-1968, bộ đội đặc công quân khu Bình Trị Thiên, ra học và công tác ở quân khu 3, sau về Ban chính trị Trung đoàn 46, sƣ đoàn 326, quân khu 3, xuất ngũ tháng 5-1984.
Tháng 9-1968 tham gia đánh cứ điểm Tân Điền, dùng B40 diệt 2 lô cốt địch, tháng 3-1969 tập kích ở Động Em, Quảng Trị phá hủy 2 khẩu pháo, tháng 5-1070 bắn cháy 1 xe tăng Mỹ ở đồi Ông Do. Ngày 19-2-1979 chỉ huy đơn vị phản kích chiếm cao điểm 551 ở Xìn Hồ (Lai Châu), trong 3 ngày điệt trên 500 quân xâm lƣợc Trung Quốc. Đƣợc tặng 3 huân chƣơng Chiến công hạng ba, 1 huân chƣơng quân công hạng 3 và nhiều bằng khen...
Đƣợc tuyên dƣơng: Anh hùng lực lƣợng vũ trang nhân dân, theo lệnh số 187, ngày 20-12-1979.
- Vƣơng Đình Nhỏ
Sinh 19-2-1925. Quê Kỳ Thịnh, Kỳ Anh, Hà Tĩnh, nhập ngũ quân đội tháng 2-1948, bổ sung vào đại đội 25 bộ đội địa phƣơng huyện Kỳ Anh, sau chuyển về D 290 Hà Tĩnh, D 30 công binh Quân khu 4. Tháng 5-1965 đƣợc bổ nhiệm làm Trung đội trƣởng thuộc D57 công binh tỉnh đội Hà Tĩnh. Năm 1967, D57 chuyển thành Tổng đội vƣợt sông 57 trực thuộc Ty giao thông Hà Tĩnh. Tháng 5-1968 đƣợc điều động về làm Đại đội trƣởng phá bom “cảm tử” tại Ngã ba Đồng Lộc, bến phà Linh Cảm, tuyến đƣờng 18A, đƣờng 8...
Trong suốt thời gian đảm nhận công tác phá gỡ bom mìn, bằng tìm tòi sáng tạo, đề xuất những sáng kiến và hàng loạt phƣơng pháp, Vƣơng Đình Nhỏ và đồng đội đã phá đƣợc hàng ngàn quả bom nổ chậm và ngƣ lôi trên các tuyến đƣờng bộ, đƣờng thủy, góp phần quan trọng vào việc giải tỏa giao thông trên các khu vực trọng điểm.
Do có nhiều thành tích, Vƣơng Đình Nhỏ đƣợc tặng 3 Huân Chƣơng chiến công, Huân chƣơng chiến kháng chiến chống Mỹ, Huân chƣơng chiến thắng, Huy hiệu Hồ chủ tịch... Đƣợc chủ tịch nƣớc truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lƣợng vũ trang ngày 23-5-2005.
- Nguyễn Văn Lộc
Sinh năm 1946. Quê Kỳ Tiến, học trƣờng Phan Đình Phùng - Hà Tĩnh, xung phong nhập ngũ tháng 2/1965 đại đội 1, tiểu đoàn 47 (Lê Hồng Phong), E70, mặt trận B5 Quảng Trị. Năm 22 tuổi tham gia trận đánh cùng đơn vị đã diệt 104 giặc Mỹ, đƣơc truy tặng Anh hùng năm 2010 (anh hùng liệt sĩ duy nhất ở Kỳ Anh).
- Đặc biệt Kỳ Anh có cụ Nguyễn Cát: 1910 - 1996, quê làng Tân Phong, xã Kỳ Phú là một điển hình gƣơng mẫu, có 5 con là liệt sĩ thời kỳ chống Mỹ, bản thân là Đại biểu Hội đồng nhân dân 3 cấp, nhiều lần đƣợc đảng và chính phủ vinh danh có công với nƣớc. Tổng bí thƣ Trƣờng Chinh từng đến thăm hỏi và tặng quà tại nhà, chủ tịch nƣớc Tôn Đức Thắng gặp và tặng quà nhiều lần….
3.3. Các bà mẹ Việt Nam anh hùng
Ngoài các đơn vị, các nhân đƣợc nhà nƣớc phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lƣợng vũ trang. Nhà nƣớc cũng đã phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng cho hàng ngàn bà mẹ có công với đất nƣớc trong ba cuộc chiến tranh xâm lƣợc: thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và bành trƣớng Trung Quốc.
|
Bà mẹ Việt Nam anh hùng phong tặng 3 đợt: TT |
HỌ TÊN |
NĂM SINH |
QUÊ QUÁN |
|
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 |
Trần (Lê) Thị Thung Nguyễn Thị Thửa Nguyễn Thị Đệ Nguyễn Thị Thể Nguyễn Thị Rây Nguyễn Thị Đờng Nguyễn Thị Viết Nguyễn Thị Thƣờng Trần Thị Dẫm Nguyễn Thị Niềm Trần Thị Lục Nguyễn Thị Loan Đặng Thị Khƣ Nguyễn Thị Ty Lê thị Cƣờng Nguyễn Thị Luyến |
1916 1906 1919 1905 1912 1918 1928 1903 1903 1908 1908 1923 1917 1921 |
Kỳ Phú Kỳ Phú Kỳ Phú Kỳ Phú Kỳ Trinh Kỳ Trinh Kỳ Ninh Kỳ Châu Kỳ Hải Kỳ Tân Kỳ Văn Kỳ Sơn Kỳ Sơn Kỳ Châu Kỳ Châu Kỳ Lạc |
|
17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 |
Nguyễn Thị Di Nguyễn Thị Khây Phan Thị Phùng Lê Thị Chân Nguyễn Thị Oắc Hoàng Thị Phƣớc Nguyễn Thị Xàng (ằ) Trần Thị Em Hoàng Thị Chuyên Nguyễn Thị Điệt Trần Thị Kỷ Phan Thị Phinh Trần Thị Khuần Nguyễn Thị Khâng (ƣ) Nguyễn Thị Thành Dƣơng Thị Thành Nguyễn Thị Bi Nguyễn Thị Tuyến (ề) Nguyễn Thị Móc Nguyễn Thị Han |
1920 1924 1926 1905 1907 1916 1911 1906 1908 1903 1911 1905 1903 1918 1905 1914 1905 1902 1917 1920 |
Kỳ Đồng Kỳ Ninh Kỳ Ninh Kỳ Tân Kỳ Phú Kỳ Thƣ Kỳ Tiến Kỳ Phong Kỳ Phong Kỳ Phong Kỳ Lâm Kỳ Lâm Kỳ Hải Kỳ Ninh Kỳ Phú Kỳ Giang Kỳ Giang Kỳ Hƣng Kỳ Thịnh Kỳ Trinh |
Danh sách các bà mẹ Việt Nam anh hùng Theo nghị định 56 :
|
1 |
Họ tên Nguyễn Thị Mựng |
Năm sinh 1920 |
Quê quán Kỳ Xuân |
|
2 |
Nguyễn Thị Hợp |
1909 |
Kỳ Thọ |
|
3 |
Trần Thị Tạo |
1940 |
Kỳ Thọ |
|
4 |
Trần Thị Chuyết |
1921 |
Kỳ Thƣ |
|
5 |
Võ Thị Xuân |
1918 |
Kỳ Thƣ |
|
6 |
Nguyễn Thị Em |
1925 |
Kỳ Phú |
|
7 |
Lê Thị Quế |
1926 |
Kỳ Phú |
|
8 |
Hoàng Thị Y |
1913 |
Kỳ Phú |
|
9 |
Võ Thị Tăng |
1916 |
Kỳ Châu |
|
10 |
Nguyễn Thị Điểm |
1906 |
Kỳ Tân |
|
11 |
Nguyễn Thị Đang |
1905 |
Kỳ Văn |
|
12 |
Nguyễn Thị Huệ |
1906 |
Kỳ Văn |
|
13 |
Nguyễn Thị Uy |
1913 |
Kỳ Châu |
|
14 |
Trần Thị Sý |
1919 |
Kỳ Thƣợng |
|
15 |
Lê Thị Nhung |
1920 |
Kỳ Thƣợng |
|
16 |
Dƣơng Thị Thủy |
1913 |
Kỳ Tiến |
|
17 |
Lê Thị Yên |
1919 |
Kỳ Tiến |
|
18 |
Bùi Thị Mày |
1913 |
Kỳ Sơn |
|
19 |
Nguyễn Thị Luyên |
1906 |
Kỳ Tây |
|
20 |
Trần Thị Trung |
1928 |
Kỳ Tây |
|
21 |
Nguyễn Thị Thuyện |
Kỳ Tây |
|
|
22 |
Ngô Thị Úy |
1914 |
Kỳ Đồng |
|
23 |
Nguyễn Thị Tồn |
1910 |
Kỳ Giang |
|
24 |
Nguyễn Thị Ân |
1908 |
Kỳ Tân |
|
25 |
Trƣơng Thị Bình |
1898 |
Kỳ Tân |
|
26 |
Nguyễn Thị Hứng |
1897 |
Kỳ Tân |
|
27 |
Dƣơng Thị Lam |
1907 |
Kỳ Giang |
|
28 |
Nguyễn Thị Vân |
1912 |
Kỳ Giang |
|
29 |
Nguyễn Thị Vẹn |
1901 |
Kỳ Bắc |
|
30 |
Trần Thị Lân |
1916 |
Kỳ Bắc |
|
31 |
Cao Thị Doan |
1916 |
Kỳ Bắc |
|
32 |
Trần Thị Tằm |
1922 |
Kỳ Phong |
|
33 |
Nguyễn Thị Đạt |
1917 |
Kỳ Bắc |
|
34 |
Ngô Thị Yến |
1905 |
Kỳ Giang |
|
35 |
Võ Thị Xảo |
1922 |
Kỳ Văn |
|
36 |
Nguyễn Thị Loan |
1904 |
Kỳ Khang |
|
37 |
Phan Thị Cù |
1907 |
Kỳ Thƣợng |
|
38 |
Đặng Thị Thƣ |
1919 |
Kỳ Thƣợng |
|
39 |
Tô Thị Thi |
1905 |
Kỳ Phú |
|
40 |
Dƣơng Thị Tuỷn |
1902 |
Kỳ Hải |
|
41 |
Phạm Thi Tuê |
1922 |
Kỳ Thọ |
|
42 |
Hoàng Thị Nuôi |
1910 |
Kỳ Bắc |
|
43 |
Nguyễn Thị Tồn |
1910 |
Kỳ Xuân |
|
44 |
Văn Thị Tẻo |
1919 |
Kỳ Văn |
|
45 |
Võ Thị Chân |
1913 |
Kỳ Văn |
|
46 |
Nguyễn Thị Thuận |
1911 |
Kỳ Văn |
|
47 |
Trần Thị Tiểm |
Kỳ Văn |
|
48 |
Lê Thị Thửng |
1908 |
Kỳ Sơn |
|
49 |
Nguyễn Thị Tuyên |
1919 |
Kỳ Sơn |
|
50 |
Nguyễn Thị Ba |
1908 |
Kỳ Tiến |
|
51 |
Nguyễn Thị Thịnh |
1915 |
Kỳ Tiến |
|
52 |
Lê Thị Huyền |
1913 |
Kỳ Tân |
|
53 |
Nguyễn Thị Tứ |
1921 |
Kỳ Châu |
|
54 |
Trƣơng Thị Liến |
1912 |
Kỳ Châu |
|
55 |
Trƣơng Thị Nghinh |
1904 |
Kỳ Thƣợng |
|
56 |
Nguyễn Thị Tửu |
1912 |
Kỳ Sơn |
|
57 |
Nguyễn Thị Triêm |
1906 |
Kỳ Tây |
|
58 |
Bùi Thị Thềm |
1903 |
Kỳ Tân |
|
59 |
Nguyễn Thị Nại |
1906 |
Kỳ Tân |
|
60 |
Võ Thị Cƣờng |
1904 |
Kỳ Hải |
|
61 |
Võ Thị Dánh |
1909 |
Kỳ Hải |
|
62 |
Dƣơng Thị Vỹ |
1903 |
Kỳ Hải |
|
63 |
Lê Thị Huệ |
1905 |
Kỳ Hải |
|
64 |
Phạm Thị Nhịp |
1915 |
Kỳ Hải |
|
65 |
Võ Thị Thạch |
1908 |
Kỳ Thƣ |
|
66 |
Võ Thị Triền |
1900 |
Kỳ Thƣ |
|
67 |
Phạm Thị Luông |
1918 |
Kỳ Thọ |
|
68 |
Phạm Thị Đuê |
1911 |
Kỳ Thọ |
|
69 |
Phạm Thị Đỉnh |
1911 |
Kỳ Thọ |
|
70 |
Hà Thị Thành |
1919 |
Kỳ Phú |
|
71 |
Lê Thị Bửu |
1909 |
Kỳ Đồng |
|
72 |
Hồ Thị Sáu |
1903 |
Kỳ Đồng |
|
73 |
Nguyễn Thị Nhỏ |
1912 |
Kỳ Giang |
|
74 |
Trần Thị Đỏ |
1922 |
Kỳ Giang |
|
75 |
Bùi Thị Nhuyên |
1902 |
Kỳ Xuân |
|
76 |
Phạm Thị Ầm |
1898 |
Kỳ Xuân |
|
77 |
Nguyễn Thị Loan |
Kỳ Tiến |
|
|
78 |
Nguyễn Thị Chỉu |
1901 |
Kỳ Bắc |
|
79 |
Hoàng Thị Thỉu |
1886 |
Kỳ Giang |
|
80 |
Nguyễn Thị Hợi |
1917 |
Kỳ Đồng |
|
81 |
Nguyễn Thị Trứng |
1911 |
Kỳ Hợp |
|
82 |
Hoàng Thị Tè |
1908 |
Kỳ Châu |
|
83 |
Hoàng Thị Thuyến |
1902 |
Kỳ Thƣợng |
|
84 |
Hà Thị Dỵ |
1903 |
Kỳ Hải |
|
85 |
Trần Thị Nhung |
1909 |
Kỳ Bắc |
|
86 |
Lê Thị Sỹ |
1920 |
Kỳ Bắc |
|
87 |
Lê Thị Đỹ |
1894 |
Kỳ Bắc |
|
88 |
Nguyễn Thị Thuyn |
1898 |
Kỳ Tiến |
|
89 |
Nguyễn Thị Nhinh |
1896 |
Kỳ Tiến |
|
90 |
Trần Thị Thể |
1919 |
Kỳ Văn |
|
91 |
Nguyễn Thị Chế |
1922 |
Kỳ Phú |
|
92 |
Nguyễn Thị Lạc |
1919 |
Kỳ Phú |
|
93 |
Bùi Thị Chƣơng |
1898 |
Kỳ Phú |
|
94 |
Nguyễn Thị Nồng |
1923 |
Kỳ Phú |
|
95 |
Trần Thị Báu |
1917 |
Kỳ Phú |
|
96 |
Hoàng Thị Duận |
1906 |
Kỳ Phú |
|
97 |
Tô Thị Yến |
1905 |
Kỳ Khang |
|
98 |
Nguyễn Thị Én |
1923 |
Kỳ Sơn |
|
99 |
Nguyễn Thị Đảm |
1922 |
Kỳ Sơn |
|
100 |
Phan Thị Dát |
1903 |
Kỳ Phong |
|
101 |
Nguyễn Thị Huyên |
1910 |
Kỳ Hải |
|
102 |
Đinh Thị Xuyên |
1913 |
Kỳ Phong |
|
103 |
Trần Thị Khậy |
1909 |
Kỳ Phú |
|
104 |
Lê Thị Khƣơm |
1917 |
Kỳ Tiến |
|
105 |
Nguyễn Thị Cháu |
1903 |
Kỳ Giang |
|
106 |
Nguyễn Thị Hai |
1908 |
Kỳ Phong |
|
107 |
Trần Thị Trinh |
1912 |
Kỳ Khang |
|
108 |
Nguyễn Thị Ty |
1904 |
Kỳ Lâm |
|
109 |
Dƣơng Thị Tỷ |
1906 |
Kỳ Lâm |
|
110 |
Nguyễn Thị Tuyền |
1904 |
Kỳ Lâm |
|
111 |
Nguyễn Thị Khƣởm |
1903 |
Kỳ Hợp |
|
112 |
Trần Thị Dình |
1916 |
Kỳ Sơn |
|
113 |
Nguyễn Thị Quy |
1919 |
Kỳ Lâm |
|
114 |
Nguyễn Thị Vỹ |
Kỳ Tiến |
|
|
115 |
Trần Thị Uyến |
1914 |
Kỳ Phong |
|
116 117 118 119 120 121 122 123 124 |
Nguyễn Thị Uẩn Nguyễn Thị Bƣu Nguyễn Thị Duy Dƣơng Thị Dỵ Đặng Thị Đang Dƣơng Thị Em Nguyễn Thị Em Lê Thị Hanh Nguyễn Thị Hạp |
1898 1920 1925 1928 1909 1916 1929 1914 1882 |
Kỳ Phong* Kỳ Ninh Kỳ Ninh Kỳ Phong Thị trấn K.Anh Kỳ Văn Kỳ Giang Kỳ Sơn Kỳ Châu |
|
125 126 127 128 129 130 131 132 133 134 135 136 137 138 |
Ngô Thị Hiệp Nguyễn Thị Hồng Lê Thị Kế Lê Thị Kiềm Hà Thị Líp Hoàng Thị Mịnh Nguyễn Thị Nghe Nguyễn Thị Phư Nguyễn Thị Thắng Nguyễn Thị Tiu Trần Thị Trớt Hoàng Thị Trường Đinh Thị Tùy Phạm Thị Tư |
1901 1920 1907 1916 1914 1910 1905 1922 1934 1932 1915 1908 1922 1919 |
Kỳ Phong Kỳ Ninh Kỳ Hợp Kỳ Thọ Kỳ Hải Kỳ Sơn Kỳ Trinh Kỳ Xuân Kỳ Thọ Kỳ Thọ Kỳ Trinh Kỳ Châu Kỳ Văn Kỳ Ninh |
Chương 3
Các điểm sáng về giáo dục
1. Giáo dục thời phong kiến đến 1945
- Do hoàn cảnh địa lý và lịch sử, việc học hành của ngƣời dân Kỳ Anh xƣa không đƣợc phát triển nhƣ các huyện khác trong tỉnh và cả nƣớc. Ngƣời dân chủ yếu đều mù chữ.
Mặc dầu từ thế kỷ XV, XVI đã xuất hiện các nhà đại khoa đỗ đạt thành danh, nhƣng đó cũng chỉ là những trƣờng hợp đặc biệt, không tiêu biểu cho nền học vấn của địa phƣơng. Đầu thế kỷ XVI, theo lời truyền đã có trƣờng học do “Quan trạng Thần Đầu” Lê Quảng Chí mở nhƣng cũng không ghi lại gì nhiều trong sử sách.
Phải đến sau cuộc nội chiến Trịnh – Nguyễn (1627 - 1672) vùng Nam Hà (nam sông Lam) đƣợc ổn định, trấn lỵ Dinh Cầu đƣợc thiết lập mới tạo cơ hội cho vùng biên viễn này đƣợc học chữ.
Các trấn quan, cả văn thần, võ tƣớng, nhiều ngƣời là nhà khoa bảng, nhà văn hóa có tiếng tăm trong nƣớc, mong muốn thi hành trách nhiệm giáo hóa của mình.
Trƣờng học, trƣờng thi của trấn đều đặt ở lỵ sở Lam thành (chợ Tràng). Nhƣng ở Dinh Cầu ít ra cũng đã có trƣờng tiểu tập, trung tập cho quan lại và con cái của họ.
Thỉnh thoảng ở trấn lại có cuộc ứng điểm cống sĩ.
Năm Giáp Ngọ (1774), niên hiệu Cảnh Hƣng thứ 35, La sơn phu tử Nguyễn Thiếp đi dự “ứng điểm” tại trấn sở. Qua núi Bàn Độ thách nhau làm thơ lấy vần “bàn”, hẹn đi vài chục bƣớc phải xong. Bài của Phu tử đƣợc coi là xuất sắc nhất.
Không khí văn chƣơng, văn hóa ở trấn lỵ lan tỏa ra khắp quanh vùng. Các nho sĩ bắt đầu mở trƣờng dạy học ở các làng xã. Các nhà giàu, có điều kiện mời các thầy về nhà cho con học, theo đòi bút nghiên. Tuy nhiên đến đầu thế kỷ XIX. Phan Huy Chú (1782 - 1840) vẫn nhận xét: “Về văn học, thi cử thì huyện Thạch Hà nhiều hơn, huyện Kỳ Hoa chỉ có một phần”.
Mặc dầu từ đời Lê, Mạc huyện kỳ Anh đã có 1 vị đỗ Bảng nhãn (Lê Quảng Chí) và 2 vị đỗ Đồng tiến sĩ: Lê Quảng Ý, Phùng Trí Tri1), nhƣng đến cuối đời Nguyễn Kỳ Anh mới thật sự có nền học vấn.
Nổi lên trƣớc tiên là nhà họ Lê ở Mỹ Lũ (Kỳ Văn). Họ này nguyên là dòng dõi võ tƣớng ở làng Đình Bảng - Bắc Ninh, vào Kỳ Anh làm quan võ (đời thứ tƣ, thứ năm có ngƣời đƣợc phong tƣớc bá, tƣớc tử). Từ đây con cháu mới học hành, thi cử, đến năm Minh Mệnh thứ 18 (1817), khoa Đinh Dậu mới có ngƣời đỗ tú tài đầu tiên. Dƣới các triều Thiệu Trị, Tự Đức dòng họ này mới phát triển rực rỡ cả khoa và hoạn. Lê Đức đỗ Phó bảng, em ruột ông là Lê Doãn đỗ Cử nhân và Lê Tuấn đỗ Hoàng giáp. Trƣớc sau họ Lê có hai vị đại khoa, bốn cử nhân (Lê Doãn, Lê Vĩ Cán, Lê Hoài Tâm, Lê Nhất Hoàn), ba tú tài (Lê Lạng, Lê Nguyên Tƣ, Lê Lai Nhự). Không chỉ khoa cử, họ Lê còn có nhiều ngƣời xuất sắc về văn chƣơng.
Cùng thời với họ Lê ở Mỹ Lũ, có họ Nguyễn ở Phú Thƣợng, họ Trần ở Long Trì, họ Nguyễn Trinh ở Trung Giáp, họ Phan Công ở Nhân Canh, họ Nguyễn Tiến ở Tuần Tƣợng, họ Lê ở Xuân Cẩm, họ Dƣơng Xuân ở Xuân Cẩm và Nhƣ Nhật... và một số họ khác đều có ngƣời học hành thành đạt.
Họ Nguyễn ở Phú Thƣợng có hai ngƣời con đỗ cử nhân (Nguyễn Nhu, Nguyễn Trọng Thƣờng), họ Trần Công ở Long Trì có Trần Công Thƣởng đỗ cử nhân, họ Nguyễn Trinh ở Trung Giáp có hai ngƣời đỗ cử nhân (Nguyễn Văn Vỹ, Nguyễn Trinh Mai), và hai tú tài (Nguyễn Trung Lý, Nguyễn Trinh Túc), họ Nguyễn Tiến ở Tuần Tƣợng có Nguyễn Tiến Kiêm (tức Kỷ) đỗ Phó bảng, họ Phan Công ở Nhân Canh có Phan Công Kế trúng đầu xứ...
Không chỉ có mấy gia tộc trên, đến đầu thế kỷ này, phần lớn làng, xã đều có trƣờng, lớp dạy chữ Hán, một bộ phận con em nông dân, ngƣ dân ít nhiều đã biết chữ... Từ đầu triều Nguyễn ở phủ lỵ Hà Thanh (sau là Kỳ Hoa, kỳ Anh) có trƣờng huyện, đứng đầu là một huấn đạo, kiêm việc giảng dạy các lớp trung tập, đại tập và chọn ngƣời đi thi hương... Trƣờng đặt phía nam huyện thành ở địa phận xã Nhân Canh (Kỳ Châu).
Cuối thế kỷ XIX, chữ quốc ngữ bắt đầu xâm nhập vào Hà Tĩnh. Nhƣng từ đó cho đến khi các khoa thi hƣơng bị bãi bỏ (1920) và cả đến trƣớc cách mạng 1945, một số lớp Hán học ở nông thôn do các ông thầy đồ mở vẫn song song tồn tại bên cạnh hệ thống giáo dục Pháp - Việt. Ở các trƣờng công cũng có giờ dạy chữ Hán hàng tuần...
Trong những năm 1920... bắt đầu có các trƣờng công dạy chữ quốc ngữ và chữ Pháp. Khoảng 1925 cả huyện Kỳ Anh có 2 trƣờng sơ cấp (2 đến 3 lớp), và 8 trƣờng làng học chữ quốc ngữ. Năm học 1930 - 1931 có 2 trƣờng sơ đẳng ở huyện lỵ: Trƣờng Kỳ Anh và tại Tuần Tƣợng – Trƣờng Cấp Tuần, 8 trƣờng dự bị và 12 trƣờng làng.
- Trƣờng Kỳ Anh có 4 lớp: Đồng ấu, dự bị, sơ đẳng, trung đẳng. (Trung đẳng tƣơng đƣơng lớp nhì đệ nhất).
- Trƣờng Cấp Tuần có 3 lớp: Đồng ấu, dự bị, sơ đẳng.
Mỗi trƣờng có 1 đốc học, 1 trợ giáo và 1 phụ giáo chữ Hán.
- 8 trƣờng dự bị là Đan Du, Mỹ Lũ (tổng Hà Trung), Trƣờng Lại, Quyền Hành (tổng Hoằng Lệ), Đậu Vĩnh, Sơn Luật (tổng Đậu Chữ), Phú Dẫn (tổng Cấp Dẫn), Vọng Liệu (tổng Vọng Liệu). Mỗi trƣờng có 2 lớp đồng ấu và dự bị, có 1 tạm giáo dạy chữ Pháp, chữ quốc ngữ, 1 phụ giáo dạy chữ Hán.(Các trƣờng Đan Du, Mỹ Lũ, Phú Dẫn, Trƣờng Lãi, Đậu Vĩnh, Sơn Luật thì tạm giáo dạy luôn cả hai chữ)
- Các trƣờng làng (12 trƣờng) phải cách trƣờng công từ 1-2 km trở lên mới đƣợc phép mở. Các trƣờng làng có thể đặt ở nhà riêng hoặc đình làng, thầy giáo do xã mời, học phí do dân chi cấp. Trƣờng tƣ các xã phải dạy theo chƣơng trình học nhƣ trƣờng công, hàng năm đƣợc chon học sinh đi thi sơ học yếu lƣợc. Tổng số học sinh cả huyện thời kỳ này chỉ có 544 em.
Đến năm học 1941-1942, huyện Kỳ Anh có một trƣờng tiểu học công ở huyện lỵ, (có 2 giáo viên và 69 học sinh), một trƣờng sơ học công có 2 giáo viên và 72 học sinh, 7 trƣờng sơ học liên hƣơng (có 7 giáo viên và 256 học sinh), 1 trƣờng sơ học tƣ (có 1 giáo viên và 24 học sinh), và 9 lớp học gia đình (có 9 giáo viên và 106 học sinh).
Nhƣ vậy, toàn huyện chỉ có 19 trƣờng học với 21 giáo viên và 527 học sinh cấp tiểu học trong 97 làng, xã với số dân 49.124 ngƣời, cứ hơn 5 làng mới có 1 trƣờng sơ, tiểu học, hơn 93 ngƣời dân có 1 ngƣời đi học2.
Cũng nhƣ toàn tỉnh và cả nƣớc, sự nghiệp giáo dục ở Kỳ Anh đƣợc phát triển mạnh mẽ sau Cách mạng tháng Tám 1945.
1. Truyền thuyết và thần phả ở địa phƣơng nói Phùng Trí Tri đỗ Hoàng giáp và thƣờng gọi “Ông hoàng Liệt Thƣợng” - theo Đăng khoa dị thảo của Phan Huy Ôn
2. Theo các tài liệu lƣu trữ của chính quyền Pháp
2. Giáo dục thời đại mới từ 1945 - 2015
Cùng việc khai giảng năm học mới, đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám trong cả nƣớc, tháng 9-1945, một phong trào “Diệt giăc dốt” với những lớp bình dân học vụ đƣợc mở rộng từ thành thị đến nông thôn.
Ở tỉnh có Ty bình dân học vụ, ở huyện, xã đều có Ban bình dân học vụ. Ngày 3-11-1945 tỉnh tổ chức “ngày khuyến học”, vận động nhân dân xây dựng quỹ bình dân học vụ. Đến tháng 12-1945, toàn tỉnh có khoảng 2.000 lớp học vào buổi trƣa, buổi tối, với 51.000 học viên. Riêng ở Kỳ Anh có khoảng 150 lớp với gần 2000 học viên. Khắp các xóm làng nam nữ, gà trẻ háo hức tham gia.
Trong chiến dịch “hai năm diệt dốt” 12/1946 - 12/1048 Kỳ Anh đã có 7672 ngƣời thoát nạn mù chữ, đƣợc công nhận là huyện hoàn thành xóa nạn mù chữ đợt 1 trong toàn tỉnh, góp phần để Hà Tĩnh đƣợc công nhận là tỉnh hoàn thành xóa nạn mù chữ đầu tiên trong cả nƣớc và đƣợc tặng Huân chƣơng độc lập hạng nhì.
Cùng với ngành giáo dục bình dân, một thành tựu quan trọng nữa của Kỳ Anh là ngành giáo dục sơ học, tiểu học cũng bắt đầu đƣợc xây dựng ngay sau ngày cách mạng thành công.
Năm 1948, toàn huyện có 1014 học sinh tiểu học, năm 1949 có 1030 học sinh tiểu học và Trƣờng Liên Việt Kỳ Anh (tƣơng đƣơng cấp II) khai giảng có 165 học sinh.
Đến 1956 các xã đều đã có trƣờng cấp I với 2300 học sinh và trƣờng cấp II Kỳ Anh chính thức thành lập với 91 học sinh
Từ đó số học sinh tăng không ngừng. Năm 1960, toàn huyện có 4827 học sinh cấp I, 447 hoc sinh cấp II.
Năm 1966 toàn huyện có 4827 học sinh cấp I, 2434 học sinh cấp II.
Trƣờng cấp III Kỳ Anh khai giảng khóa đầu tiên khóa 1965 - 1966 với 141 học sinh.
Hai mƣơi năm sau (1986), số học sin cấp I là 18.717 em, cấp II là 7078 em, cấp III là 1840 em.
Từ năm 1991, ngành học phổ thông đổi thành 3 cấp: tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông. Số học sinh tiểu học từ 19.986 hs năm 1991 tăng lên 23.200 năm 1994. Trong thời gian đó học sinh Trung học cơ sở từ 5.875 tăng lên 7.100 học sinh và học sinh trung học của hai trƣờng (Kỳ Anh và Nguyễn Huệ) từ 594 tăng lên 1009.
Ngành mẫu giáo cũng phát triển tốt. Năm 1991 cả huyện có 105 nhà trẻ, với 3050 cháu, và 6584 cháu vào các lớp mẫu giáo. Đến năm 1994 số nhà trẻ là 140 với 3000 cháu và số cháu vào mẫu giáo là 7600.
Nhƣ vậy, không kể ngành mẫu giáo và cấp trung học (cấp III) trƣớc 1966 chƣa có, riêng học sinh cấp trung học cơ sở (cấp II) số học sinh năm 1994 so với năm 1949 tăng 43 lần, cấp tiểu học (cấp I) năm 1994 so với 1949 tăng 22,5 lần, và 44 lần so với năm 1942 dƣới thời Pháp thuộc3.
Hàng năm có khoảng 200 - 300 hoc sinh tốt nghiệp trung học thì có 20 - 50 em vào các trƣờng đại học và trung học chuyện nghiệp.
Đến nay toàn huyện đã có hàng nghìn ngƣời có trình độ đại học trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế, văn hóa, quốc phòng... ở địa phƣơng và trong cả nƣớc. Trong đó có nhiều ngƣời đỗ đạt cao. Tiến sĩ, Tiến sĩ khoa học, Phó giáo sƣ, Giáo sƣ...
Đặc biệt Trƣờng phổ thông cơ sở Kỳ Tân đƣợc phong danh hiệu Anh hùng trong thời kỳ đổi mới, năm 2000. Đấy cũng là niềm tự hào của giáo dục Kỳ Anh.
“3”. Theo tài liệu của UBND Kỳ Anh
2.1 Trƣờng THPT Kỳ Anh - Quá trình trưởng thành
Thành lập tháng 9-1965 đến 2015 đúng 50 năm.
Khai giảng khóa đầu tiên 1965-1966, ở làng Kim Tiến, sau chuyển đến làng Tân Giang, Tân Long, xã Kỳ Giang do thầy Lê Văn Khánh làm hiệu trƣởng. Lớp học đƣợc bố trí trong các lán giữa hai làng. Ban đầu trƣờng chỉ có 2 lớp tám với 100 học sinh mới tuyển và một lớp chín gồm 41 học sinh chuyển từ Cẩm Xuyên về. Giáo viên chỉ có 7 ngƣời .
Thầy Lê Văn Khánh, thầy Lê Xuân Thế, thầy Hoàng Thám, thầy Phùng Văn Mỹ, thầy Trần Ninh, thầy Dƣơng Thìn, thầy Cung Lê Ánh, là những ngƣời thầy mở ra cánh cửa khai sáng cho nền giáo dục bậc phổ thông trung học của huyện Kỳ Anh và đã đào tạo cho đất nƣớc nhiều nhân tài trong mọi lĩnh vực.
Niên khóa thứ hai 1966 - 1967, đƣợc tuyển thêm 3 lớp tám, nâng tổng số lên 6 lớp nên trƣờng chuyển về xã Kỳ Tiến và Kỳ Xuân, 4 lán học ở Kỳ Tiến: 2 lán ở xóm Quyết Tiến, 1 lán ở xóm Tân An, 1 lán ở xóm Kim Tiến...
Dù phải dạy và học dƣới những lán tranh tre nứa, dƣới tiếng gầm rú của máy bay địch và muôn vàn khó khăn gian khổ, thiếu thốn nhƣng bằng quyết tâm và nghị lực, thầy và trò đã vƣợt qua tất cả đƣa trƣờng ngày càng phát triển đi lên...
Khóa học 1970 - 1971, trƣờng chuyển về làng Vần Xá (Xã Xá) xã Kỳ Văn, vẫn là những mái nhà tranh tre lá, nhƣng số học sinh và giáo viên tăng dần.
Khóa học 1971-1972 kết thúc, Trƣờng cấp 3 Kỳ Anh chia làm hai, thành lập Trƣờng cấp 3 Nguyễn Huệ theo quyết định số 2127QĐ/UB ngày 31 tháng 7 năm 1972 của UBHC tỉnh Hà Tĩnh.
Kết thúc năm học 1972 - 1973, Thầy Lê Văn Khánh đƣợc phân công chuyển đi làm hiệu trƣởng những trƣờng khác
Năm học 1973-1974, thầy Nguyễn Trinh Thuyên thay thầy Lê Văn Khánh làm hiệu trƣởng trƣờng cấp 3 Kỳ Anh đến năm 1997 khi về nghỉ hƣu.
Năm 1977, trƣờng cấp 3 Kỳ Anh chuyển về Cồn Cum, xã Kỳ Hƣng cho đến ngày nay (là phƣờng Sông Trí, thị xã Kỳ Anh).
Năm mƣơi năm xây dựng và trƣởng thành, vƣợt qua muôn vàn khó khăn, thiếu thốn ban đầu, dƣới sự quan tâm của chính quyền các cấp, sự lãnh đạo năng động và sáng tạo của 5 đời hiệu trƣởng, trƣờng cấp 3 Kỳ Anh (nay là trƣờng THPT Kỳ Anh) đã phát triển vƣợt bậc, toàn diện, đóng góp cho đất nƣớc, quê hƣơng rất nhiều những công dân ƣu tú. Trong số đó có 43 GS, PGS. TS, 980 Thạc sỹ, 1236 Y, Bác sĩ, 72 thầy thuốc ƣu tú, 48 nghệ sĩ ƣu tú...
Hiệu trưởng Trƣờng THPT Kỳ Anh đến 2015.
- Thầy Lê Văn Khánh từ năm: 1965 – 1973
- Thầy Nguyễn Trinh Thuyên: 1973 – 1997
- Thầy Nguyễn Đình Sòng: 1997 – 2001
- Thầy Trần Đắc Thƣợc: 2001 – 2008
- Cô Nguyễn Thị Lệ Thủy: 2008 – nay
2.2 Trƣờng THPT Nguyễn Huệ
Trƣờng THPT Nguyễn Huệ huyện Kỳ Anh tỉnh Hà Tĩnh Đƣợc thành lập theo quyết định số 2127QĐ/UB ngày 31 tháng 7 năm 1972 của UBHC tỉnh Hà Tĩnh.
Ngày 15 tháng 10 năm 1972 ngày khai giảng năm học đầu tiên tại thôn Hoàng Diệu xã Kỳ Tiến. Nơi đây có đủ điều kiện để một trƣờng học vừa thoáng rộng vừa an toàn cho học sinh học tập trong thời chiến. Thầy giáo Trần Mậu Chƣớc đƣợc Ty giáo dục Hà Tĩnh cử về làm hiệu trƣởng, gần 200 học sinh, hội đồng giáo dục có 17 thầy cô giáo, chi bộ có 6 Đảng viên. Mới đƣợc một năm thành lập thầy giáo Trần Mậu Chƣớc đƣợc Ty giáo dục điều động nhận công tác mới; Thầy Dƣơng Ngô đƣợc cử làm hiệu trƣởng nhà trƣờng, trƣờng lại phải chia tay với thôn Hoàng Diệu để về mảnh đất Lòi Hạ - Trần Phú xã Kỳ Tiến dựng cơ ngơi mới.
Từ 1973 đến năm 1993, suốt hai mƣơi năm, thầy trò biết bao công sức để xây dựng đƣợc ngôi trƣờng khang trang, những dãy phòng học ngày thêm mới, thêm tƣơi với con đường hơn 400m từ đƣờng chính vào trƣờng, dãy hồ cá, vƣờn cây,… là những kỷ niệm của bao thế hệ thầy trò, ngôi trƣờng bình yên dƣới những hàng Xà cừ tỏa bóng.
Năm 1989 thầy Dƣơng Ngô đƣợc nghỉ theo chế độ, thầy giáo Nguyễn Tiến Chƣởng Hiệu trƣởng nhà trƣờng… Rồi lần nữa thầy trò lại chuyển trƣờng đến địa điểm để đáp ứng nhu cầu học tập và yêu cầu của xã hội.
Ngày 05 tháng 9 năm 1993 ngày khai giảng đầu tiên của trƣờng ở vị trí mới tại trung tâm thị tứ Voi bây giờ, bao vất vả bộn bề thầy trò phải gồng mình lên để gắng theo kịp đàn chị đàn anh về mọi mặt.
Đến nay trƣờng gần trọn 40 năm, gần 20 năm ở mảnh đất này, dƣới chân núi Tƣợng Lĩnh (núi Voi) trƣờng đã làm nên một địa chỉ tin cậy cho bao thế hệ học trò, phụ huynh Bắc Kỳ Anh và Nam Cẩm Xuyên. Từ mái trƣờng này, bao lớp học trò đã trƣởng thành và ra đi, vào các trƣờng đại học, Trung tâm đào tạo... cống hiến cho quê hƣơng, đất nƣớc những nhà khoa học và chuyên gia trong nhiều lĩnh vực.
Hiệu trƣởng Trƣờng THPT Nguyễn Huệ
- Thầy Trần Mậu Chƣớc: 1972 – 1973
- Thầy Dƣơng Ngô: 1973 – 1989
- Thầy Nguyễn Tiến Chƣởng: 1989 – 2011
- Thầy Nguyễn Văn Nguyên: 2011– 2020
- Thầy Đoàn Trọng Hoàng: 2021 – 12/ 2021
- Thầy Dương Đình Thọ : 2022...
Ngoài hai trƣờng cấp III (THPT) đầu đàn trên, hiện nay Kỳ Anh đã có thêm ba trƣờng THPT mới thành lập là:
- Trường THPT Lê Quảng Chí
Trƣờng THPT Lê Quảng chí đƣợc thành lập theo quyết định số 72/2004 QĐ-UB-NV ngày 02/7/2004 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, địa điểm trƣờng đóng xã: Kỳ Long huyện Kỳ Anh tỉnh Hà Tĩnh hệ công lập, đƣợc mang tên của "nhà tiên sinh" học cao hiểu rộng là một vinh dự lớn cho thầy và trò trƣờng THPT Lê Quảng Chí, ông là tấm guơng khắc phục khó khăn với tinh thần vƣơn lên chiếm lĩnh tri thức nhân loại. Đó chính là truyền thống "Đất nghèo nuôi chữ của quê nhà". Tuy thành lập sau các trƣờng đàn anh nhƣng trƣờng đã đào tạo đƣợc một đội ngũ học sinh thành công trong nhiều lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, văn hóa, góp phần xây dựng quê hƣơng và đất nƣớc.
Thành lập năm 2004
Hiệu trưởng qua các thời kỳ:
Thầy Nguyễn Tiến Hòa: 2004 - 2019
Thầy Nguyễn Anh Tuấn : 2019…
- Trường THPT Kỳ Lâm
Trƣờng THPT Kỳ Lâm là một trƣờng miền núi nằm ở xã Kỳ Lâm, phía tây nam huyện Kỳ Anh. Trƣờng thành lập từ năm 2000. Hiện nay trƣờng THPT Kỳ Lâm có 20 lớp, gần 700 học sinh và 37 cán bộ giáo viên. Hầu hết tất cả các em học sinh đều chăm ngoan, có ý thức đạo đức tốt. Đội ngũ cán bộ giáo viên nhiệt tình trong công tác giáo dục của nhà trƣờng.
Sau 22 năm hình thành và phát triển, trƣờng có 3 học sinh giỏi cấp Quốc gia, nhiều em đã đƣợc chọn vào đội dự tuyển thi học sinh giỏi Quốc gia của tỉnh, và rất nhiều học sinh đạt giải cao trong các kỳ thi chọn học sinh giỏi của tỉnh.
Hiệu trƣởng qua các thời kỳ:
Thầy Nguyễn Quốc Oanh: 2000 – 2006
Thầy Nguyễn Tiến Hòa: 2004- 2006 Thầy Hoàng Nhật Vinh: 2006 – 2014
Thầy Võ Tiến Hùng: 2014 - nay
- Trường THPT Nguyễn Thị Bích Châu
Trƣờng THPT Nguyễn Thị Bích Châu đ ƣợc thành lập 2001,tiền thân là trƣờng bán công chuyển sang công lập.
Sau 20 năm tr ƣởng thành từ những khó khăn ban đầu đã
vƣơn lên và thu đƣợc nhiều thành tích trong dạy và học, đào tạo đƣợc rất nhiều học sinh xuất sắc thành công trong nhiều lĩnh vực, đang phục vụ trên mọi miền đất nước.
Hiệu trƣởng qua các thời kỳ:
Thầy Phan Tuý : 2001 - 2011
Thầy Dƣơng Đình Thọ: 2011 - 2021
Thầy Đoàn Trọng Hoàng: 2022….
3. Những người thành đạt từ các trường Kỳ Anh
Sau Cách mạng tháng Tám thành công, nhất là sau khi Trƣờng cấp III Kỳ Anh và Trƣờng cấp III Nguyễn Huệ đƣợc thành lập, hai ngôi trƣờng này đã trở thành cái nôi, ƣơm mầm cho hàng ngàn con em Kỳ Anh trong thời đại mới bƣớc chân vào các trƣờng đại học, các Trung tâm đào tạo nổi tiếng trong nƣớc và thế giới và nhiều ngƣời thành danh, cống hiến cho đất nƣớc những tinh hoa trong mọi lĩnh vực: Khoa học, giáo dục, y tế, kinh tế, quốc phòng, văn học nghệ thuật...
Nổi bật trong đó, đến nay có thể kể đến:
- GS.TS Đường Hồng Đật,
Quê Kỳ Phong - Nguyên thứ trƣởng bộ nông nghiệp, tác giả của 13 cuốn sách nghiên cứu về sâu bệnh lúa và cây trồng, tổng biên tập các bộ sách nghiên cứu về bảo vệ thực vật Chổ ở hiện nay: Hà Nội.
- PGS.TS Phan Thế Việt,
Quê Kỳ Văn - cán bộ Viện KHVN, là nhà sinh vật học, tác giả và chủ biên nhiều tác phẩm về sinh học, đƣợc xuất bản ở trong và ngoài nƣớc.
Chỗ ở hiện nay: Hà Nội
- Họa sĩ - nhà thơ Trần Hữu Chất (Hồng Chinh Hiền),
Sinh 10-7-1933. Đại học mỹ thuật Việt Nam. Quê Kỳ Châu. Ngoài các tác phẩm hội họa, còn là tác giả của các tập thơ đƣợc quần chúng yêu thích: Đá trắng, Trƣớc chân trời tiền duyên... Chỗ ở hiện nay: Số nhà 270, tổ 21, Phƣờng Phƣơng Liên, quận Đống Đa, Hà Nội
- Dịch giả Lê Xuân Giang
Sinh: Quê Kỳ Xuân. Là nhà dịch thuật văn học với nhiều sách dịch nổi tiếng: Những ngôi sao E-ghe, Hai mƣơi giờ, Bản anh hùng ca Các Pát, Nê-Rô, Nhà thờ bạo chúa...
Chỗ ở hiện nay: Hà Nội
- PGS.TS- Lê Quốc Hán,
Sinh ngày 16-4-1949. Quê Kỳ Châu - Giảng viên đại học, nhà toán học, nhà thơ. Trƣởng bộ môn Đại số & Lý thuyết số, khoa toán, trƣờng Đại học Vinh.
Bảo vệ tiến sĩ tại Đại học Vinh, chuyên ngành toán - lý năm 1996. Đƣợc công nhận chức danh Phó giáo sƣ năm 2003 Chổ ở hiện nay: Khối 6, Bến Thủy - TP.Vinh - Nghệ An.
- PGS.TS Lê Khánh Tuấn
Sinh 8-8-1957. Quê Kỳ Hƣng - phó vụ trƣởng Vụ kế hoạch - Tài chính - Bộ GDĐT.Chuyên ngành Lý luận và lịch sử Sƣ phạm học - Trƣờng Đại học sƣ phạm Hà Nội, cấp bằng 2005, đƣợc công nhận chức danh Phó giáo sƣ năm 2010.
Chổ ở Hà Nôi: Số 7, Khu quy hoạc Liên cơ quan, Mỹ Đình, Từ Liêm. (hiện nay: Quận 7 - TP.HCM)
- PGS.TS Lê Công Sự
Sinh 1959. Quê Kỳ Phƣơng, Kỳ Anh – Gv cao cấp Đại học Hà Nội. Tốt nghiệp cử nhân Triết học - Đại học Tổng hợp quốc gia Leningrad - Cộng hòa Liên bang Nga năm 1985, Tốt nghiệp Thạc sĩ triết học năm 1996, Tiến sĩ năm 2004, đƣợc phong hàm Phó giáo sƣ năm 2014.
Chổ ở hiện nay: Quận Hoàng Mai - Hà Nội
- PGS.TS.BS Trần Đình Hà
Sinh ngày 25-01-1959. Quê Kỳ Châu. Bác sĩ tại Trung tâm y học hạt nhân & ung biếu. Bệnh viện Bạch Mai - Hà Nội Bảo vệ tiến sĩ 23-5-1996 tại Hungari, đƣợc công nhận chức danh Phó giáo sƣ ngày 18-11-2009
Chỗ ở hiện nay: Hà Nội
- PGS.TS Nguyễn Thị Hương
Sinh ngày 5-2-1958. Quê Kỳ Bắc. Phó viện trƣởng Viện văn hóa và phát triễn, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia. Bảo vệ tiến sỹ chuyên ngành Triết học năm 2001, công nhận chức danh Phó giáo sƣ năm 2010.
Chổ ở hiện nay: số nhà 12, ngõ 76, đƣờng Trần Tử Bình, P. Nghĩa Tân, Q. Cầu Giấy - Hà Nội
- PGS.TS Nguyễn Thị Thương Huyền
Sinh ngày 22-5-1963. Quê Kỳ Tiến – Trƣởng khoa thuế, trƣởng bộ môn nghiệp vụ hải quan, Học viện Tài Chính tài chính Hà Nội. Bảo vệ tiến sĩ chuyên ngành Luật học 2003.Công nhận chức danh Phó giáo sƣ 2009.
Chổ ở hiện nay: 11/121 ngõ Thái Thịnh 1, phƣờng Thịnh Quang, Quận Đống Đa- Hà Nội
- GS. TS luật Trần Ngọc Đường
Sinh 25-7-1945, quê Kỳ Tân. Chuyên gia cao cấp Văn phòng quốc hội. Học chuyên ngành Luật học, tại Viện hàn lâm Khoa học xã hội, trực thuộc Ban chấp hành trung ƣơng Đảng cộng sản liên Xô, cấp bằng 1988. Công nhận chức danh giáo sƣ 2005
Chổ ở hiện nay: ngõ 217 đƣờng Đê La Thành, Quận Đống Đa-Hà Nội
- PGS.TS Lê Văn Giáo
Sinh ngày 30-8-1955, Trƣởng khoa, chuyên nghành vật lý, Đại học sƣ phạm, Đại học Huế. Bảo vệ tiến sỹ tại Đại học Vinh, cấp bằng 2001. Công nhận Phó giáo sƣ 2006
Chỗ ở hiện nay: số 16 Bến Nghé, P. Phú Hội, TP. Huế
- PGS.TS Trần Thị Thu Hương
Sinh 2-11-1957. Quê xã Kỳ Phong. Phó viện trƣởng Viện lịch sử Đảng. Tổng biên tập Tạp chí lịch sử Đảng, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh. Bảo vệ tiến sĩ chuyên ngành lịch sử năm 2000. Đƣợc công nhận chức danh Phó giáo sƣ năm 2005. Chỗ ở hiện nay: C4, TT 14, Đô thị Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội.
- PGS.TS Dương Xuân Sơn
Sinh ngày 27-12-1954. Quê Kỳ Hƣng. Phó chủ nhiệm khoa Báo chí và Truyền thông, Trƣờng đại học khoa học xã hội và nhân văn - Đại học quốc gia Hà Nội. Tốt nghiệp chuyên ngành báo chí, trƣờng Đại học tổng hợp Minxco-Belarutxia. (thuộc Liên Xô) 1989, đƣợc công nhận chức danh Phó giáo sƣ năm 2003. Chỗ ở hiện nay: số 84, Khƣơng Trung, quận Thanh Xuân - Hà Nội
- PGS.TS Hoàng Minh Thảo
Sinh ngày 5-5-1958. Quê quán: Kỳ Bắc. Đại tá, Chủ nhiệm bộ môn lịch sử các học thuyết kinh tế, Cục khoa học Công nghệ và Môi trƣờng, Bộ quốc phòng.
Bảo vệ chuyên nghành kinh tế - Học viện chính trị 2007, đƣợc công nhận chức danh Phó giáo sƣ năm 2013. Chỗ ở hiện nay: số 16,B4, ngõ 8, đƣờng Ngô Quyền, Quang Trung, Hà Đông - Hà Nội.
- PGS.TS Lê Thị Dục Tú
Sinh ngày 27-11-1958, Quê quán: Kỳ Văn. Nghiên cứu viên chính tại Viện Văn học. Bảo vệ bằng ts năm 1994,tại Viện văn học - Bộ GDĐT 1994, đƣợc công nhận chức danh Phó giáo sƣ năm 2007.
Chổ ở hiện nay: số 39 Lý Thƣờng Kiệt - Hà Nội.
- PGS.TS Nguyễn Thanh Tuyền
Sinh ngày 15-11-1942. Quê quán: Kỳ Sơn - Kỳ Anh. Chuyên gia công nghệ chọn tạo giống lúa, nguyên Phó trƣởng Bộ môn sinh lý sinh hóa và chất lƣợng nông sản -Viện khoa học nông nghiệp Việt Nam. Năm cấp bằng ts 1995, công nhận Phó giáo sƣ 2003. Chỗ ở hiện nay: nhà A3, phòng 310, phƣờng Thanh Xuân Bắc, quận Thanh Xuân - Hà Nội
- Thiếu tướng Nguyễn Hồng Sinh
Sinh ngày 15-9-1953. Quê quán: Kỳ Thịnh. Phó cục trƣởng, Cục quân huấn, Bộ quốc phòng.
Trình độ chuyên môn: Cử nhân, chuyên ngành quân sự, đơn vị công tác: Cục quân huấn.Chổ ở hiện nay: số 31-172/7, Lạc Long Quân, Tây Hồ, Hà Nội.
- Thiếu tướng Nguyễn Duy Bi
Sinh 25-12-1938. Quê quán: Kỳ Thƣ. Cục trƣởng Cục tác chiến điện tử, Bộ quốc phòng. Đào tạo: Trường đại học phòng không Odesstsa (1971-1976), Học viện Quân sự cao cấp Vorosilov - Moscow (1982-1984) Chỗ ở hiện nay: số 79, Tô Vĩnh Diện, Khƣơng Trung, Thanh Xuân - Hà Nội
- Đại tá. TS Trần Văn Ấn
Sinh 26.05.1948. Quê Kỳ Bắc - Tốt nghiệp hạng ƣu Trƣờng Đại học kỉ sƣ HKDD Kiev, Ucrane - Liên Xô cũ (nay là Học viện HKDD), nghiên cứu sinh tại Ba Lan. Nguyên GĐKT sân bay quân sự A42 Bộ quốc phòng, TGĐ Cty LD sửa chữa máy bay Việt - Nga. Chỗ ở hiện nay: 277/62 XVNT, P. 15, Q. Bình Thạnh, TP.HCM
- TS Bùi Thanh Bình
Sinh ngày 2-2-1954.Quê Kỳ Tiến, Chủ nhiệm khoa, học viện lục quân Đà lạt, Bảo vệ luận án chuyên ngành quân sự, cấp bằng 1994, công nhận Phó giáo sƣ 2002
Chỗ ở hiện nay: Số 30 Lý Thƣờng Kiệt, phƣờng 9, TP. Đà Lạt, Lâm Đồng.
Kỳ Anh cũng đóng góp cho đất nước 4 Tổng biên tập báo chí đến thời điểm hiện nay:
- Thiếu tướng, nhà báo Trần Công Mân
Sinh 20-10-1925. Quê Kỳ Thƣ. Thiếu tƣớng Trần Công Mân công tác tại Báo Quân đội nhân dân 25 năm (từ năm 1964 đến 1989), trong đó có 15 năm làm Phó tổng biên tập (từ năm 1964 đến 1979) và 10 năm làm Tổng biên tập (từ năm 1979 đến 1989).
Quá trình công tác: Tháng 11-1945, phụ trách chính trị trong lực lƣợng Giải phóng quân Hà Tĩnh. Tháng 12-1947, chính trị viên Tiểu đoàn 675, thuộc Đại đoàn 351, rồi Tỉnh đội phó Tỉnh đội Thanh Hóa. Tháng 6-1952, Chính trị viên Trung đoàn 675 thuộc Sƣ đoàn 351. Chính trị viên của Trung đoàn Công binh 151 thuộc Sƣ đoàn 351. Chủ nhiệm Chính trị Cục Công binh Quân đội nhân dân Việt Nam từ tháng 11-1955. Tháng 9-1959, làm Chính ủy Trƣờng Sĩ quan Công binh... Mãi đến cuối năm 1964, trở thành nhà báo chuyên nghiệp khi trên có quyết định cử đồng chí về giữ chức Phó tổng biên tập tờ báo của Quân ủy Trung ƣơng và Bộ Quốc phòng. Từ năm 1979 đến 1989 là tổng biên tập.
Chỗ ở hiện nay: Hà Nội (đã mất)
- Trần Đình Việt
Sinh ngày 19-5-1947. Quê Kỳ Châu. Tốt nghiệp khoa Ngữ Văn, trƣờng Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1971. Sau khi tốt nghiệp về giảng dạy tại trƣờng Văn hóa thuộc Tổng cục Lâm nghiệp (1971-1975). Năm 1975 - 1997 làm Biên tập sách tại Nhà Xuất bản Khoa học xã hội thuộc Viện hàn lâm Khoa học xã hội và Nhân văn Việt Nam. Năm 1998 -2007 là Giám đốc-Tổng biên tập Nhà xuất bản Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh (Trực thuộc Thành ủy). Năm 2009 - 2013 là Tổng biên tập Tạp chí Ngƣời đô thị (Tổng hội Xây dựng Việt Nam). Hiện nay nghỉ hƣu.
Chỗ ở hiện nay: số 56, đƣờng 66, phƣờng Thảo Điền, quận Thủ Đức, TP.Hồ Chí Minh.
- Nhà báo, nhà thơ Dương Xuân Nam (Dƣơng Kỳ Anh),
Sinh năm 1948. Quê Kỳ Xuân - Tốt nghiệp khoa văn Đại học tổng hợp Hà Nội. Hội viên hội Nhà báo, hội viên Hội nhà văn Việt Nam, TBT báo Tiền Phong. Có tên trong danh sách Danh nhân văn hóa thế giới Khu vực Châu Á -Thái Bình Dƣơng. Ngƣời khai sinh các cuộc thi hoa hậu đầu tiên của Việt Nam sau 1975
Chổ ở hiện nay: Hà Nội
- Đại tá, Nhà báo Nguyễn Hòa Văn
Sinh năm 1956. Quê Kỳ Lợi. Nguyên Phó chủ nhiệm chính trị BĐBP, kiêm Tổng biên tập báo Biên phòng.
Đào tạo: Trƣờng sĩ quan biên phòng, Học viện chính trị quân sự, Đại học luật Hà Nội.
Chuyên môn: Luật gia, quản lý và biên tập báo chí. Có nhie u thành tích xua t sa c trong su nghiẹ p quản lý, bảo vẹ bie n giới quốc gia, su nghiệp báo chí. Đƣợc tặng thƣởng nhiều Huân-Huy chƣơng, bằng khen và chiến sĩ thi đua. Chỗ ở hiện nay: Linh Đàm, phƣờng Hoàng Liệt, Hoàng Mai, Hà Nội.
Ngoài những đại diện được nêu trên, còn nhiều chuyên gia trong các lĩnh vực kinh tế, khoa học kỷ thuật, quân sự, ngoại giao, văn học nghệ thuật... chúng tôi chưa có điều kiện thống kê đầy đủ.
Chương 4
Kỳ Anh - Vùng đất của các thi nhân
Chữ rằng: Nhân kiệt Địa Linh
Có Hoành Sơn, Bàn Độ mới dĩnh sinh anh tài
1. Văn học dân gian
Dù nằm trên đƣờng thiên lý Bắc - Nam, trên là rừng, dƣới là biển, Kỳ Anh xƣa gần nhƣ là một vùng khép kín, tách biệt. Nhƣng do sự biến động của lịch sử mà vùng đất này cũng dung nạp, bổ sung nhiều ngƣời từ mọi miền đến làm việc và ở lại sinh cơ lập nghiệp, nên văn hóa bản địa cũng có nhiều pha trộn, phong phú, và độc đáo.
Văn chƣơng dân gian còn lƣu lại khá nhiều trong nhân dân, nhất là lớp ngƣời cao tuổi và trong truyền thuyết, cao dao, tục ngữ, chuyện cổ tích, chuyện cƣời... mang đậm màu sắc địa phƣơng.
1.1 Truyện cổ tích, truyền thuyết, truyện cƣời...
- Câu chuyện cổ tích “Cuộc chiến tranh giữa núi và biển” là thiên thần thoại cổ kính, hiếm thấy ở Nghệ Tĩnh bây giờ. Không chỉ giải thích hiện tƣợng núi mọc ra biển ở vùng Kỳ Anh, mà phản ánh một thời lịch sử xa xƣa, vẽ lên bóng dáng con ngƣời ngây thơ, chất phác, hồn nhiên của xã hội nguyên thủy, qua hình ảnh sống động nhƣ ngƣời của giới tự nhiên đƣợc nhân cách hóa.
Cổ tích còn nhiều truyện hay: “Ngƣời con út hiếu thảo”, “Chàng trai đánh hổ cứu công chúa”, “Nàng dâu khôn ngoan”, “Ngƣời học trò trung trực”, “Chuyện trầu cau”, “Chuyện Liễu Hạnh công chúa”...”1”. Những truyện này không phải riêng ở Kỳ Anh, nhƣng bối cảnh trong truyện phù hợp nhiều với thiên nhiên và con ngƣời nơi đây. Nhƣ “Truyện trầu cau” chẳng hạn, bối cảnh là ngƣời sơn cƣớc, nhân vật không phải là những thƣ sinh với tên Tân, Lang, mà là ngƣời làm ruộng, đi săn, với những cái tên Trắng, Thơm, và nguyên nhân tấn bi kịch không phải do anh em hiểu lầm nhau, mà là do em liều mình cứu anh khi gặp hổ dữ... Chất nhân văn và trí tƣởng tƣợng ở đây cao hơn, lối kể lại mộc mạc, có đoạn vần và rất cổ. Truyện “Liễu Hạnh công chúa” cũng vậy, không chỉ là tín ngƣỡng mà còn phản ánh hiện tƣợng thiên nhiên. Trận đánh của bà chúa Liễu Hạnh với tám vị Kim Cƣơng làm một vùng núi tan hoang phải chăng nói về những trận bão khủng khiếp ở mảnh đất này.
- Truyền thuyết cũng còn khá nhiều, nhƣng chỉ còn lại những chuyện thời phong kiến gắn với các thần tích, nhƣ “Sự tích bà Bích Châu”, “Sự tích ông Hoàng Liệt Thƣợng” (Phùng Trí Tri), “Chuyện Thánh Tổ, Thánh Tiên” (nói về đền hai ông cháu Phạm Tiêm, Phạm Hoàng)...
Bên cạnh những truyền thuyết lịch sử này, còn có những truyền thuyết hoang đƣờng, nhƣng có tác phẩm sâu sắc.
“1” Xem truyện dân gian Nghệ Tĩnh. Tập1 và tập 2 của Thái Kim Đỉnh, NXB Nghệ tĩnh 1981-1985
- Truyện cƣời. Một số truyện cƣời ở đây cũng có nét riêng, do những ngƣời nông dân nghĩ ra từ công việc đồng áng hàng ngày, để lấy tiếng cƣời xoa đi mệt nhọc, nhƣ chuyện “Anh lính gan dạ”:
Chuyện kể rằng: Một ngƣời con trai bị bắt đi lính. Anh ta dùng một cái mo cau cắt thành cái hình... của cô vợ trẻ, mang theo trong ngƣời cho đỡ nhớ. Một lần đội quân của anh ta thua to, anh ta cùng đồng đội bỏ chạy thục mạng. Đến nơi an toàn anh ta phát hiện cái mo cau bị rơi mất, anh ta quy lại đi tìm. Vừa thấy anh ta quay lại đối phƣơng tƣởng mình bị phục kích nên bỏ chạy, anh hô quân mình đuổi theo. Sau trận đánh trở về anh ta đƣợc khen thƣởng về lòng dũng cảm...
1.2. Tục ngữ, ca dao, dân ca, hò vè, hát ví, hát giặm...
Tục ngữ, ca dao, dân ca, hò vè... mang dấu ấn của vùng đất Kỳ Anh, nói về đặc điểm tự nhiên, xã hội, nghề nghiệp..., còn lại trong dân gian nhiều, chúng ta cần sƣu tầm tiếp.
Một vài câu ca dao tiêu biểu về xã hội, nghề nghiệp:
- Nắng hòn ngheẹc (ngạch) mƣa troóc (tróc) trời
- Chớp Mũi Đao dở hàng rào mà nấu.
- Khái Khe Cà, ma Cồn Mụ.
- Kẻ Dua hay nói giọng dằn
Đồng chua nƣớc mặn mần răng ăn mà về?
- Cha đời cái kiếp phong trần
Ngày thì dang nắng, tối lại dầm sƣơng đêm.
- Ai về Đồng Nại mà coi
Mưa thì nằm ngủ, nắng có khoi ra mần...
Một số câu ca dao nói về phong thổ:
- Chợ Voi chân dép, chân giầy
Thung dung nhàn hạ không mô tày bằng chợ Voi.
- Đan Du nổi tiếng Dinh Cầu
Trƣớc cồn phƣợng lộn, sau bàu hóa ngƣ.
- Mặt trời nửa đỏ nửa vàng
Ai về Hồng Lệ ăn khoai lang thì về.
Một số câu ca dao phản ánh về lịch sử:
- Khi đi vọng tía tán vàng
Khi về võng lác, đòn càn khổ chƣa.
- Điếu tre thuốc lá phì phào
Vợ con có biết cơ mào (màu) khổ thân.
- Kìa ai tiếng khóc nỉ non
Phải vợ chú lính trèo hòn Đèo Ngang.
- Ông cha gây dụng cơ đồ
Chàng ra tay báo phục, thiếp giúp cho trị bình...
Hò vè
Là một loại hình phong phú, về hình thức hầu hết đƣợc làm theo thể hát giặm. Hiện nay sƣu tầm đƣợc không nhiều, nhƣng một số bài vè cũng phản ánh đầy đủ mọi mặt cuộc sống của nhân dân địa phƣơng. Có những bài vè thuộc về phong thổ, nói về một làng, một địa phƣơng, chẳng hạn vè “Ai về chợ Cầu thì về”, “Long Trì long hữu đƣợc long”..., có những bài vè nói về thời sự, ví dụ nhƣ “Phƣơng Giai kiện Hữu Lạc”, “Ông huyện Dao cƣới vợ”, “ Lý trƣởng hại dân”, “Lên trời xin mƣa”..., có những bài nói về tinh thần yêu nƣớc, phong trào chống sƣu thuế... nhƣ: “Vè Lân Biểu”, “Vè Tây sang”, “Thầy Thông ra làm lý trƣởng”...
Hát ví, hát giặm
Đất Vạn Tràng chạy cá
Đất Trung Hạ đốt vôi
Đất Kẻ Dua bầy tôi
Đứa nằm ngả trên nôi
Cũng biết đàng hát giặm
Cũng nhƣ nhiều nơi khác ở Nghệ Tĩnh, Kỳ Anh cũng là một vùng đất hát ví, hát giặm nổi tiếng trƣớc Cách mạng tháng Tám.
Không chỉ đất Kẻ Dua, Đan Du, mà từ chợ Voi, Tuần Tƣợng đến Kẻ Dỏ, chợ Cầu, Hải Khẩu, Thần Đầu lên Vọng Liệu... đâu đâu cũng hát ví, hát giặm. Vùng nào cũng có những nghệ nhân tiêu biểu. Những anh Nhàn (Vọng Liệu), o Loan, o Nộ (Xuân Sơn), o Thuyn (Mỹ Lũ), cu Tầng, cu Huyên (Biểu Duệ), o Sắt (Sa Xá), cố Công (Hải Khẩu), Bẹp Liêu (Đan Du), anh Quốc, anh Lình (Thanh Sơn), ông Gàng (Phú Thƣợng), mụ Tòng, anh Trạo, Bẹp Tương, anh Thuynh, cố Xuân (chợ Voi). Có những ngƣời thuần túy nông dân nhƣ anh Thiệp, bà Trùm Nghêm, anh Duynh, anh Viện..., có cả những nho sĩ nhƣ Hải, Nhu, Hoán (ở Phú Dẫn), Hợp (Long Trì), có cả “con quan phủ Triệu” là Cả Trạch và cô Thòe, có cả các nhà khoa bảng nhƣ ông Tú Lê (Thanh Sơn), ông Phó bảng Kỷ (Tuần Tƣợng)...
Nhƣng tiếng tăm hơn cả và để lại nhiều giai thoại đến nay là cô Nhẫn ở Đan Du.
Những nghệ nhân ví, giặm ở Kỳ Anh đã có sức lôi cuốn các tài tử nơi xa nhƣ: Đầu huyện Hiến (Nghi Xuân), Cháu Xanh (Đức Thọ), Lƣơng Đấu (Thạch Hà), Cả Cánh (Nghi Lộc)... và nghe đâu Giải San cũng có mặt ở đây.
Hát Sắc bùa
Là một hình thức ca múa nhạc dân gian, từ lâu đã trở thành tục lệ sinh hoạt văn hóa trong dịp Tết Nguyên Đán ở nhiều làng xóm ở Kỳ Anh, cũng nhƣ các huyện khác trong tỉnh.
Phƣờng Sắc Bùa ở Kỳ Anh thƣờng có 5 ngƣời trung niên hoặc thanh niên, có phƣờng có vài vị lão niên. Họ thƣờng mặc quần trắng, áo dài đen, đầu vấn khăn, thắt dải lƣng điều hay hoa lý. Họ thuộc các bài hát chúc tụng và biết múa, sử dụng một trong các nhạc cụ: trống “tầm vinh” (hay tùng vinh), trống “rập”, điêu đẩu, cặp sinh và sinh tiền.
Trước kia, phường Sắc Bùa một số nơi trƣớc khi vào hát chúc cũng dán “bùa” yểm trấn lên cửa. Về sau có nơi đốt pháo đùng để “mở hàng” may mắn.
Các điệu hát Sắc Bùa không khó, ai cũng có thể hát đƣợc, nhƣng phƣờng Sắc Bùa nghiêm túc là một tổ chức chuyên nghiệp nên phải gồm những ngƣời biết hát hay và múa giỏi.
Ở Kỳ Anh ngày trƣớc, nhiều làng ở tổng Đậu Chữ, tổng Hà Trung và tổng Cấp Dẫn có phƣờng Sắc Bùa hoạt động trong dịp Tết.
Dưới đây là một trích đoạn Sắc Bùa:
- Hát chầu:
Tống cựu nghinh tân
Trai tôi xin dâng một đƣờng chúc thọ
Nay mừng quan họ
Đƣợc đông vãn xuân lai.
Trên từ đƣờng hƣơng xạ thơm bay,
Dƣới con cháu đƣợc “Khang cù kích nhƣỡng”.
Ân dày nghĩa trọng
Đạo làm con dĩ hiếu vi tiên
Trong bốn phƣơng rạng rỡ hƣơng đèn
Ngoài tám cõi siêu siêu đà ảnh hƣởng
Trửa tiên án nghê chầu phƣợng lộn
Trên bàn thờ tiên tổ nguy nga
Bên ngoài treo biển đối màn hoa
Dƣới chiếu miến giƣờng tàu nghi vệ.
Phụ truyền tử kế,
Phải ngƣời thờ hƣơng hỏa bách niên.
- Vào hát dịch:
Nay vừa gặp tiết xuân thiên,
Trai dâng đôi chữ bình yên mừng ngƣời.
Trừ tịch là đêm ba mƣơi
Tết nhất chơi bời mở tiệc vinh hoa.
Trên thờ tiên tổ ông bà
Dƣới thờ thúc phụ, sau là cô di
Sang xuân têt đƣợc một kỳ...1
Hát trò
Tức là hát chèo, là hình thức sân khấu dân gian khá phổ biến ở Kỳ Anh và Hà Tĩnh. Trƣớc đây Kỳ Anh có hàng chục phƣờng trò, chuyên hát “Trò Kiều”, “Trò Trƣơng Viên”... Hàng năm cứ vào dịp đầu xuân, làng nào có phƣờng trò đều mở cuộc hát vài ba đêm, các làng không có thì mời các phƣờng nơi khác đến hát vào dịp hội hè...
Phƣờng trò ở đây chủ yếu biểu diễn hai vở Kiều và Trƣơng Viên (một số nơi ở Hà Tĩnh còn bểu diễn Thị Kính), nhƣng hàng năm diễn lại vẫn thu hút ngƣời xem và có nhiều ngƣời thuộc lòng cả bài trò.
Cùng với hát trò, ở Kỳ Anh nhiều nơi xƣa kia cũng có “hát tuồng”
Từ sau Cách mạng tháng 8-1945, các phƣờng trò đều ngƣng hoạt động.
Hát ru
Hát ru con là một hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian của ngƣời Việt nói chung, nhƣng mỗi vùng miền cũng có những lối hát riêng mang tính địa phƣơng. Có rất nhiều bài hát, lối hát phong phú theo từng giai điệu. Ở Kỳ Anh đến nay vẫn lƣu truyền một bài ru con buồn đƣợc nhiều ngƣời thuộc, nhất là những ngƣời lớn tuổi và khi buồn hay một mình ngâm nga: Tên bài hát do chúng tôi tự tiện đặt ra.
LỜI RU BUỒN
Mẹ dòng lệch gối nghiêng chăn.
Đêm đông trƣờng cƣởi lạnh.
Biết than rằng với ai?
Trong sách có chữ tài
Gái hồng nhan bạc phận
Gái mẹ dòng bạc phận.
Em đi đò mấy bận
Bạn qua truông mấy lần
Đò chƣa qua khỏi tuần
Duyên lại còn trắc trở.
Cầu ô bắc đã lỡ
Đinh đóng nỏ nhằm chiều
Về sữa lại cầu xiêu
Đóng đinh vô khó tháo
Đinh đóng rồi khó tháo.
Nghĩa vợ chồng là đạo
Tƣởng đầu gối tay kề.
Chàng vui thú vƣờn huê .
Thiếp buồng đơn lạnh lẽo
Thiếp loan phòng lạnh lẽo...
Thƣơng đôi cây đào, liễu
Búp măng sữa mới lên
Đào mới biết đi men
Liễu vừa chừng đứng dậy.
Đào thơ lâu đào nậy
Liễu yếu rồi liễu khôn
Búp hoa quế trên cơn
Măng đợi chờ sƣơng cƣởi.
Nỏ thà đứt mà nối
Vô sự tiểu thành tiên
Liền chƣa xong phận liền
Đứt đã đành phận đứt
Cây trên rừng nỏ bứt
Quả đào lựu nỏ vo
Thân em rối nhƣ vò
Nhủ em lo răng được
Em lo tròn răng được.
Tươi chi bèo cạn nƣớc
Cá sủi vẩy nằm khô
Em đợi đến khi mô
Để cho trời vần vũ
Để mặc trời vần vũ.
Cây tàn thì lá úa
Mặt mũi em âu sầu
Số mệ dòng như cưởi bá cành dâu...
(Lời bài hát có nhiều dị bản khác nhau một số chữ, nhƣng nội dung không thay đồi, chúng tôi chọn và có sửa những câu từ thích hợp nhất mà không ảnh hƣởng toàn cục)
Và bài hát ru con lƣu truyền rộng rãi trong vùng Nghệ Tĩnh, Phụ tử tình thâm ai ai cũng biết, cũng thuộc ít nhiều.
Lời Bài Hát Phụ Tử Tình Thâm
“Ϲông cha nhƣ núi Thái Ѕơn Ɲghĩa mẹ nhƣ nƣớc trong nguồn chảу ra Một lòng thờ mẹ kính cha Lo tròn chữ hiếu mới là đạo con...”
Phụ tử tình thâm
Ϲông thầу rồi nghĩa mẹ
Đừng có tiếng tăm chi nặng lời
Đừng cả tiếng dài hơi
Nói mẹ cha sao nên
Mà cãi mẹ thầу sao phải
Ơ… đêm dài nằm nghĩ lại
Nhớ đến cội thung huуên
Ϲông cù lao ai đền
Nghĩa sinh thành ngàу trƣớc
Khi đọi cơm rồi bát nƣớc
Ứớc phụ tử tình thâm
Thầу đói rách nợ nần
Mẹ cũng đói rách nợ nần
Ϲũng vì con thơ ấu
Ɗừ phụ trải trắc mẫu
Rồi trắc trải khó khăn
Ϲon ở có thủу có chung
Đƣợc phụ từ tử hiếu
Mà đƣợc phụ từ tử hiếu.
Ɗăm ba cành đào liễu
Ѕáu bàу quả nam nhi
Thầу chƣa đƣợc nhờ chi
Mẹ cũng chƣa đƣợc nhờ chi
Đền công ơn cho đáng
Ϲông mẹ thầу cho đáng.
Rồi mƣời ngàу chín tháng
Mẹ thức dục nén thai
Ϲon nên một nên hai
Thầу ấp iu bồng bế
Mẹ ấp iu rồi bồng bế
Ϲon nên ba nên bốn
Ϲon tríu mẹ chƣa rời
Đứa sáu bảу ăn chơi
Ϲon chín mƣời khôn nậу
Mà đứa chín mƣời khôn nậу.
Ơ… giừ thầу chƣa đƣợc cậу
Mẹ cũng chƣa đƣợc nhờ
Giừ mẹ đang phải lo
Đứa mảnh khăn tấm áo
Đứa mảnh quần ơ tấm vải
Ϲon mƣời lăm mƣời bảу
Ϲon ăn học dùi mài
Đứa mƣời chín đôi mƣơi
Lo chăm xa dựng họp
Lo cửa nhà dựng họp.
Khi hoa cƣời ngọc nở
Ϲhốn đào liễu sung vầу
Thầу mơ tƣởng đêm ngàу
Ứớc dâu hiền mà rể hiền
Ứớc dâu hiền mà rể thảo.
Ơ… Thánh hiền là đạo
Rồi khuất bóng từ bi
Ϲon có lỗi điều chi
Xin mẹ thầу xá quá
Ϲon đừng cậу thƣợng rồi át hạ
Ở ra dạ khinh thƣờng
Ϲon đừng đứa ghét thƣơng
Ϲũng nhấp giai chi tử
Ϲũng giai bằng chi tử.
Giừ trong sách có chữ
Ϲon mới phải trông vào
Thầу một tuổi một cao
Mẹ một tuổi một già
Ϲon đừng có bấc chì nặng nhẹ,
Ϲhớ có bấc chì nặng nhẹ.
Ϲon ở gần thầу mẹ
Phải xâу đắp vun trồng,
Khi vợ dại thì có chồng
Phải vào ra thăm viếng
Phải đi về thăm viếng.
Khi đồng quà chữ bánh
Khi bún sốt lòng tƣơi
Ta nâng giấc cho ngƣời
Kẻo mai rồi tạ thế
Mai sau rồi ta thế.
Ơ… rồi một mai bách tuế
Ra câу úa lá vàng
Lá rụng cội đại ngàn
Ϲon tìm mô đƣợc nựa
Mà con muốn tìm mô đƣợc nựa.
Khi cúng hƣơng cúng lửa
Khi vào bái ra quỳ
Ɗừ đặt mâm lên thì
Nỏ thấу thầу mẹ ăn chi
Ϲhỉ thấу ruồi với ruồi
Mà chỉ thấу ruồi với kiến.
Ϲhiêm bao khi tƣởng đến
Ɗù than vắn thở dài
Thầу không đoái không hoài
Mẹ cũng nỏ đoái nỏ hoài
Thật là phụ từ tử hiếu.
Ai ơi làm con trọn đạo
Ɲhắc ai nhớ ghi lòng… à á à ơi
Hát ru, hát ví, dặm trong dân gian truyền lại còn nhiều, ở trong quyển Lược sử này, chúng tôi chỉ giới thiệu một vài bài đại diện tiêu biểu đƣợc nhiều ngƣời biết nhất thôi)
Hiện nay Nghệ nhân Trần Khánh Cẩm ở xã Kỳ Bắc là người có công suy tầm, gìn giữ và truyền bá văn nghệ dân gian, hò vè ví dặm ở Kỳ Anh và Hà Tĩnh. Được Bộ văn hóa đánh giá cao và được chủ tịch nước phong tặng danh hiệu cao quý : Nghệ nhân nhân dân.
Hát ví và nhân vật tiêu biểu; Cô Nhẫn-Đan Du
Cô Nhẫn-Võ Thị Nhẫn (1885 - 1958), con một ông Chánh tổng ở Đan Du, nhƣng thực chất cô cũng là một nông dân. Cha mất lúc mới lên sáu bảy tuổi, cửa nhà sa sút, mẹ không đủ sức nuôi con, cô phải đi ở cho nhà giàu đến sáu bảy năm, lúc về “cao số muộn chồng” trên ba mƣơi cô mới thành gia thất.
Từ nhỏ không đƣợc học hành, lúc đi ở, ông chủ có nuôi thầy đồ trong nhà, việc của cô quét dọn, lo trầu thuốc, cơm nƣớc, hầu thầy đồ nên do sáng dạ mà học mót đƣợc khá nhiều chữ, nhiều câu, nhiều điển tích trong thi, thƣ mà thầy đồ giảng cho học trò. Đặc biệt từ rất sớm cô đã có tài ví, hát, những chữ nghĩa bòn mót đƣợc khi đi ở cô đã biết vận dụng một cách sáng tạo, tài tình, nên những câu ví của cô làm các các nho sĩ cũng phải kinh ngạc.
“Giăng giăng nguyệt dọi sân đình
Gió phong phanh thổi, sao linh tinh tàn”
(giăng tức trăng = nguyệt, gió=phong, sao=tinh)
Nghe những câu ấy, ai dám bảo cô là ngƣời thất học?
Tiếng tăm cô Nhẫn vì thế lan ra cả khắp vùng Nghệ Tĩnh.
Cô Nhẫn và phƣờng ví, giặm Kỳ Anh để lại nhiều câu hát đặc sắc, nhiều giai thoại lý thú.
Ta thử tìm hiểu một vài giai thoại:
- Có lần đi bắt cáy về, cô gặp một bạn trai, anh ta liền hát giẹo:
"Người ta bắt cáy đầy oi
Răng em bắt được nạm cáy ròi rứa em"
Cô Nhẫn ví đáp lại:
« Lòng thương dạ nhớ thầy nho
Chân buồn tay rụ, ai bắt cho mà đầy? »
- Có lần gặp ba anh: cu Biên, cu Hải, và cậu Chu, có ý trêu giẹo, cô Nhẫn liền ví một câu, gọi tên cúng cơm của ba chàng nho sĩ, làm ba chàng ngớ ra không đáp nổi:
« Gặp đây em hỏi thật anh hào
Biên, Chu, Hải ngoại, ngộ ba đào tính răng ».
(Biên, Chu hải ngoại ngộ ba đào tính răng, có nghĩa là: Chiếc thuyền lẻ loi ngoài biển gặp sóng gió)
- Phó bảng Kỷ, ngƣời đen, râu quai nón, có lần bị cô hát chọc:
« Em liếc xem bức tranh sơn thủy tùng đình
Búc tranh này rạng rỡ, em say tình biết bao »
Kỷ cũng ví trêu lại:
« Nước lên nhẫn nhẫn bờ rào
Thuyền ngƣời ta sang cả, em cầm sào đợi ai ? »
Câu ví có tên Nhẫn, cô liền ví lại có tên Kỷ :
« Mặc nƣớc lên nhẫn nhẫn bờ rào
Em đợi ngƣời tri kỷ cầm trào cho em sang. »
- Cả Trạch, con ông nghè Nguyễn Đức Huy, tri phủ Triệu Phong, ngƣời Thạch Hà vào ở chợ Voi, Lần ấy hát với cô Nhẫn, cô ví hỏi tên, quê quán, Trạch đáp lại có vẻ tự hào :
« Bây giờ anh nói với thuyền quyên
Anh con quan phủ Triệu ở miền chợ Voi »
Cô Nhẫn liền lấy tích : « Mạch mẫu trạch lân » vặn lại:
« Chữ rằng: Mạch mẫu trạch lân Cớ chi quan phủ Triệu lại ở gần chợ Voi? »
Nghe hỏi cậu cả không sao trả lời nổi, vì xƣa mẹ Mạnh tử còn biết chọn nơi xóm làng tốt để ở để con đƣợc nhiễm tính thuần lƣơng, sao quan phủ lại chọn nơi chợ để ở? Nên về mách với cha, ông bố liền gà cho cậu con một câu để hôm sau đáp lại:
“Chũ rằng: vƣơng thổ vƣơng dân
Nên quan phủ Triệu mới ở gần chợ Voi”
(Vƣơng thổ vƣơng dân là ở đâu cũng đất, cũng dân của nhà vua)
- Nguyễn Thức Canh, con quan Sơn phòng sứ Nguyễn Thức Tự ở Đông Chữ - Nghi Lộc - vào Kỳ Anh trá hình làm khách ăn chơi để vận động phong trào yêu nƣớc, có lần trong buổi hát đã ví một câu chòng giẹo:
“Nhất cao là núi Hoành Sơn
Lắm hƣơu Bàn Độ, to lƣờn chợ Voi”
“Mặc ƣớm hở lƣờn” là ý nói đàn bà nở ngực, nở vú, cô Nhẫn vận dụng ý của cô Điểm ngày xƣa đáp lại sứ Tàu:
“Chữ rằng nhân kiệt địa linh
Có Hoành Sơn, Bàn Độ mới dĩnh sinh anh tài”
Hai câu trên không phải mới đặt mà cô đã vận dụng rất sáng tạo trong trƣờng hợp đó.
Lúc tuổi đã cao cô không đi hát nữa, nhƣng vẫn thƣờng có mặt trong các cuộc hát ví và gà bài cho các cô, cậu trẻ, làm đối phƣơng không gỡ nổi.
- Có lần cô Thuyn ở Mỹ Lũ ví trách bọn con trai bỏ cuộc hát:
“Đôi ta tình trúc nghĩa mai
Ai ngờ Lƣu, Nguyễn bỏ Thiên thai ra về”
Các cậu lúng túng, phải viện đến cô Nhẫn mới đáp đƣợc:
“Đôi ta tình nghĩa ái ân
Chốn Thiên thai mà bỏ bởi bụi hồng trần còn mang”
Cô Nhẫn mất năm 1958, thọ 73 tuổi, nhƣng với ngƣời dân Kỳ Anh thì cô vẫn mãi trẻ trung với tài năng của một nghệ nhân dân gian. Không những tên tuổi cô sống mãi mà cả những bạn hát của cô, trong đó có cả các nho sĩ, trí thức đầu huyện nhƣ Đầu huyện Hiến, Cả Trạch, Cả Canh, Phó bảng Kỷ cũng được lưu danh theo...
1.3. Lễ hội ở Kỳ Anh
Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa rất phổ biến ở nông thôn trong cả nƣớc, ở Kỳ Anh cũng vậy.
Hàng năm, các làng đều có lễ tế thần Thành hoàng làng vào tháng Giêng hay tháng 6 âm lịch, hoặc vào ngày kỵ của các vị thần, nhƣ: đền Sơn Triều tế vò ngày 6-giêng (ngày giỗ Phạm Hoàng), đền Hƣng Nhân - ở Kỳ Hƣng tế vào ngày 12-10 (ngày giỗ Phạm Tiêm), đền Hải Khẩu tế ngày 12-2 (ngày giỗ Nguyễn Cơ Bích Châu)... Ngoài các nghi lễ tế, các làng còn tổ chức rƣớc sắc thần và các trò vui, các cuộc thi...
Rƣớc sắc là để biểu dƣơng nghi trƣợng của thần, vừa là cuộc diễu hành biễu diễn nghệ thuật với kèn trống, cờ quạt, áo quần, kiệu, hƣơng án, nhạc bát âm...
Một số làng gần biển, sông nƣớc thì rƣớc bằng thuyền. Những dịp này dân làng thƣờng tổ chức các cuộc thi vui nhƣ: thi nấu cơm ở Long Trì, Tuần Tƣợng, thi bơi chèo ở Hải Khẩu, Đạo Nguyên, Trạch Hậu, thi các trò chơi dân gian nhƣ: Kéo co, đi cầu kiều, cƣớp cù, đập cù...
Tế lễ thì chỉ có lý hƣơng, hào lão tiến hàng, còn rƣớc sắc, các cuộc thi, trò chơi... thì nam phụ lão ấu trong làng đều tham gia, còn thu hút cả khách thập phƣơng đến dự.
Ngoài lễ hội đền, chùa phổ biến ở các làng, còn có lễ hạ điền, hạ thuyền, lễ cầu ngƣ (vùng biển), lễ tế liệp (phƣờng săn-ở vùng Vọng Liệu, Ngƣu Sơn, Đại Hào...), lễ hội hoàn công đền, miếu... Một số nơi còn có lễ hội đặc biệt nhƣ lễ tế thần cá ở các làng biển, lễ tế Bà Dàng ở Ngƣu Sơn, lễ “Thay khoán” ở vùng Cửa Khẩu (Kỳ Phú, Kỳ Khang, Kỳ Ninh...),
Tế ngƣ thần (cá voi) ở các làng biển đều có, nhƣng có nơi nhƣ Long Trì cứ 12 năm mới mở hội một lần.
Bà Dàng là một nhân vật huyền thoại. Tƣơng truyền bà ở dƣới Đèo Ngang và chết vì thuốc độc, đƣợc dân lập miếu thờ. Ở Ngƣu Sơn có tục đến ngày giỗ bà Dàng thì dọn cỗ xôi gà và tôm kho, trƣớc khi dâng lên cúng phải ăn nếm và đọc câu ca:
“Bà Dàng kia hỡi bà Dàng
Bà ăn độc dƣợc thác oan mình bà
Giừ đây cơm nếp thịt gà
Thì tôi ăn trƣớc cho bà ăn sau”
Lễ “Thay khoán” cũng 12 năm cúng một lần. Ngƣời ta làm một cái “tráp vàng” (hàng mã) cầu thần Độc Cƣớc lên yểm trấn rồi dán tờ khoán (tờ ƣớc) lên cổng hay cây đầu làng, có ý nói rằng đất này đã khoán (có chủ) rồi, không ai đƣợc tranh chấp nữa.
Kỳ Anh cũng có nhiều chùa chiền, nhƣng ngoài lễ “thí thực” vào dịp trung nguyên, không có hội chùa rầm rộ nhƣ những nơi khác. Ở Ngƣu Sơn lễ “thí thực” lại đƣợc kết hợp với lễ cầu ngƣ, ở Đan Du thƣờng có hội làm chay. Đó là những nghi lễ liên quan đến đạo Phật.
Ở các nhà thờ Thiên Chúa giáo thì tổ chức long trọng lễ Thiên Chúa Giáng sinh, nhƣng không đƣợc rầm rộ so với các nơi đô hội.
Tết Nguyên Đán hàng năm là dịp tập trung các hoạt động văn hóa quy mô nhất. Ngoài tế lễ gia tiên và Thành hoàng làng, các địa phƣơng đều có những hoạt động vui chơi trong ba ngày tết như các nơi khác trong cả nước. Phổ biến là sắc bùa, chơi đu, kéo co, đánh cù, ca hát...
2. Các nhà thơ Việt viết về Kỳ Anh
Kỳ Anh là vùng đất của lịch sử, cũng là miền đất của nhạc của thơ. Các tao nhân mặc khách, các văn-thi sỹ từng sống hoặc đi qua Kỳ Anh hoặc có duyên nợ với mảnh đất linh thiêng này thƣờng ghi lại cảm xúc của mình mỗi lần có dịp. Ở đây chúng tôi chọn một số nhà thơ đại diện...
Nguyễn Thúy An*
Qua Đèo Ngang họa thơ bà Huyện
Đến đỉnh Đèo Ngang bóng chƣa tà
Màn sƣơng phủ cỏ, cỏ bên hoa
Nào đâu mấy chú tiều khi trƣớc
Chỉ thấy trên non biển với nhà.
Nhớ nƣớc, giữ gìn trong sạch nƣớc
Thƣơng nhà, đoàn kết dựng xây nhà
Trời Nam một dải dân làm chủ
Thống nhất hai miền Tổ quốc ta.
* Quê Hà Nội, 90 tuổi, trên đƣờng đi từ Hà Nội vào Huế ngay sau ngày thống nhất đất nƣớc 1975, khi qua Đèo Ngang đã làm bài thơ:
Trương Ngọc Ánh*
1. Mưa trên Hải Khẩu
Mƣa giăng hoa kết trắng trời xuân
Tuyền chở khói mải miết về bến cũ
Mái đền cong in hình rêu phủ
Xòe đôi tai nghe rạo rực mƣa bay.
Ôi mƣa sa Hải Khẩu sáng xuân này
Có chồi non tứa mầm thay sắc lá
Có cổ thủ tóc trăm năm trắng lóa
Hồn non sông thao thiết quyện vào nhau.
Giữa mịt mùng Hải Khẩu nông sâu
Có cánh neo níu miền ký ức
Có con thuyền lững thững từ cổ tích
Sau rèm mƣa thấp thoáng bóng ai xƣa.
Này tay tiên vén những lối mƣa
Dáng mỏng mảnh nhòa trong sƣơng khói
Lóng lánh mâm vàng phập phồng bến đợi
Sông ngập ngừng không biết chảy về đâu.
Trời đem mƣa gieo bến Bích Châu
Những giọt ấm thấm một bờ Hải Khẩu
Những cô gái đội mƣa đi trẫy hội
Mắt ƣơt nhƣ lộc biếc mùa xuân.
2. Viết ở Hoành Sơn quan
Núi thắt ngang
Đèo chạy dọc
Giữa chênh vênh neo hình đất nƣớc
Vạch ngang trời Hoành Sơn quan.
Tôi ngẩn ngơ tìm tiếng cuốc gõ thời gian
Bóng tiều phu trốn tìm trong kẻ đá
Quan ải rêu phong hình hài xƣa bóng ngả
Gió mồ côi heo hút vuốt lƣng đèo.
Ai về Nam xin gửi bóng về theo
Ngàn lau dựng nhƣ cờ rung dƣới gió
Biển dậy sóng chiến mã gầm tung vó
Tiếng giáo gƣơm mài vẹt vách Hoành Sơn.
Chiều Đèo Ngang nhìn xuống hoàng hôn
Bao nhân ảnh bƣớc từ mây xuống núi
Những bóng hình tƣởng chìm trong sƣơng khói
Cƣỡi gió về lần từng nẻo đƣờng xƣa.
Chiều Hoành Sơn dáng núi ngẩn ngơ
Ta với tay chạm khẽ vào mây trắng
Gió thúc sƣờn non, biển vờn dậy sóng
Đất với trời đang phút ngất ngƣ say.
* Quê Thạch, Hà Tĩnh, tốt nghiệp khoa sử ĐHSP, công tác tại đài PT-TH Hà Tĩnh, có nhiều thơ đăng báo.
Nguyễn Trọng Bính*
Vũng Áng
Khiêm nhƣờng nhận là cái vũng
Nông, sâu ang áng cóc cần
Giặc trời hai thằng đã rụng
Súng trƣờng – trận địa lòng dân.
Giặc biển lăm le phía biển
Pháo ra mép nƣớc đánh gần
Con gái quê mình quá giỏi
Toàn là pháo thủ dân quân.
Bây giờ cảng sâu Vũng Áng
Làm sao ang áng đƣợc nào?
Nhếch dần lên nhờ tính toán
Tâm hồn trong vắt ca dao.
Tháng 2/1999
* Quê xã Việt Xuyên - Thạch Hà, tốt nghiệp khoa văn Đại học sƣ phạm Vinh. Hội viên Hội VHNT Hà Tĩnh
Xuân Diệu*
Cha đàng ngoài - Mẹ ở đàng trong
Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong
Ông đồ Nghệ đeo khăn gói đỏ
Vƣợt Đèo Ngang kiế nơi cần chữ
Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong
Hai phía Đèo Ngang: một mối tơ hồng.
Quê cha Hà Tĩnh đất hẹp khô rang
Đói bao thủa cơm chia phần từng bát
Quê mẹ gió nồm thổi lên tƣơi mát
Bình Định lúa xanh ôm bóng Tháp Chàm.
Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong
Ông đồ Nho lấy cô làm nƣớc mắm
Làng xóm cƣời giọng ông đồ trọ trẹ
Nhƣng quý ông đồ văn vẻ giỏi giang
Bà ngoại nói tôi trọng ngƣời chữ nghĩa
Dám gả con cho cách tỉnh xa đàng.
Tiếng đàng trong, tiếng đàng ngoài quấn quít
Vào giữa mái tranh, giƣờng chõng, cột nhà
Rứa, mô, chừ? Cha hỏi điều muốn biết
Ngạc nhiên gì, mẹ thốt: úi chui cha.
Con trong võng êm lành kêu kẽo kẹt
Ru tuổi thơ qua hai điệu bổng trầm
Mẹ thảnh thốt: Qua nhớ thƣơng em bậu
Cha hát dặm bài: Phụ tử tình thâm
Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong
Muốn ăn nhút thì về quê với bố
Muốn ăn quýt, ăn hồng
Theo cha mày mà về ngoài đó
Muốn uống nƣớc dừa, ăn xoài chín đỏ
Muốn ăn bánh tét, bánh tổ
Thì theo tao ở mãi trong này.
Đội ơn thầy, đội ơn má sinh con
Cảm ơn thấy vƣợt Đèo Ngang bất kể
Cám ơn má biết yêu ngƣời xứ Nghệ
Nên máu con chung hòa cả hai miền.
* Xuân Diệu (1916 - 1985), quê ở xã Trảo Nha, nay là thị trấn Nghè, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh. Năm 1940 đỗ Tham tá nha thƣơng chính, vào làm việc ở Ty thƣơng chính Mỹ Tho. Sau 4 năm làm việc, ông bỏ ra Hà Nội sống bằng nghề văn. Ông là 1 trong những ngƣời đồng sáng lập Tự lực văn đoàn. Một nhà thơ tinh nổi tiếng của thế kỷ 20.
Nguyễn Văn Dinh*
Cô gái Đèo Ngang
Thƣơng cha xƣa đóng khố
Một đời đau tá điền
Em lớn cùng đất nƣớc
Thù sâu nào dám quên.
Ơi cô gái Đèo Ngang
Hân, Phƣợng, Đình... nhớ mãi
Giữa biển gào nƣớc xoáy
Em nhƣ hòn Sơn Dƣơng.
Cát lỡ cỏ rơm bồi
Em xây thành công sự
Ngày ngày canh biển khơi
Vƣợt lên ngàn sóng dữ.
Những cô gái yêu thƣơng
Vá đƣờng trong đêm tối
Làm ánh đèn chỉ lối
Tay ôm ghì quê hƣơng.
Mang gió đi tuần đêm
Gặp cô gái Quảng Bình
Khoác vai nhau tâm sự
Thân thiết tình chị em.
Thuyền cảnh Dƣơng vƣợt biển
Tràng đạn Mỹ đuổi theo
Có súng em giăng lửa
Cứu nguy khi hiểm nghèo.
Mặc sóng dập, bom vùi
Nhƣ hàng dƣơng đứng thẳng
Em nhằm quân thù: bắn
Giữ trong làn nƣớc khơi.
Chín cô gái Đèo Ngang
Qua trăm ngàn chiến đấu
Đốt thiêu bốn phản lực
Chói ngời gái Việt Nam.
Chín cô gái Đèo Ngang
Từng dự trăm trận đánh
Nhƣ ngọc trai lóng lánh
Dƣới chân Đèo hiên ngang.
1969
* Sinh năm 1932 tại Quảng Thanh, Quảng Trạch, Quảng Bình. Nay ở phƣờng Đồng Phú, Đồng Hới, Quảng Bình. Hội viên Hội nhà văn Việt Nam.
Tác phẩm đã xuất bản: “Trƣờng ca Quảng Bình(1956)”, “Cánh buồm-1976”, “Gặp nụ cƣời-1980”, “Lời dã tràng-1996”
Phạm Tiến Duật*
Đèo Ngang
Pháo tàu giặc đêm đêm nhằm hƣớng bắn
Đèo vẫn nguyên lành nằm với biển reo
Nhà nhƣ lá đa đậu lƣng chừng núi
Sông suối từ đâu rơi xuống chân đèo.
Đèo nằm hƣớng Nam
Đƣờng nhằm hƣớng Nam
Xe đạn cũng hƣớng Nam
Vƣợt dốc.
Bao nhiêu ngƣời làm thơ
Về Đèo ngang
Mà quên mất
Con đèo chạy dọc.
1970
* Sinh ngày 14-1-1944 tại thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ, hiện sống ở Hà Nội. Hội viên Hội nhà văn Việt Nam.
Giải nhất cuộc thi báo văn nghệ 1969-1970.
Nguyễn Chí Dũng*
Nƣớc mắt Đèo Ngang
Nín đi thôi – Nín đi thôi
Kẻo tôi chết đuối trong đội mắt nàng
Đêm nghe sóng vỗ Đèo Ngang
Nhớ dòng nƣớc mắt của nàng trao tôi.
Nín đi thôi – Nìn đi thôi
Đèo Ngang-nƣớc mắt-trong tôi-là: Nàng.
1993
* Sinh năm 1950 tại Vinh - Nghệ An, quê mẹ Kỳ Anh.
Sống tại Hà Nội. Đã xuất bản: Khát sống cuộc đời - NXB Quân đội 1992, Vẫn mãi bên nhau - NXB Thanh niên 1997
Ngọc Dương*
Lục bát Đèo Ngang
Xe tôi lên đỉnh Đèo Ngang
Mới hay trời cũng tày gang đỉnh trời
Chổ Bà huyện khóc đâu rồi
Chỉ thấy cỏ mọc trên đồi cằn khô.
Ai ngƣời gặp bác tiều phu
Cái nghèo níu mãi bây giờ chƣa thôi
Bông lau bạc tóc cuối trời
Gặp hòn đá đứng đá ngồi không yên
Bông hoa thì chửa có tên
Hòn cuội dƣới suối biết riêng phận mình
Non xanh xanh, nƣớc xanh xanh
Trời đây đất đấy mà thành của nhau
Dừng chân trên đỉnh đèo cao
Phải trời và đất đớn đau chỗ này.
Hoàng hôn trốn tìm trong mây
Tiếng chim đâu đó đong đầy gió sƣơng.
Ngắm mà buồn, ngẫm mà thƣơng
Câu thơ thủa ấy còn vƣơng tới giờ.
* Sinh năm 1946 tại Quỳnh Lƣu - Nghệ An. Cử nhân nghệ thuật. Hội viên Hội VHNT Hà Tĩnh.
Tác phẩm: Hai khoảng đời - NXB VHTT 1999, Đƣờng chân trời, thơ.NXB Văn hóa thông tin 2002
Phan Duy Đồng*
Qua Đèo Ngang
Xe vòng nhƣ trẻ trốn tìm
Qua vòng lƣợn, trăng nhô mình biển xa
Ngoài kia con sóng vỡ òa
Trong này chầm chậm xe ta lên đèo.
Chơi vơi một mảnh trăng treo
Nỗi niềm tâm sự còn neo bến trời.
Cuộc đời dẫu có mỉm cƣời
Thơ Bà Huyện vẫn rối bời lòng ta.
*Bút danh là Hồng Duy, sinh 1938, quê xã Cẩm Mỹ, Cẩm Xuyên, Hà Tĩnh. Hội viên Hội VHNT Hà Tĩnh.
Trinh Đường*
Với Bà Huyện Thanh Quan
Bà đi đâu một mình qua Đèo Ngang
Chiếc cánh diều còn in trên non ngàn
Giữa bóng chiều tà tiếng chim hồn nƣớc
Gió lùa! Qua cổng Quảng Bình quan.
Núi cao nào mà xƣa nay không cô đơn
Nƣớc nào không cau mặt với tang thƣơng
Mảnh tình riêng của bà thời Lê Mạt
Còn giăng mây bàng bạc dãy Hoành Sơn.
Mỗi lần qua đây ai không thƣơng Bà
Cùng bóng chiều dừng bƣớc đỉnh đèo xa
Bao vua chúa đều trở thành bùn đất
Duy thơ Bà còn mãi với ngàn hoa.
1992
*Tên khai sinh Trƣơng Đình, sinh năm 1919, tại thôn Đại Thắng, xã Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Sống tại Hà Nội. Hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Đã có nhiều tác phẩm xuất bản cả thơ và văn xuôi.
Đồng Thị Chúc*
VỀ MIỀN NẮNG GIÓ
Kính tặng miền đất Kỳ Anh - Hà Tĩnh
Tôi về thăm lại nơi xƣa
Một ngày nắng tƣởng nhƣ chƣa bao giờ
Hàng cây đứng lặng nhƣ tờ
Thoàng cơn gió lại là đƣa gió Lào.
Tôi về gặp lại tiếng chào
"Choa" "mi" "răng" "rứa" tiếng nào cũng vui.
Tôi về tìm chốn bùi ngùi
Chắp tay khấn lạy xin lùi nỗi đau.
Tôi về cùng bạn tìm nhau
Bát chè xanh chát đậm màu chất quê.
Thật thƣơng trong nắng giữa hè
Dáng khom bóng chị đổ về lúa khoai.
Đất cằn thắm đẫm mồ hôi
Đã nuôi thành những lớp ngƣời trung kiên
Đã nuôi bao bậc tài hiền
Để danh sáng khắp mọi miền gần xa...
Tôi về nhƣ thể về nhà
Bâng khuâng nỗi nhớ khi xa chốn này...
Kỳ Anh 8-2001 Hà Nội 2011
*Đồng Thị Chúc. Sinh 1944. Quê sinh: tỉnh Bắc Giang.
Tác Phẩm: 1 Gót chân trần (thơ): NXB Thanh niên năm 1992
2 Lục bát tặng ngƣời xƣa(thơ): NXB Hội nhà văn năm 2012 và Tái bản năm 2013. 3.Con gái thì thứ hai ( Thơ) NXB Văn học 2017
Phan Trung Hiếu*
Lời khấn trƣớc đền Bà Hải
Cảm thƣơng một đóa phù dung
Vàng son tiễn vào đáy nƣớc
Vua nghe ra đƣợc bao điều
Nàng gửi vào trong “Thập sách”.
Trừ bạo mới bền gốc nƣớc
Nhiễu nhƣơng tổ hại dân lành
Mở cửa đón lời ngay thẳng
Diệt tham, chẩn chỉnh học hành.
Chọn quan nhằm vào dũng lực
Dài ngƣời to xác mà chi
Tƣớng cốt ở tài thao lƣợc
Rèn quân chặt chẽ, chỉnh tề...
Bút lông ngăn vua chẳng đƣợc
Bích Châu ra trận cầm gƣơm
Trúng mũi tên thù tẩm độc
Hóa chìm đất biển Châu Hoan.
Khói hƣơng đã mấy trăm năm
Tiếng thơm “Nữ trung hào kiệt”
Bà là Chế Thắng phu nhân
Dâng đời tấm thân ngà ngọc.
Cúi đầu khấn bao điều ƣớc
Cầu yên, cầu lộc, cầu tài
Cầu cho “Kê minh thập sách”
Tiếng gà gáy gọi ngày mai.
* Sinh 1962. Quê Bùi Xá - Đức Thọ - Hà Tĩnh. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Chủ tịch Hội VHNT Hà Tĩnh
Nguyễn Thái Hòa*
Đèo Ngang 1995
Một mảnh trời đứng lặng
Sóng biếc cất bờm cao
Núi nhô đầu đại hải
Nghe gió rừng lao xao.
Xe rì rì lao núi
Vòng vèo lƣợn chân đèo
Trời cao nhƣ chỉ lối
Gió dọc cứ đuổi theo.
Bậc đá bao ngƣời qua
Lau lách còn ngân nga
Biên thùy xƣa mệt mỏi
Binh lửa nƣớc non xa.
Chân đạp bằng sông núi
Tay mở mang sơn hà
Ba lần nƣớc thống nhất
Mừng lây cả cỏ hoa.
Đất nƣớc nay một giải
Đƣa mắt nhìn xa xa
Chú tiều xƣa thắng Mỹ
Đang mãi miết xây nhà.
*Công tác ở Bộ thủy lợi, nhiều lần vào Kỳ Anh
Hoàng Văn Hóa*
Tuyệt vời cảnh quan
Bâng khuâng đứng ngắm núi Hoành
Nhấp nhô đá lẫn cây xanh dƣới trời...
Một đèo nhƣ vạn đèo thôi
Mà ai đến cũng bồi hồi với thơ.
Chú tiều, lều chợ... ngày xƣa
Tiếng gia, tiếng cuốc... bây giờ còn vang.
“Qua Đèo Ngang”, “đến Đèo Ngang”
Đã bao thi sỹ xốn xang nỗi lòng.
Quảng Bình, Hà Tĩnh kề lƣng
Đèo Ngang - gạch nối chuyện mừng, điều lo...
Vững tin: Dẫu đến bao giờ
Tấm lòng Bà Huyện vẫn thơ với đời.
Hoành Sơn ơi, Đèo Ngang ơi
Qua giông bão vẫn tuyệt vời cảnh quan.
Ta đi nắng biển mƣa ngàn
Tình riêng một mảnh, muôn ngàn tình chung.
10/1994
*Sinh 1940 - mất 1999. Quê Cƣơng Gián - Nghi Xuân - Hà Tĩnh, trú quán Thạch Long - Thạch Hà - Hà Tĩnh. Hội viên Hội VHNT Hà Tĩnh.
Xuân Hoài*
1. Qua Đèo Ngang
Lên Đèo Ngang quanh co dốc tiếp dốc
Áo thấm mồ hôi không thấy nhọc
Câu thơ Bà Huyện nhẩm bâng khuâng
Trông xuống bao nhêu cảnh tƣng bừng.
Xóm chợ sông xƣa nhà lác đác
Thành xã Kỳ Nam. Đồng hợp tác
Máy cày xới đất nghe âm vang
Ô thủa đầy ắp lúa chín vàng.
Hối hả đoàn xe lên chở đá
Đậu đầy cửa kính nắng lung linh
Bát ngát trùng khơi thuyền bủa cá
Phải tay chèo con gái Kỳ Trinh.
Nghe mùa hạ chín trong hƣơng lúa
Trong tiếng ve ngân ngọt lƣng đèo
Lấm tấm hoa sim đầy vách đá
Bồi hồi muôn nỗi nhớ bay theo.
Có đoàn lính trẻ hành quân vội
Kỷ luật hành quân không cƣời nói
Mà vẫn xôn xao non nửa giờ
Tìm nơi Bà Huyện đứng làm thơ.
Hố bom giặc Mỹ xăm chi chít
Nát cả đƣờng xƣa qua cổng trời
Từ trong im lặng đoàn quân bƣớc
Tiếng nổ vung trời xác giặc phơi.
1969
2. Đèo Con, ngày biển động
Ta đến Đèo Con ngày biển động
Trên bờ không một bóng ngƣời ra
Nỗi niềm ai để quên nơi sóng
Vội trả ngƣời chăng bọt trắng xòa.
Sóng ơi chẳng phải của tôi quên
Bình thản dƣờng kia bãi cát êm
Tình yêu ai giống nhƣ huyền thoại
Sóng gió xin đừng cố xới lên.
Nhà nghỉ mùa này thƣa vắng khách
Khóa phòng treo đó nhớ mƣời phƣơng
Ngƣời ở xứ xa ai còn nhắc
Đèo Con, bãi tắm ở ven đƣờng?
Dễ đến hè sau khi biển lặng
Ngƣời trong huyền thoại có còn không
Có khi còn lại dòng tin nhắn
“Ngƣời ấy năm nay đã cƣới chồng”
Giống nhƣ biển đẹp chiều nay động
Chẳng nỡ dừng lâu ở trƣớc bờ
Mũi Đao chống chọi muôn nghìn sóng
Hai đứa mình nhƣ hai câu thơ.
5-10-1995
*Tên khai sinh Bùi Xuân Huyến (1940 - 2006),quê huyện Đức Thọ - Hà Tĩnh, tốt nghiệp Đại học sƣ phạm Hà Nội, Hôi viên Hội nhà văn Việt Nam. Giáo viên cấp 3 (1962 - 1974), từng là chủ tịch Văn nghệ Hà Tĩnh và giám đốc Sở Văn hóa thông tin Hà Tĩnh.
Mai Văn Hoan*
Chưa vượt Đèo Ngang
Chưa vượt Đèo Ngang đầu đã bạc**
Câu thơ mặn chát ở đầu môi
Thƣơng một tâm hồn luôn khao khát.
Chẳng phải ngại cao mà chùn bƣớc
Cũng không mỏi gối với chân chồn
Bƣơn chải, lo toan đời xuôi ngƣợc
Chớp mắt thấy mình đã hoàng hôn.
Sức kiệt bạn về cùng cây cỏ
Hồn vẫn mơ ngày vƣợt Đèo Ngang
Vẫn nghe chan chát rìu ai bổ
Từng nhát gặm mòn cả thế gian.
*Mai Văn Hoan quê ở Huế, giáo viên văn trƣờng Quốc học Huế. Hội viên Hội nhà văn Việt Nam.
**Câu thơ của Trương Biên Thùy, bạn nhà thơ.
Bùi Minh Huệ*
Đèo Ngang Tím Tặng Kỳ Anh mến yêu
Tím sẫm Đèo Ngang chiều hè giả bạn
Núi âm thầm dang vòng tay thƣơng nhớ
Mây dùng dằng chƣa muốn vào giấc ngủ
Sóng dập dềnh, biển tấu khúc hoàng hôn.
Vắt dải khăn mềm đƣờng choàng lƣợn quanh
Mặt trời vàng thảng thốt về Tây trúc
Lên rồi xuống xe uốn mình vũ khúc
Hồn mênh mang lạc lối với mây trời.
Giã bạn rồi câu hát vẫn mang theo
Mây gió cỏ cây tím màu quá vãng
Bảng lảng trâu về khói rơm chạng vạng
Nồi cơm chiều sém lửa hạt gạo quê.
Mãi miết bao năm hờ hững đi về
Bỗng chiều nay thấy lòng nhƣ vệt nắng
Ơi Bà Huyện nét son còn lãng đãng
Mảnh tình riêng tím biếc với nhân gian.
Hè 2002
*Quê thị xã Hà Tĩnh, tốt nghiệp ĐHSP khoa văn. Hội viên Hội VH-NT Hà Tĩnh, làm việc tại Báo Hà tĩnh.
Phạm Thị Ngọc Liên*
Lục bát ở Đèo Ngang
Dập dềnh bóng núi Đèo Ngang
Mình ta với nỗi buồn vàng trong tay
Đƣờng xa chim mỏi cánh bay
Chở theo một khối tình đầy long đong.
Qua vùng nƣớc trũng mênh mông
Tàu trôi ta cũng bồng bềnh trôi theo
Bƣớm non tơ khóc trong chiều
Vẫy tay gửi một lời yêu lỡ làng.
Thôi thì thôi - Nỗi buồn vàng
Thả ta xuống đỉnh trời hoang một mình.
1991
*Sinh năm 1952 tại Hà Nội, tốt nghiệp ba trƣờng đại học: Văn khoa, Vạn Hạnh, Tổng hợp TP.Hồ chí Minh
Hội viên Hội nhà văn Việt Nam. PV báo Công an thành phố Hồ Chí Minh.
Tác phẩm: Những vầng trăng chỉ mọc một mình 1989, Biển đã mất 1990, Em muốn dăng tay giữa trời mà hét 1992
Bùi Thanh Minh*
Qua Đèo Ngang
Đèo nhƣ một mảnh trăng treo
Chơi vơi lƣng núi, cheo leo biển trời
Hoàng hôn buông tím núi đồi
Bâng khuân đi giữa những lời thơ reo.
Bồng bềnh gƣơng biển trong veo
Mây vờn sóng biển ngỡ đèo đu đƣa
Thƣơng đèo dãi nắng dầm mƣa
Biển ôm lấy núi mặn mà sóng hôn
Đỉnh đèo mây trắng quàng khăn
Xe qua dốc ngƣợc mây còn vẫy theo
Chân đèo biển cả đùa reo
Buồm căng lớp lớp nhịp chèo vui khua
Đèo là một dãy ƣớc mơ
Nối trời với biển, nối thơ với ngƣời
Mặt đèo in dấu chân vui
Đèo nâng chân bƣớc cho đời lên cao
Bồi hồi mây núi trăng sao
Cảnh xƣa ngƣời vắng đâu nào khác xƣa
Quanh đèo ngói đỏ nhƣ hoa
Qua đây dừng lại ngỡ là quê hƣơng
Đèo Ngang vƣơn tới công trƣờng
Dài nhƣ tiếng hát dẫn đƣờng ta đi.
1972
*Quê Hà nội, thời chiến tranh đóng quân ở Kỳ Anh
Minh Nho*
Gặp bạn ở Đèo Ngang
Tôi lại về Mũi Đao
Giũa một chiều biển động
Sóng chồm lên ngọn sóng
Mây trời vần vũ say.
Mũi Đao thành đá xây
Đứng dầm chân trong biển
Tựa dáng hình mũi kiếm
Canh biển suốt đêm ngày.
Sóng biển ùa vào đây
Vờn lên cƣời trắng xóa
Gió biển thổi vào đây
Trốn tìm trong vách lạ.
Ngỡ đâu cằn cỗi đá
Mà bỗng hát thành lời
Vui trong tình bè bạn
Giữa trùng trùng biển khơi.
1993
*Tên thật Đinh Nho Liêm, quê Hƣơng Sơn - Hà Tĩnh. Nguyên tổng biên tập báo Hà Tĩnh
Mai Hồng Niên *
Đèo Ngang
Đèo Ngang lặn bóng trong chiều
Câu thơ Bà Huyện – chú tiều ngân nga
Một mình gánh chịu phong ba
Ngang đèo gió biển tràn qua - chẳng đầy
Cổng trời rêu tím trong mây
Đất trơ đá-sắc cỏ cây mỏi mòn.
“Mảnh tình riêng với nƣớc non”
Biển gần sao thiếu cánh buồm với thơ?
Ngày xƣa không chỉ bây giờ
Qua đèo
Ai cũng ngẩn ngơ
Riêng mình...
1996
*Nhà thơ Mai Hồng Niên quê Can Lôc - Hà Tĩnh. Nhiều năm công tác tại báo GTVT.
Hoàng Phong*
Hai phía Đèo Ngang
Ngẩn ngơ giữa đất Đèo Ngang
Bên ni bên nớ tôi sang bên nào
Bên ni gió gọi rì rào
Biển xanh bên nớ dạt dào chờ mong.
Cái thời lửa cháy miền trong
Đèo Ngang hai phía nỗi lòng của tôi.
Dọc ngang, ngang dọc một trời
Tôi đi đèo ngóng xa vời ngàn mây
Ngày về Đèo vẫn chờ đây
Suối trong biêng biếc dâng đầy nƣớc non
Đâu còn lấp loáng hố bom
Túp tranh nay đã mái son lƣng đèo
Đau thƣơng đã xóa đói nghèo
Bát cơm nhớ nắm, nắng chiều nhƣ rang
Ngẩn ngơ giữa đỉnh Đèo Ngang
Bên ni bên nớ tôi sang bên nào?
1970
*Nhà thơ quê Hà Nội, từng tham gia chống Mỹ cứu nƣớc. sau vê công tác tại Tạp chí Thanh niên của Trung ƣơng đoàn
Lê Duy Phương*
Nhớ Kỳ Anh
Mấy năm giặc đánh quê hƣơng
Ai vô trong đó cũng thƣơng đồng bào
Bàn tay ai đã vẫy chào
Đêm nhìn không rõ vẫn xao xuyến lòng
Ánh đèn em gái giao thông
Dẫn đoàn xe chạy giữa lòng đất quê
Ngụy trang cành lá ai che
Mà xanh xanh mãi đoàn xe không cùng
Tiếng thơ vang giữa bão bùng
Đèo Ngang ơi, nữ anh hùng trẻ măng
Nhớ ngày xe đến Kỳ Lâm
Chia nhau cũ sắn trắng ngần tay em
Nƣớc Xanh thành nỗi niềm riêng
Bao giờ nƣớc chảy đồng lên hỡi ngƣời.
Xe vui ghé chợ lƣng đồi
Nón ai che nửa miệng cƣời bâng khuâng.
Chƣa về thăm lại Kỳ Anh
Đã nghe Hối Lỗ quê mình làm xong
Hỏi ngƣời hết bấy nhiêu công
Nắng trƣa mƣa sớm... thỏa lòng ngƣời ơi.
Giang Phong đất rộng bời bời
Hạn đau mặt đất lòng ngƣời bấy nay
Lẽ nào ta lại bó tay
Đất chung thủy với ngƣời đây lâu rồi
Đƣờng ra, ta ghé lại Voi
Vội chi anh lái mà còi dục vang.
*Sinh năm 1940, quê Hƣơng Xá, Hƣng Nguyên, Nghệ An. Nguyên là giám đốc sở KH-ĐT Hà Tĩnh. Hiện nay sống ở Hà Nội. Hội viên Hội nhà báo, Nhà Văn Việt Nam.
Vũ Quần Phương*
Qua Đèo Ngang
Không bóng tiều dƣới núi lom khom
Đèo Ngang ngẩng đầu trong gió bão
Máy bay giặc quay cuồng điên đảo
Trên mình đèo xe vẫn băng qua.
Đƣờng xuyên sơn đá vẫn chen hoa
Bom dội không tan lòng cuốc cuốc
Đèo Ngang gánh hai đầu đất nƣớc
Sóng biển cồn theo bƣớc ta đi.
Đêm miền Trung vời vợi sao khuya
“Một mảnh tình” xƣa luôn tỉnh thức
Ta qua đây chƣa dừng chân đƣợc
Quân thù còn nửa nƣớc trong kia.
1966
*Tên khai sinh là Vũ Ngọc Chúc, sinh ngày 8/9/1940. Bút danh Ngọc Vũ, Phƣơng Việt, quê xã Hải Trung, Hải Hậu, Nam Định, hiện nay sống ở Hà Nội.Tốt nghiệp đại học Y khoa, hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Từng là chủ tịch Hội văn học Hà Nội, Tổng biên tập báo Ngƣời Hà Nội...
Hà Quảng*
Thư tuyến lửa
Ở đây mây núi chiều giông chắn
Xanh xám từng cao gió lƣợn đèo
Từng chuyến xe đi từng dặm lửa
Bom đạn trong chiều bay đuổi theo.
Dƣới trời khuya trăng sao vằng vặc
Đoàn quân đi lớp lớp thủy triều
Những cung đƣờng quân thù băm nát
Vẫn dịu dáng đón những bƣớc chân yêu.
Từ buổi em đi
Những con đƣờng thêm thƣơng thêm nhớ
Giặc dội bom nhiều trên lối cũ ta qua
Đèn trực hiệu vẫn cao trên cành sú
Đêm soi đƣờng xe chuyến chuyến vào ra.
Dào dạt đêm đêm sóng vỗ bến phà
Sông vội thức cho đôi bờ yên ngủ
Khuất dƣới lùm si, dẫu đèn dù treo đỏ
Những con thuyền đƣa đẩy nhịp nôi ru.
Trƣờng học giờ đây dựng nhƣ hầm trú ẩn
Bảng viết thay bằng vách giao thông
Những cặp mắt vẫn mở tròn thăm thẳm
Ngƣớc nhìn trời trông rất mênh mông.
Ruộng từng thủa dẫu từng đêm trăn trở
Thóc năm tấn vẫn đậu vàng chân rạ
Trai đi rồi gái từng vụ mùa chiêm
Ba đảm đang-lên nhƣ diều gặp gió.
Đêm ngoài đó sông Đuống trở mình thức ngủ
Có trái bƣởi nào rụng xuống bờ sông?
Ở nơi đây nhiều mảnh vƣờn không còn lá
Nhãn, mít, hồng tan trong khói “ca nông”.
Nhƣng đâu phải nơi rừng cây trụi tàn hoa lá
Con ngƣời sự sống cũng lùi xa
Cuộc sống bộn bề cứ ngày đêm sinh nở
Sau lũy đất này, khúc nhạc chiều vẫn dìu dặt bay xa.
Thƣ tuyến lửa dƣới hào sâu đêm nay viết vội
Hẹn một trang dài riêng kể chuyện hai ta
Còi tập hợp, chuyến xe vừa kịp thới
Mình đi đây lấp những hố bom xa.
Kỳ Anh 1968
2. Trận địa bên cầu (Tặng đơn vị lão quân Kỳ tiến)
Trận địa bên cầu có mƣời tay súng
Ngƣời trẻ nhất cũng tuổi sáu mƣơi xuân
Có tay súng từ thời Xô Viết
Từng bao phen phá huyện cƣớp đồn.
Có tay súng chín năm chống Pháp
Xuôi ngƣợc tung hoành suốt dãy trƣờng Sơn
Cũng có ngƣời chỉ biết sớm hôm
Ruộng lúa, nƣơng khoai, đồng dâu, ao cá.
Nhƣ cây đa đầu thôn bóng tỏa
Nhƣ mái đình cổ kính rêu phong
Nhƣ rặng tre già tƣ lự bên sông
Nhƣ câu hát xa xƣa những trƣa hè ví dặm.
Các cụ mang trong mình bao biến động
Nỗi vui buồn căm giận yêu thƣơng.
Giận những hố bom sâu lở lói đƣờng làng
Những vết đau giặc cày trên lối xóm
Thƣơng bầy trẻ giấc từng đêm chẳng trọn
Các cụ sớm chiều súng chắc trong tay.
Rồi một buổi quân thù ập tới
Trận địa bên cầu súng nổ ran
“Thần sấm”, “Con ma” cánh gãy, thân tan
Bên bờ kênh sớm chiều phơi xác.
Bầy trẻ nhỏ lục tìm trong đống nát
Những đồ phơi bày dƣới bóng xoan
Khúc hát trƣa hè phía trận địa bay sang...
Mùa xuân! Mùa xuân
Và trên những mái đầu bạc phơ màu cƣớc
Trên những lƣng còng, gối mỏi, răng long...
Những gốc cây già trổ lá đâm bông.
Lạ lùng thay thế kỷ hai mƣơi
Trên đất nƣớc biết bao điều suy nghĩ
Lên sáu tuổi đã thành dũng sĩ
Và anh hùng cả những lão sáu mƣơi.
Kỳ Anh 1968
*Tên thật là Trần Ninh, nhà thơ, nhà lý luận phê bình văn học, quê Xuân Đan - Nghi Xuân - Hà Tĩnh, nguyên giáo viên cấp III Kỳ Anh, nguyên cán bộ Sở GD-ĐT Hà Tĩnh
Phan Trọng Tảo*
Lục bát Đèo Ngang
Hoành Sơn mây núi chênh vênh
Con đèo leo giữa mông mênh non ngàn
Chiều xa biển sóng miên man
Cổng trời chót vót nắng ngàn thông xanh.
Lên lên, xuống xuống, quanh quanh
Bƣớc vào di cảo hóa thành đèo thơ.
Đèo Ngang có tự bao giờ
Cuốc kêu xa xót hồn thơ Nghi Tàm
Hai đầu no ấm Bắc - Nam
Đây tiều vung búa cho cam sự đời.
Đổi tên đi thử đèo ơi
Để xem rìu búa có rời rừng xanh.
Thơ xin làm củi cất dành
Cho rừng xanh lại màu xanh của rừng.
1995
*Sinh 1941, quê xã Thạch Văn, Thạch Hà, Hà Tĩnh.
Hội viên Hội VHNT Hà Tĩnh, sống tại TP.Hà Tĩnh.
Hồ Tĩnh Tâm*
Nỗi niềm gửi lại Kỳ Anh
Trƣa dài theo nƣớc sông La
Đƣa ta đi học đất Hà Tĩnh xanh
Khúc chiều neo đậu Kỳ Anh
Chạm câu ví dặm cháy thành tƣơng tƣ.
Nẻo mình lúc thực lúc hƣ
Nẻo đời cột chặt lòng nhƣ hẹn rồi
Duềnh trên sóng biển ta ngồi
Biển xanh trƣớc mặt núi đồi sau lƣng
Cháy lòng chi bấy ngƣời dƣng
Hoành Sơn vun vút có dừng đƣợc đâu.
Ai đà Bắc, Tiến đã lâu
Ta còn bịn rịn đêm thâu Hải, Hà
Tấc lòng hƣơng khói đền Bà
Kỳ Phong nổi gió vỡ òa niềm riêng
Lơi, Ninh biển tím chao nghiêng
Ta về Ao Bạch niệm thiền cho ai
Bình minh thắp đỏ hiên ngoài
Tiếng chim bên cửa gọi hoài ngƣời ơi
Hoành Sơn quan mở lên trời
Lòng ta xuống núi gieo lời trăm năm
Mai này rồi nhớ đăm đăm
Kỳ Nam lối rẽ vào thăm thẳm tình.
Nƣớc non non nƣớc hữu hình
Vấn vƣơng Hà Tĩnh - Quảng Bình chân vân
Khang, Đồng cỏ níu bàn chân
Tình trong nhƣ đã, bần thần ngày đi
Non cao nay hẹn ƣớc gì
Nƣớc dòng Xich Mộ thầm thì gọi nhau.
Nỗi lòng gửi đến mai sau
Bồng bềnh mây núi trắng màu thời gian
Phƣơng, Liên để lại cung đàn
Lòng xuôi Vũng Áng lời hàn huyên xƣa.
Chiều về ai thấu tình chƣa
Sơn Dƣơng đảo biếc trăng vừa mơn xanh,
Nỗi niềm xin gửi Kỳ Anh
Uốn theo dáng núi dệt thành tình yêu.
Nặng lòng biết nói chi nhiều
Vịn vào vách đá tím chiều thủy chung.
Dặm dài mở lối muôn trùng
Biển xanh cát trắng trùng phùng là đây.
Nƣớc non, non nƣớc sum vầy
Một vùng quần tụ nghĩa đầy Kỳ Anh.
Kỳ Anh, 22-7-2006
*Sinh 1952, Hiện công tác tại Trƣờng cao đẳng sƣ phạm Vĩnh Long. Hội viên Hội nhà văn Việt Nam
Duy Thảo*
Trƣớc đền Bà Hải
Trời nhƣ dồn gió về đây
Biển nhƣ dành đất cho cây xanh rờn
Ba tòa lãng đãng khói hƣơng
Nhẹ chân bao khách thập phƣơng thỉnh cầu
Đời đời ngọc sáng Bích Châu
Gƣơng soi tiết nghĩa ngàn sau chẳng nhòa
Để ngƣời về bến Kỳ La
Đứng trên đất cũ Kỳ Hoa tần ngần.
Viếng đền Chế Thắng phu nhân
“Kê minh thập sách” sớ dâng truyền đời.
Sáu trăm năm đã qua rồi
Mà nhƣ tâm nguyện cho ngƣời hôm nay.
*Là ngƣời họ Phan, quê làng Tùng Ảnh - Đức Thọ - Hà Tĩnh, Hội viên Hội nhà văn Việt Nam, Hội văn học Hà Tĩnh.
Tác giả của nhiều tập thơ xuất bản ở Trung ƣơng và địa phƣơng.
Nguyễn Xuân Thiều*
Bạn cũ trường xưa Kính tặng trƣờng THCS Kỳ Tân
Thoáng chốc một phần tƣ thế kỷ
Xa mái trƣờng một thủa đời tôi
Xa con đƣờng hàng cây xanh mát
Những trƣa hè ăm ắp tiếng ve sôi.
Có còn không cây xoài, gốc phƣợng
Mái lá chênh chao lộng gió bên đồi
Ruộng cao sản đoàn thanh niên ngày ấy
Mùa nối mùa hai vụ, hay thôi?
Có còn không vƣờn ƣơm cây giống
Phi lao, bạch đàn mơn mởn chồi thông
Ao sau trƣờng: Rô phi, trắm cỏ
Tung mình lên giỡn bóng trăng lồng.
Tôi nhớ mãi buổi đầu lên lớp
Mắt học trò lấp lánh nhƣ sao
Đăm đắm nghe thầy say sƣa diễn thuyết
Đêm về mơ: Các em hiểu chƣa nào.
Nhớ những chiều ra sân tập múa
Những tối bình thơ, văn nghệ Công đoàn
Mọi ngƣời hát nhƣ chƣa bao giờ đƣợc hát
Có nhịp, phách gì đâu mà sao đến chứa chan.
Tôi nhớ về một thời nhƣ cổ tích
Năm tám mƣơi... chuyện cơm áo mỗi ngày
Cả hội đồng miệt mài soạn giảng
Trao đổi, chấm bài, bao việc cuốn mê say.
Nhớ các chị, các anh những ngƣời đi trƣớc
Còn bao nỗi niềm riêng vẫn tận tụy với trƣờng
Nhớ các thấy, các cô suốt một đời nhiệt huyết
Trãi buồn vui tóc ngã màu sƣơng.
Đã xa rồi Kỳ Tân ơi, một thủa
Biết mấy đổi thay từ bấy đến giờ
Nhìn cây phƣợng bên đƣờng thắp lửa
Lại bồi hồi bạn cũ trƣờng xƣa.
7-2004
*Thạc sĩ văn học, quê Thạch Hà, từng làm việc ở Kỳ Anh. Nguyên trƣởng phòng khoa giáo, Ban tuyên giáo Hà Tĩnh.
Xuân Thủy*
Đến Đèo Ngang
Cũng đến Đèo Ngang lúc xế tà
Bốn bề phơi phới nƣớc non ta
Xe vô tuyến lửa băng sông núi
Súng gác trời cao giữa cỏ hoa.
Đƣờng đỏ chen chân ngƣời lớp lớp
Rừng xanh vang hát biển xa xa
Thanh Quan nàng hỡi! Hay chăng nhỉ?
Cảnh mới nên thơ khéo đậm đà.
(Tuyển tập Xuân Thủy - Nxb Văn học Hà Nội 1999, trang 686)
*Nhà cách mạng lão thành, nguyên Bộ trƣởng ngoại giao nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Phạm Việt Thư*
Với Bà Huyện Thanh Quan
Ngƣời ta gọi chị là bà
Em xin đƣợc gọi chị là chị thôi
Lại một mùa sim nữa rồi
Đèo Ngang bữa đó chị ngồi với ai?
Cuốc trong thơ chị đến nay
Em không hiểu nó kêu ngày hay đêm
Chị còn nhớ nữa hay quên
Chú tiều đen nhẻm họ tên là gì?
Nƣớc non bốn phía xanh rì
Tiếc là em đến chị đi mất rồi
Xe đang rồng rắn lên trời
Ngƣời ngồi ngƣời đứng toàn ngƣời cao sang.
Toàn là mũ áo xênh xang
Chỉ buồn một nỗi Đèo Ngang đang nghèo.
1991
*Phạm Thiên Thƣ Quê Nam Đàn - Nghệ An.Trƣởng ban đại diện báo Nông nghiệp tại miền Trung.
Phạm Văn Tình*
Gặp thầy giáo cũ ở Kỳ Anh
Nhà ba gian thầy ngồi bên cửa sổ
Tôi gặp lại thầy sau mƣời lăm năm
Mƣời lăm năm đã đi vào kỷ niệm
Đất Kỳ Anh mùa mƣa xứ biển.
Tôi về đây sau những khoảng trời
Đã khác nhiều thầy vẫn nhận ra tôi
Nhƣ sau cơn mƣa hạt thóc nảy mầm
Trở lại với thầy tôi thấy mình vẫn bé.
Đất Kỳ Anh hồi nào không viết nổi bài thơ
Câu Kiều xót xa trong lời giảng
Đèn hạt đỗ vặn vừa đủ sáng
Chúng tôi đọc thơ khi tránh đạn dƣới hầm.
Thế cũng đã mƣời lăm năm
Khoảng thời gian đủ cho cô Kiều trở lại
Những đồi đất không còn hoang dại
Những câu thơ ngày xƣa chìm nổi núi đồi.
Bây giờ đến lƣợt tôi
Đọc cho thầy nghe những điều tôi biết đƣợc
Những câu thơ trập trùng tôi viết ở miền Trung
Không có ai là nhà thơ, không có ai là độc giả
Chỉ có bài học năm xƣa tôi nói lại với thầy
Tôi muốn thầy nghe tôi nhƣ tập đọc
Tôi muốn thầy nghe tôi nhƣ kiểm tra bài học
Sau mƣời lăm năm.
Xin ghi nhận điều này tôi gặp ở Kỳ Anh
Bom đạn đã qua, cuộc đời không dừng lại
Vẫn căn nhà một gian hai chái
Thầy sống với thời gian không đòi hỏi điều gì
Lúa vẫn đơm bông âm thầm từng mạch đất
Gió tây qua, hoa mƣớp nở vàng
Và phố xá mở thêm hàng bánh kẹo
Nghe tôi vừa về cô gái chạy sang thăm...
Em xin chào thầy sau mƣời lăm năm
Cuộc sống đổi thay bao bồi hoàn mất mát
Trƣớc cuộc đời thầy em vẫn nguyên bài học
Sáng trong lòng ngọn lửa buổi đầu tiên.
* Tiến sỹ Phạm Văn Tình. Sinh 1954, quê ở huyện Ý Yên - Tỉnh Nam Hà. Công tác ở Viện ngôn ngữ học
Nguyễn Trung Tuất*
Ngược Đèo Ngang
Vòng vèo qua những ngọn đồi
Nửa đường, nửa bước mỏi rồi lại leo
Đèo Ngang ai bảo “đang nghèo”
Anh qua cầu đá lƣợn đèo chênh vênh.
Mây nhƣ bông trắng dập dềnh
Ruộng ken lớp lớp gập gềnh thấp cao
Nón ai nghiêng đợi câu chào
Ấp e ngọn gió thổi vào thung xanh.
Nhấp nhô nửa lá nửa tranh
Nửa đon tiếng mẹ mời anh nghỉ đƣờng.
Giếng trƣa chao nắng gàu buông
Mát trong nón là em thƣơng múc đầy
Chuối vƣờn vừa nặng vừa say
Mƣa chiều nên ngọt những ngày nắng rang.
Muốn sang Phúc Trạch thì sang
Bƣởi ngon chọn quả rám vàng mà ăn
Mít đồi nửa chín nửa xanh
Gai thƣa lắm múi nhìn cành mà đon.
Muốn thơm nhấp lá chè non
Muốn vui chén rƣợu, lạc giòn nắm tay.
Nghe câu em nói “ơ hay”
Có đi mới biết đất này thật chƣa.
Lạc vào cảnh cũ thơ xƣa
Đèo Ngang ngả bóng chiều mƣa tím rừng...
1995
*Quê Cẩm Nhƣợng - Cẩm Xuyên, từng là giảng viên Đại học sƣ phạm Vinh
Lê Duy Văn*
Chiều Đèo Ngang
Mấy lần muốn đến Đèo Ngang
Không em mấy bận lỡ làng mình tôi
Quanh co đƣờng đến với trời
Chỉ mình tôi với những ngƣời Đèo Ngang.
Buồn vui cứ thế xốn xang
Nỗi niềm đa cảm nặng mang với đèo
Vẫn đâu đây bóng chú tiều
Câu thơ Bà Huyện còn gieo nặng lòng.
Ở quê em có biết không
Nón nghiêng tay vẫy cay nồng mắt ai
Biển gầm thét giữa ngày dài
Cây rung, gió thổi hát bài vu vơ
Đèo Ngang đẹp, Đèo Ngang thơ
Tiếng con cuốc gọi ngẩn ngơ tím chiều
Em tôi chắc sẽ mong nhiều
Đèo Ngang thơ viết một chiều cho ai?
1990
*Quê Hƣng Nguyên - Nghệ An. Nhiều năm công tác tại Hội VHNT Hà Tĩnh. Cán bộ biên tập Tạp chí Sông Lam, Nghệ An.
Lê Anh Xuân*
Gửi Miền Bắc
Quê tôi có những mái nhà lá nhỏ
Bên bờ Cửu Long xa cách sông Hồng
Nhƣng tuổi thơ tôi trong những giờ sử ký
Theo Quang Trung tôi từng đến Thăng Long.
Nhớ những chiều nhìn về phƣơng Bắc
Thấy xa xa đàn cò trắng bay về
Tôi ngỡ trên lƣng cò có chút bùn miền Bắc
Dù cánh cò chẳng bay tới ngoài kia.
Tôi lớn lên giặc ngăn chia đất nƣớc
Nhƣng súng gƣơm đâu ngăn đƣợc tình thƣơng
Đâu ngăn đƣợc mặt trời đỏ rực
Khi lòng tôi đã hóa hƣớng dƣơng.
Tôi lắng nghe tim tôi vội đập
“Đây là đài tiếng nói Việt Nam”
Nghe ngoài đó gió mùa Đông Bắc thổi
Tôi muốn gửi chút lòng tôi chút nắng Hậu Giang.
Tôi vui theo từng mái trƣờng ngói đỏ
Từng vỉa than đen, từng ghé lúa vàng
Tôi đau đớn Mỹ dội bom tàn phá
Tất cả những gì tôi quý, tôi thƣơng.
Dù Đèo Ngang tôi chƣa từng đến
Thơ Bà Huyện Thanh Quan tôi đã đọc thuộc lòng
Hoa lá, cỏ cây có bị bom cháy sém
Mái nhà xƣa dƣới núi có còn không?
Ôi mảnh đất bốn ngàn năm lịch sử
Đã chôn vùi bao lũ xâm lăng
Hôm nay lại đánh tan giặc Mỹ
Xác phản lực rơi bên cạnh mũi tên đồng.
Tôi nhớ mãi từng tên sông, tên núi
Tên những chiến công, tên những anh hùng
Tin chiến thắng từ quê hƣơng kết nghĩa
Vọng về Nam giục giã bƣớc chân.
Cả hai miền cùng một ngôi sao đỏ
Cùng ánh trăng soi ngọn súng trƣờng
Hố bom trong này giống hố bom ngoài đó
Cả hai miền cùng một kẻ thù chung.
Từng tảng đất ở miền Nam phá lộ
Đang chuyển ra miền Bắc sửa đƣờng
Than Cẩm Phả đã cháy bừng ngọn lửa
Bập bùng soi giữa đỉnh Trƣờng Sơn.
Ôi miền Bắc nơi lòng tôi yêu quý
Nơi bừng lên một chân lý: Bác Hồ
Nơi đang dựng một thiên đƣờng hùng vĩ
Nơi còn đây di chỉ của ngƣời xƣa.
Nơi tôi đã thƣơng yêu từ thủa nhỏ
Trong máu tôi có dòng máu cha ông
Nhƣ trái sầu riêng trên bờ sông Nam Bộ
Có hƣơng phù sa của nƣớc sông Hồng.
Gửi miền Bắc cả trái tim tôi đó
Ngày ngóng trông, đêm thƣơng nhớ xiết bao
Gửi miền Bắc lòng miền Nam chung thủy
Đang xông lên chống Mỹ tuyến đầu.
1966
*Tên khai sinh Ca Lê Hiến, sinh 1940 tại Châu Thành - Bến Tre, tốt nghiệp đại học Tổng hợp Hà Nội. 1964 vào Nam công tác tại Ban tuyên huấn Trung ƣơng cục, rồi Văn nghệ quân Giải phóng. Năm 1968 hy sinh ở Cần Guộc - Long An.
Lê Anh Xuân có nhiều tác phẩm: Tiếng gà gáy, Hoa dừa, Nguyễn Văn Tới...
3. Các thi nhân con em ngƣời Kỳ Anh
Kỳ Anh là vùng đất mƣa dầm nắng lửa, đất đai khô cằn sỏi đá, khí hậu khắc nhiệt, nắng sém da ngƣời và giá rét thấu xƣơng. Quanh năm vất vả với đồng chua nƣớc mặn, củ khoai củ sắn nuôi sống con ngƣời bao thế hệ. Nhƣng cũng từ trong khó khăn gian khổ mà con ngƣời rèn luyện đƣợc tinh thần vƣơn lên mạnh mẽ, làm chủ và chống chọi với thiên tai địch họa.
Thơ ca hò vè chính là một nguồn suối mát lành tƣới lên mảnh đất khô cằn, nuôi dƣỡng tâm hồn con ngƣời luôn lạc quan, yêu đời, yêu quê hƣơng và mong muốn góp sức xây dựng quê hƣơng ngày càng tƣơi đẹp.
Ngƣời Hà Tĩnh nói chung và Kỳ Anh nói riêng, mỗi ngƣời dân đều có thể là một nhà thơ. Đấy chính là một đặc sản vô cùng quý giá mà hùng thiêng sông núi đã hun đúc nên từ bao đời, ai cũng có trách nhiệm gìn giữ và phát huy, để vùng đất này xứng danh là: Vùng đất của các thi nhân...
Những nhà thơ có bài trích trong quyển sách này chỉ là một phần nhỏ đƣợc chọn, đại diện cho các nhà thơ dân dã Kỳ Anh mà trong khuôn khổ một cuốn sách không thể nhắc hết tên.
Chúng tôi hân hạnh giới thiệu tên tác giả theo thứ tự vần chữ cái ABC...
Dương Kỳ Anh*
1. Chốn quê
Chốn quê, cảnh cũ đâu còn
Mây bay cuối thàng, trăng non đầu mùa
Cháy nhƣ ngọn bấc ngày xƣa
Đèn ai mấy ngọn, cuối bờ sƣơng sa.
Cỏ sân chùa nhớ gốc đa
Mái tranh nhớ hạt mƣa qua tháng mƣời
Ngƣời dƣới đất, kẻ cuối trời
Thẳm xanh... một dải... muôn đời... chốn quê.
1985
2. Trăng biển
Thế rồi, ta cứ vẩn vơ
Một vầng trăng bạc, hai bờ cây xanh
Triều cƣờng, con nƣớc đang lên
Mới hay trăng đã ngự trên đỉnh trời
Biển dâng, trăng cứ gọi mời
Bao giờ trăng lại về nơi non ngàn
Trăng nghiêng sau lũy tre làng
Sƣơng đêm còn ngậm muôn ngàn hạt châu
Ngƣời về, trăng biết về đâu
Để ta chén rƣợu, với câu thơ buồn
Đêm nay dƣới ánh trăng suông
Một mình, một bóng, một cồn cát xa
Một vầng trăng đẹp nõn nà
Ngây thơ trăng lại cùng ta... trốn tìm...
Ta về gối bóng trăng xanh
Nghe đêm biển biếc một mình hát ca.
1986
3. Má quạt thóc bên đƣờng
Má quạt thóc bên đƣờng
Quạt bằng manh chiếu rách
Kẹp giữa đôi chân gầy khẳng khiu.
Buổi chiều oi nồng không một ngọn gió
Những chiếc xe lam đi qua
Những chiếc xe Hon-đa đi qua
Những chiếc xe con bóng lộn đi qua
Ngỡ nhƣ không ai để ý
Má quạt thóc bên đƣờng.
Ôi, những hạt thóc vàng
Gặt đập từ chân ruộng
Phơi trên đƣờng cái quan.
Tôi sững sờ gặp lại dáng mẹ tôi
Quạt thóc bên đƣờng ba mƣơi năm trƣớc
Thời gian đọng cứng lại nhƣ bùn.
Từ bàn tay của má
Thổi vào hồn tôi nhƣ một ngọn gió buồn
Thổi vào không gian những luồn nắng gắt
Thổi vào cuộc đời bao nhiêu điều day dứt
Thổi lên trang thơ sự thật.
1990
*Dương Kỳ Anh, tên thật là Dƣơng Xuân Nam, quê xã Kỳ Xuân. Cử nhân khoa văn, đã từng là sĩ quan điều khiển tên lửa, cán bộ giảng dạy đại học, Tổng biên tập báo Tiền phong. Đã xuất bản hàng chục đầu sách về thơ và văn xuôi. Có tên trong từ điển Danh nhân văn hóa khu vực Châu Á, Thái Bình Dƣơng.
Võ Thị Ngọc Anh*
Viết thay dòng lƣu bút
Chẳng thể nào níu giữ đƣợc đâu em
Con thuyền tuổi thơ cập bến bờ kỷ niệm
Mái trƣờng xƣa nhuốm phủ hoàng hôn tím
Lá vàng rơi lƣu luyến bƣớc em đi…
Khi ve ngân, phƣợng cháy, mùa thi
Khi trăn trở trƣớc những dòng lƣu bút
Khi màu mực ƣớt nhòe cùng nƣớc mắt
Là xa hoài, xa mãi, tuổi thơ ơi!
Những ngày qua tất cả giản đơn thôi
Một ánh mắt bạn trai, phút giận hờn bạn gái
Những con điểm thầy buồn nhƣng không nói
Để bây giờ nhức nhối không quên…
Những kỷ niệm qua rồi, không thể gọi bằng tên
Sao cứ cháy âm thầm trong ký ức
Phút xa trƣờng đừng ai buồn, ai khóc
Để ngày mai thao thức nhớ về nhau.
*Sinh năm 1975, quê xã Kỳ Phong, tốt nghiệp Cao đẳng sƣ phạm Nghệ An, Giáo viên Trƣờng THCS thị trấn Kỳ Anh
Nguyễn Thành Bắc*
Nói với con
Cha chẳng phải là nhà giáo đâu con
Cha chỉ biết yêu thơ và làm ra hạt lúa
Tất cả tình thƣơng cha dành cho con đó
Nên rất yêu nghề giáo con ơi.
Thơ viết về các thầy cô, xin chẳng nhiều lời
Nhƣ cây lúa cần công chăm bón
Nhƣ biển cả cho đời muối mặn
Thầy cô gieo hạt giống: Con ngƣời.
Mai đến trƣờng con học, con chơi
Thầy cô giáo là cha mẹ đấy
Thầy, cô dạy những gì cha không thể dạy
Chắp cho con đôi cánh vƣợt đƣờng xa.
Và những gì có thực ở trong cha
Cũng là công lao của thầy cô giáo
Con làm trọn đôi điều thầy chỉ bảo
Thầy cô vui, cha mẹ yên lòng.
Mặt trời lên từ phia biển mênh mông
Con khôn lớn từ công cha nghĩa mẹ
Con có tầm nhìn suốt chiều dài lịch sử
Công ơn thầy cô giáo đã cho con.
*Tên thật Nguyễn Thông. Quê Kỳ Bắc. Hội viên câu lạc bộ thơ xứ Voi.
Nguyễn Hoa Bằng*
Hai lần vào đại học
Lần thứ nhất vừa tốt nghiệp phổ thông
Tôi bƣớc vào đại học
Tuổi trẻ có nhiều mơ ƣớc
Tôi đi theo con đƣờng thầy giáo chỉ cho tôi.
Cuộc đời sinh viên xôn xao bao niềm vui
Chúng tôi soi mình qua những trang giáo án
Sắp bƣớc lên bục giảng
Lửa chiến tranh trùm lên những mái trƣờng
Tập giáo án gửi lại ngƣời thƣơng
Tôi cầm súng ra chiến trƣờng đánh giặc.
Lần thứ hai tôi bƣớc vào đại học
Trƣờng đại học của tôi – mở giữa tiền phƣơng
Đâu chỉ là khoa toán, khoa văn
Khoa lý, khoa sinh, khao sử
Chúng tôi học làm ngƣời chiến sĩ
Chiến đầu, noi gƣơng lớp lớp anh hùng.
Hành quân xa dọc suốt dảy Trƣờng Sơn
Gõ báng súng, sức dồn căng lồng ngực
Chúng tôi những bài ca đất nƣớc
“Tiến về Sài Gòn giải phóng miền Nam”
Ngày mai khi thống nhất Bắc - Nam
Tôi sẽ trở về kể với các em
Chuyện hành quân, chuyện công đồn giết giặc
Chuyện tuổi trẻ chúng tôi
Thuở ấy, hai lần vào đại học.
Quảng trị 1972
*Quê xã Kỳ Bắc - Kỳ Anh. Từng là chủ nhiệm khoa Văn, đại học Cần Thơ
Hoàng Thái Cát*
Quê mẹ Kỳ Anh
Kỳ Anh linh địa vốn xƣa nay
Thế núi hình sông đẹp đó đây
Cửa Khẩu hùng linh Đền liệt nữ
Cổng Hoành đồ họa cảnh trời mây.
Sông quê uốn khúc xanh đồng nội
Cảng Áng vào ra cập bến đầy
Trăm bảy mƣơi năm nuôi trí lực
Giàu sang thai nghén đã bao ngày.
*Quê Kỳ Ninh - Kỳ Anh - Hà Tĩnh. Từng công tác ở ban tuyên giáo kỳ Anh. Nguyên giám đốc Trung tâm bồi dƣỡng chính trị huyện Kỳ Anh.
Trần Khánh Cẩm*
1. MƢA
Mƣa trời từng hạt bay xiên
Mƣa đời đan dệt từng viên Tình, Tiền
Mƣa lòng rả rích triền miên
Mƣa thƣơng, mƣa nhớ, buồn phiền tâm tƣ.
Đông về trời đỗ cơn mƣa
Gió se se lạnh vần thơ nỗi lòng...
Nghĩ về ký ức xa xăm…
Thƣơng thƣơng, nhớ nhớ, chờ mong, giận hờn!
Ai an ủi nỗi tâm hồn?
“Tình ca, kỷ niệm “ ôm đờn giải khuây
Ngoài trời mƣa gió lắt lay .
Mƣa mƣa có hiểu lòng này nhìn mƣa?
2. THU
Cảnh vật giao mùa đã đến Thu
Nắng chiều êm dịu gió nhƣ ru
Mây trên đĩnh núi trôi nhè nhẹ
Nƣớc dƣới dòng sông chảy từ từ
Một chiếc thuyền nan chèo lặng lẽ
Đôi con cò trắng lƣợn vô tƣ
Tâm hồn tƣởng nhớ bao kỹ niệm…
Những mối tình xƣa ta với Thu
* Sinh 1938, quê Kỳ Bắc, Kỳ Anh, Hà Tĩnh
Nghệ nhân nhân dân - Sưu tầm và truyền bá dân ca Nghệ Tĩnh
Nguyễn Xuân Cát*
Sông quê tôi
Con sông quê mình tuổi đã bao nhiêu
Mà cái tên gợi bao điều suy nghĩ
Ai đã gọi tên dòng sông Trí
Để cho đời nặng nỗi suy tƣ.
Ơi dòng sông mấy khúc nông sâu
Có nhớ quê mình thƣơng đau bao nỗi
Mùa cạn, mùa sâu lòng sông chìm nổi
Mới hiểu rằng sông cũng nhớ cũng thƣơng.
Sông cũng nghèo, ơi sông của quê hƣơng
Mỗi giọt nƣớc chắt chiu từ ngọn suối
Gặp mùa mƣa sông mở lòng chảy vội
Gom phù sa cho cảnh bãi đôi bờ.
Khi trên đồng cây lúa xác xơ
Đất nẻ chân chim khô đòng héo rễ
Thƣơng cây lúa xót xa nhƣ lòng mẹ
Vắt kiệt dòng sữa để nuôi con.
Ai bảo rằng sông không biết căm hờn
Mà lắm lúc cũng đục ngầu dữ dội
Quét sạch bọt bèo, bùn nhơ rác rƣỡi
Con sông quê mình cũng biết nhục biết vinh.
Sông với ngƣời sâu nặng yêu thƣơng
Ngƣời với sông trắng trong chung thủy
Con sông của quê tôi - Sông Trí
Đất nuôi ngƣời, sông là máu của quê hƣơng.
1987
* Quê Kỳ Châu - Kỳ Anh - Hà Tĩnh, từng làm giáo viên, từng công tác tại Ủy ban nhân dân huyện.
Võ Minh Châu*
1. Đèo Ngang
Biết mấy thi nhân gặp nhau ở nơi này?
Tôi là kẻ hậu sinh, chƣa thể nào hiểu hết
Mỗi câu thơ mang một niềm tâm huyết
Hai mái đèo, biết mấy nỗi niềm riêng.
Lê Thánh Tông cƣỡi sóng vút thênh thênh
Thuyền rong duổi trên cửa dòng Xích Mộ
Bùi Huy Bích qua cánh rừng hiểm trở
Nguyễn Du ôm sầu hận suốt mƣời năm.
Lƣng đeo kiếm, tay ôm đàn đứng hát
Trời thăm thẳm ai xui làn mây bạc
Trên đỉnh đèo đối mặt với thi nhân
Sao Chu Thần cứ lần lữa bàn chân.
Đứng trƣớc biển chƣa chịu rời dặm núi
Thƣơng nƣớc cũ, anh hùng không cứu nổi
Chút tâm tình an ủi nẽo đƣờng xa
Bà Huyện qua đây bóng đã xế sang tà.
Hồn cô phụ bồn chồn theo tiếng cuốc
Một mình với một vùng non nƣớc
Chút tâm tình, chỉ ta với riêng ta...
Bao vui buồn từ thuở ông cha
Của chúa thƣợng, của anh hùng thi sỹ
Và câu thơ vƣợt lên tầm thế kỷ
Của Nguyễn Sinh Cung ứng khẩu thuở nhi đồng.
Cứ mỗi lần theo tâm sự của cha ông
Tôi tìm đến với miền đất ấy
Suốt mấy trăm năm rồi Đèo Ngang giờ vẫn vậy
Những chú tiều dƣới núi lại càng đông.
Viết trong mùa giáp hạt 1988
2. Nơi cửa gió
Đã có một Trƣờng Sơn đi qua
Lại còn thêm một Hoành Sơn nữa
Núi khép núi - Nơi ấy thành cửa gió
Mùa hạ - Gió Lào rang khô cả mạch giếng làng…
Tạo hóa bao đời chọn mảnh đất Đèo Ngang
Làm sân khấu để diễn trò mƣa bão
Vạn tấn bom trút xuống mảnh đất này
Nƣớc Mỹ hiểu thế nào là nhân đạo?
Mƣời bốn vạn dân quê tôi
Chẳng thích làm con rối
Đã bao phen bão lửa
Chƣa một ai vắng mặt giữa chốn này.
Bao kiếp ngƣời nhƣ lau cỏ lắt lay
Vẫn bám trụ giữa một vùng dâu bể
Nơi mảnh đất tận cùng xứ Nghệ
Đến nhƣ là... đá cũng đổ mồ hôi.
Có nơi nào nhƣ ở quê tôi
Công dựng cửa xây nhà nhƣ dã tràng xe cát
Công cấy lúa trồng khoai nhƣ thể là đánh bạc
Chuyện đƣợc thua tính từng buổi từng ngày.
Nghĩ mà thƣơng mƣời cái ngón tay
Nếu cũng mòn nhƣ cuốc cào dao rựa
Biết lấy chi mà cầm đũa
Lấy chi mà vuốt mái tóc em.
Lấy chi mà giã trầu cho mẹ
Lấy chi mà thắp hƣơng ngày giỗ tổ
Lấy chi mà bắt tay bạn bè ngày gặp gỡ
Mà nâng mời nhau bát nƣớc chè đầy.
Bao cuộc đời nghĩ thua kém chi ai
Từng suy nghĩ bạc đầu nơi cửa gió
Mảnh đất ông cha đói nghèo ai nỡ bỏ
Đánh thức trái tim mình ta tìm hƣớng đi lên.
Tháng 10-1989
*Sinh 6-2-1950, quê Kỳ Sơn - Kỳ Anh - Hà Tĩnh.
Hội viên Hội nhà báo Việt Nam, Phóng viên báo Tiền Phong tại Hà Tĩnh
Nguyễn Tiến Chưởng*
1. Bên bóng Hoành Sơn
Kính tặng đất mẹ Kỳ Anh
Một dải non xanh, sóng vỗ bờ
Ân tình sâu nặng tự ngàn xƣa
Bể dâu bao độ hồn neo lại
Bên bóng Hoành Sơn ngân tiếng thơ.
2. Ân tình câu ví
Những câu ví mang tình của đất
Hồn tre pheo, giếng nƣớc, trăng làng
Những câu ví có cánh cò, cánh vạc
Chở tình ngƣời trong âm điệu mênh mang...
Những câu ví trăm năm rồi vẫn trẻ
Nhƣ O mình chƣa ai gọi bà đâu
Những câu ví nặng tình nặng nghĩa
Gái trai làng thêm dịp quý thƣơng nhau.
O hiền thục thảo thơ, ít chữ
Mà sử kinh O vận ví làu làu
Khiến Cụ Cử, ông Nghè phải chịu
“Nƣớc lên nhân nhẫn bờ rào”...
Núi Hoành Sơn, Bàn Độ xanh cao
Xứ địa linh sinh ngƣời anh kiệt
Điệu ví O nhƣ mạch nguồn tinh khiết
Giữ hồn ngƣời đôn hậu thanh cao.
Bọn chúng con lớp trẻ sinh sau
Bao làn điệu... vẫn nhớ về câu ví
Mong giữ đƣợc một chút tình tri kỷ
Nhƣ O từng ví giữa trăng sao.
Tháng 12-2004
Kỳ Anh kiên trung
Sáng thức dậy quê bổng thành hai nửa
Thấy yêu thƣơng đất mẹ anh hùng
Mẫu Hải Khẩu vẫn nhìn ta rạng rỡ
Rất nhân từ và độ lƣợng bao dung.
Mấy trăm năm tƣơi cành chung gốc
Giờ phải đôi nơi sao chẳng mủi lòng
Xin hãy gác những niềm riêng nhỏ nhặt
Giữ yên bình cho mảnh đất cha ông.
Ta còn đó tƣợng sơn, Bàn Độ Nhƣ Nhật, Long Trì, Vọng Liệu, Cung Voi...
Ta còn đó Hà Trung, Văn Miếu cũ O Nhẫn Đan Du còn sáng mãi muôn đời.
Ta còn đó hồn bao liệt sĩ Đền Phƣơng Giai nơi Đảng bộ ra đời Lê Bá Cảnh, Nguyễn Trọng Bình ngời ngời chân lý
Thúc dục ta làm nên những mùa vui.
Ta về với Non Hƣơng, Bàu Bạc
Dòng Lê xanh trong mát lòng ta
Bao gian khó dân sẻ chia góp sức
Thị trấn rồi điện sẽ sáng nguy nga...
Hãy thức dậy biển bờ Xuân, Khang, Phú
Du khách về cho biển rộng dài thêm
Nông trang mở, đất mùa tăng thêm vụ
Hàng hóa giao thƣơng, nồng ấm biết bao miền.
Vực dậy rừng, đồng quê, nguồn, lạch
Ta đi lên từ sức mạnh lòng ta
Dòng mƣơng nhỏ cũng hòa chung ngọt mát
Đất tơi lành sớm dâng những mùa hoa.
Thức dậy hết những vẻ quê thuần phác
Xây tinh hoa, trí tuệ, tâm hồn
Chung sức lại ta làm nên hạnh phúc
Trên quê mình nhân hậu kiên trung.
Sức sáng tạo bồi thêm nguồn lực mới
Tiềm năng nào hơn đƣợc tấm lòng dân
Hiện thực hóa những gì dân mong đợi
Kỳ Anh ơi, yêu Mẹ đến muôn lần.
Kỳ Anh, 18-5-2015
*Sinh 1951, quê Kỳ Bắc - Kỳ Anh - Hà Tĩnh. Tham gia quân đội chống Mỹ. Tốt nghiệp Đại học sƣ phạm Vinh, nguyên hiệu trƣởng Trƣờng cấp 3 Nguyễn Huệ. Hội viên Hội VH-NT Hà Tĩnh
Đường Hồng Dật*
Nét mới Kỳ Anh
Ở nơi xa đón tin vui quê mẹ
Xuân đang về trên đồng đất Kỳ Anh
Lúa đang lên bát ngát một mùa xanh
Vƣợt gian khó đi lên trong đổi mới.
Cuối Mậu Dần đón tin mừng Vũng Áng
Cảng nƣớc sâu mở cửa với bạn bè
Chân Đèo Ngang mƣợt sắc những nƣơng chè
Nhƣng có cảng Kỳ Anh thêm nét mới.
Đón Kỷ Mão bao nhiêu ngƣời mong đợi
Biển Kỳ Anh rực sáng những ƣớc mơ
Cát trắng tinh nƣớc xanh biếc đón chờ
Khách du lịch tìm về thiên nhiên đẹp.
Ruộng Kỳ Phong vàng ƣơm màu lúa nếp
Bánh tày Voi ngon miệng khách lại qua
Giò chả Kỳ Châu nhớ từ những ngày xa
Đoàn lính trẻ hành quân qua huyện lỵ.
Đồi núi miền Tây qua bao thế kỷ
Vẫn khô cằn qua từng tảng đá ong
Đảng chỉ đƣờng với sức mạnh lòng dân
Dãy đồi trọc biến dần thành nƣơng quả.
Trong bƣớc đi lên ngại gì vất vả
Thành công nào chẳng phải vƣợt khó khăn
Điều rất cần là đổi cách làm ăn
Nông thôn mới đang cần công nghiệp hóa.
Từ nơi xa gửi quê hƣơng nỗi nhớ
Với mùa xuân càng da diết tình quê
Đƣờng đời qua bao nhiêu nẻo đi về
Vẫn son sắt con đƣờng nơi quê mẹ.
Hà Nội 21-1-1999
*Giáo sƣ tiến sỹ, quê Kỳ Phong - Kỳ Anh. Sống tại Hà Nội,
Nguyên thứ trƣởng Bộ nông nghiệp. Tổng biên tập báo Khoa học và Đời sống.
Nguyễn Din*
Quê hương – Một giấc mơ
Trong giấc mơ
Tôi như đi...
Nhƣ bay...
Quê hƣơng ơi cả đất trời say đắm
Tôi dang rộng cánh tay
Ôm choàng hòn Cao Vọng
Tóc vờn mây vàng óng
Sóng mơn man bàn chân.
Hơi ấm quen thân nhè nhẹ
Tôi mơ màng lòng mẹ tuổi ấu thơ.
Trong giấc mơ
Tôi cùng nàng Bích Châu xuống biển
Đang cuồng phong biển trở lại hiền hòa
Để cho đời huyền thoại cửa Kỳ La.
Quê hƣơng tôi rực rỡ màu hoa.
Tôi đi trong bao la
Nghe tiếng nhạc reo ca từ đƣờng cày lật đất
Của những ngƣời nông dân quê tôi cần cù, chân chất
Và tầm cao Ý - Chí** vĩnh hằng
Để cho đời song mộ tựa vầng trăng.
Từ Tuần Tƣợng bồng bềnh về Bàn Độ
Gặp Hoành Sơn vờn gió Biển Đông
Lồng lộng Đèo Ngang nắng vàng xao xuyến
Biển ru hời khúc hát mênh mông.
Nhộn nhịp bên sông san sát nhà
Đàn bò núc ních, lạc đơm hoa
Dẫu rằng giàu có còn e ấp
Nhân tình lƣu luyến khách đƣờng xa.
Ngọt lịm bên lòng một tiếng “Anh”
Tôi bừng tỉnh giấc giữa ngày xanh
Đã nghe rộn rã mùa xuân đến
Tuôn chảy dòng kênh, điện long lanh.
1993
*Quê xã Kỳ Thư - Kỳ Anh - Hà Tĩnh. Nguyên Chủ tịch UBND huyện và Bí thư huyện ủy Kỳ Anh.
**Hai anh em Lê Quảng Chí và Lê Quảng Ý
Đường Khắc Du*
Quê Voi
Dù đi lƣu lạc phƣơng trời
Chợ Voi ta đó là nơi quê mình
Một vùng non nƣớc hữu tình
Đi đâu cũng nhớ cội cành tƣơi xuân.
Tang bồng hồ thỉ bốn phƣơng
Vẫn luôn theo dõi bƣớc chân quê nhà
Nhớ Bầu Diện, nhớ Ngã Ba
Nƣớc nhiều cá lắm ruộng ta không đầy.
Quê ta gian khổ bao ngày
Vƣờn làng lối xóm cỏ cây cản đƣờng
Nhà tranh vách đất phong sƣơng
Nhân dân lam lũ ruộng nƣơng tiêu điều.
Ngày nay Đảng gọi làm theo
Quê Voi đã xóa đói nghèo thuở xƣa
Cuộc đời đã bớt nắng mƣa
Đƣờng thông hè thoáng lá cờ tung bay.
Đêm đêm điện sáng nhƣ ngày
Nhà cao cửa rộng tƣờng xây ngói hồng
Thỏa lòng con cháu ƣớc mong
Về thăm quê mẹ mà lòng hân hoan.
Công ơn Đảng quý hơn vàng
Cho ta độc lập giàu sang đổi đời
Ai về quê mẹ xứ Voi
Đừng quên hai tiếng ru hời mẹ ru.
*Quê xã Kỳ Phong - Kỳ Anh - Hà Tĩnh. Nhà giáo về hƣu, sống tại thành phố Hà Tĩnh
Trần Nguyên Đào*
Bữa cơm
Ngƣời đi trực chiến về
Cày cũng vừa tan buổi
Trăng ló sau lùm tre
Tiếng cƣời ran khắp lối.
Giữa sân mâm đặt vội
Chày khua dối cối vừng
Nồi cơm vừa chín tới
Thơm toát ra ngoài vung.
Mẹ luôn tay xối đỡ
Từng bát đầy nhƣ hoa
Đôi đũa thừa trong rổ
Nhắc nhở ngƣời đi xa…
Các con ngồi xúm lại
Khói tỏa má tròn căng
Qủa cà dằn mặn muối
Nhai dòn trong ánh trăng.
Chuyện cày bừa gieo hạt
Chuyện sửa vá cầu đƣờng
Việc hàng ngày chống giặc
Lại đi vào bữa cơm.
Ôi bữa cơm giản dị
Rất thanh khiết Việt Nam
Nhƣ đất này đánh Mỹ
Vẫn đƣợm màu dân gian.
*Nhà thơ quê Kỳ Châu, công tác và sống ở Hà Nội.
Hà Hoàng Điệp*
1. NHỚ MÃI TUỔI HỌC TRÕ
Bao năm xa bạn, xa thầy
Bấy nhiêu nỗi nhớ đong đầy trong tôi
Nhớ lớp học, nhớ chỗ ngồi
Nhớ bảng đen, nhớ từng hồi trống vang
Nhớ từng vạt cỏ bên đàng
Nhớ trƣa đá bóng nhớ sang sân trƣờng.
Nhớ ao cá nhớ bờ mƣơng,
Nhớ đêm tối mịt mà đƣờng còn xa.
Nhớ ngày gió bão mƣa sa
Dìu nhau qua suối lỡ đà trƣợt chân
Nhớ ngày đông giá đến gần
Bạn, tôi áo vá chân trần đạp sƣơng
Nghĩ về ngày ấy mà thƣơng
Áo manh chân đất bấm đƣờng mà đi
Ve kêu giục giã mùa thi
Ngọn đèn leo lét muỗi thì vo vo
Cơm khoai bữa đói bữa no
Ngày đêm chẳng quản, mãi lo học bài
Nhiều đêm gà gáy canh hai
Chụm đầu bên bạn sửa bài cho nhau
Canh khuya bên ngọn đèn dầu
Cùng nhau xây mộng ngày sau đổi đời
Tháng năm nối tiếp nhau trôi
Giờ đây gặp lại bồi hồi xiết bao
Nghĩ mà lòng dạ nao nao
Bốn lăm năm tƣởng mới nào hôm qua!
Hà Tĩnh 5/1976 – Sài Gòn 5/2021
2. THU XƯA
Thu đang còn mấy độ
Hà cớ chi đông về
Em có còn nhớ nữa
Hè năm nào chốn quê?
Đông qua rồi Xuân tới
Hạ lùi bƣớc Thu về
Bốn mùa cây thay lá
Quên em anh không hề!
Đi bao năm bao tháng
Trải bao nắng bao mƣa
Tâm anh còn in mãi
Dáng hình em gái xƣa.
Xa xăm hình bóng cũ
Nỗi nhớ vẫn vẹn nguyên
Cách nhau đà vạn nẻo
Mong Em tròn chữ Duyên!
Kỳ anh, 2020
* Sinh 1958, quê Kỳ Hải, Kỳ Anh, Hà Tĩnh, cấp 3 Kỳ Anh 1973-1976, tốt nghiệp Đại học Thủy lợi - Hà Nội, sống và làm việc tại TP.HCM
Nguyễn Thạch Đồng*
QUÊ MÌNH QUÊ BIỂN (Gửi em mùa biển mặn...)
Quê mình bên biển em ơi!
Sóng neo thân cá, cát bồi phận tôm
Lênh đênh làng nổi chiều nồm
Dập dềnh biển cạn sóng cồn bãi ngang.
Một đời ăn sóng* nên làng
Ngàn năm nói gió* mênh mang tình ngƣời
Thênh thang biển cả ngàn khơi
Mịn màng một dãi cát ngời dấu xƣa
Làng quê bên sóng bây giờ
Thuở nghèo tre lá lợp vừa mái tranh
Nghĩa tình thơm chát chè xanh
Thƣơng nhau nuộc lạt để giành bát cơm
Đƣờng làng thơm cá, thơm rơm
Sân nhà thơm thóc, góc vƣờn thơm hoa...
***
Tình đời cất bƣớc đi xa
Tình ngƣời về với quê nhà hôm nay
Làng quê đổi mới từng ngày
Nhà cao mái ngói tƣờng xây rạng ngời
Từng đàn em nhỏ vui tƣơi
Tung tăng tới lớp tiếng cƣời vang ngân
Nụ cƣời hoa nở mùa xuân
Tƣơng lai rạng rỡ muôn phần đẹp tƣơi...
Quê mình, quê biển em ơi!
Xanh xanh biển cả ngát trời tràm thơm!
Sáng Nam* để có chiều Nồm*
Đồng thơm hƣơng lúa, cá tôm tìm về
Ngƣời quê sống giữa tình quê
Rách lành đùm bọc chƣa hề đổi thay
Tình nhƣ bông lúa thơm cây
Nghĩa nhƣ Bàn Độ* sánh tày biển Đông
Dân quê tấm áo nâu sồng
Thủy chung son sắt nhƣ sông chung nguồn
Áo nâu mẹ vá cánh buồm
Ngày cha vƣợt biển, mặn hồn biển khơi
Buồm giong tới những chân trời
Con nay rẽ sóng nhớ thời buồm nâu!
Quê hƣơng nghĩa nặng tình sâu
Xa quê muôn nẻo nhắc nhau tìm về
Ngƣời đi mang nặng hồn quê
Ngày về nghe biển thầm thì gọi tên...
Nhớ về quê nhé, nghe em!
Nồm, Nam anh đợi, bên thềm sóng reo!
P/s: Ăn sóng nói gió: Thành ngữ về lời ăn tiếng nói của ngƣời dân miền biển.
- Gió Nam: Gió Phơn Tây Nam cũng là gió Lào quê tôi.
- Gió Nồm: Gió thổi từ biển vào đất liền rất mát.
- Núi Bàn Độ: Dân quê hay gọi là rú Ba Đọ, một ngọn núi cao sát biển quê tôi.
2. HOA BIỂN
Hoa biển bên bờ cát mỏng
Cát trắng trong cho hoa tím dịu dàng
Mơn man sóng căng tròn ngực trẻ
E ấp bờ tím biếc mênh mang...
Ai nỡ trách một đời hoa bờ bãi
Bão dập mƣa chan chát mặn biển khơi
Cồn cào sóng đất trời nghiêng biển động
Bão tố qua rồi lại xanh thắm trùng khơi.
Tôi yêu biển, cồn cào tôi yêu biển
Nhỏ nhoi ơi! Hạt cát nhỏ trên đời
Tôi nhớ biển, giận hờn tôi nhớ biển
Biển đâu rồi! Bé bỏng cát của tôi!
Hoa vẫn thế, tím trong chiều biển nhớ
Sóng cứ đi, sóng đừng mãi lang thang
Ngƣời cứ nhớ, mong chi ngày hóa đá
Mai cạn rồi, còn nhớ biển ngƣời ơi!
Sóng cứ xanh, màu xanh của đại ngàn...
Hoa bên cát một đời hoa bên cát
Lặng lẽ thơ ngây đằm thắm sắc trời
Ngàn năm sóng, ngàn năm hoa của biển.
3. QUÊ MẸ TRÀM THƠM
(Kính tặng quê mẹ Kỳ Phú thân yêu)
Mẹ gánh cả mặt trời lên
Cho cuộc đời con khỏi lệch
Mỡ màu hạt nắng hai vai
Dẻo thơm đòn gánh cuộc đời.
Mặt trời rong chơi ngủ muộn
Gió Lào quạt lửa ngày đêm
Mồ hôi sôi lƣng vạt ruộng
Luộc mềm vạt nắng chiều buông.
Nhúm rau gửi vào đất cát
Ruột rà dành cả cho con
Đất quê tràm thơm xanh ngát
Ngƣời quê núm ruột quê hƣơng…
*Sinh 1958, quê xã Kỳ Phú. Thƣờng trú: Phƣờng Hƣng Trí, Thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Trình độ: TN Đại học SP Ngữ văn – ĐH Huế
Hội viên Hội Liên hiệp VHNT Hà Tĩnh, Chuyên nghành Thơ
Tác phẩm: Gió đổi mùa, xuất bản 2020 – NXB Hội Nhà văn Việt Nam.
Phạm Quốc Điển*
1. RÚ CAO ƠI CHỜ NHÉ... ĐỢI TÔI VỀ
Xa xứ lâu ngày chƣa có dịp về quê
Nhớ xóm Sơn Triều, Vịnh Yên, Kẻ Rột
Nhớ eo Bù cá dập dờn mặt nƣớc
Nhớ đọt khoai chấm mắm cáy thơm lừng
Nhớ rú Cao nhớ bãi đá Đùng Đùng
Nhớ giếng Nhạn giếng Chùa giếng Nẩy
Nhớ giếng Lau... nhớ đêm trăng buổi ấy
Cùng bạn yêu giếng Đọi gánh nƣớc về
Nhớ đền Chào... thƣơng lắm một miền quê
Đất sỏi đá nhiễm phèn chua nƣớc mặn
Cơm gạo hai độn khoai ngô cõng sắn
Canh khế chua cá ngạnh đã sang rồi
Mà yêu thƣơng thắm đƣợm lắm ngƣời ơi
Cùng vƣơn lên vƣợt qua bao gian khó
Để bây giờ tự hào dân Kỳ Thọ
Đều giỏi giang giàu có kém chi ai
Hẹn với quê không ngày một thì hai
Ngƣời đi xa sẽ về thăm chốn cũ
Cho thỏa nhớ mong bao ngày ấp ủ
Rú Cao ơi chờ nhé... đợi tôi về!...
2. DÒNG SÔNG TRÍ QUÊ TÔI
Bắt nguồn từ khe Lau, Ma Rén
Chảy êm đềm về biển nƣớc xuôi
Ngoằn ngoèo bên lở bên bồi
Ơi con Sông Trí quê tôi dịu dàng
Luồn lách giữa xóm làng yên ả
Chở đầy mình tôm cá cùng cua
Mọi ngƣời vui vẻ bốn mùa
Thả câu giăng lƣới sóng khua mạn thuyền
Vào những chiều bình yên nắng hạ
Trẻ già cùng thong thả lội bơi
Nô đùa tắm mát nơi nơi
Trong dòng nƣớc mát nhẹ trôi lững lờ
Dòng sông Trí vừa thơ vừa mộng
Dù qua bao biển rộng sông dài
Sông quê kỷ niệm không phai
Bạn ơi chờ nhé!... Ngày mai tôi về...
3. MỜI BẠN VỀ THĂM LẠI ĐÈO NGANG
Vắt ngang biển xanh ngắt
Ngoằn ngoèo lại ngoằn ngoèo
Hoa rực vàng triền dốc
Xanh biếc hàng thông reo.
Con đƣờng cong uốn lƣợn
Hay rồng bay lên trời
Xe ai ngƣợc lên dốc
Giữa mây trời chơi vơi.
Thoáng đâu đây cuốc cuốc
Tiếng đa đa xa vời
Biển rì rào sóng vỗ
Vẳng tiếng ai gọi mời
Hay từ muôn năm cũ
Bà Huyện Thanh nhắn lời
Dừng chân cùng non nƣớc
Ngắm cảnh đã ngƣời ơi
* Quê Kỳ Hải, sinh 1958 tốt nghiệp khoa Lý, đại học sƣ phạm Vinh, giáo viên ở Kỳ Anh, hiện sống ở thị xã Kỳ Anh.
Hoàng Hữu Hà*
QUÊ HƢƠNG
Khi nghĩ về quê hƣơng
Biết bao là niềm thƣơng
Khi trở về quê hƣơng
Đọng lại bao nỗi nhớ.
Quê hƣơng là muôn thủa
Ai cũng mến cũng yêu
Quê hƣơng là muôn thuở
Nhƣ gió nâng cánh diều.
Ôi quê hƣơng đẹp quá
Đẹp hơn mọi miền quê
Ta đến miền xa lạ
Nỗi nhớ nhung trở về.
Khi nghĩ về miền quê
Là tâm hồn thanh thản
Khi nghĩ về miền quê
Nơi tình yêu thầm lặng.
Nơi tuổi thơ vào đời
Thƣơng một ngƣời nào đó
Nay bóng đã xế chiều
Lại hiện về mới mẻ.
Nơi tâm hồn thơ trẻ
Chƣa vƣớng vít bụi đời
Lớn lên đi muôn ngả
Ôm ấp tiếng à ơi.
Ôi quê hƣơng, quê hƣơng
Biết bao là tình thƣơng
Ôi quê hƣơng, quê hƣơng
Biết bao là nỗi nhớ.
*Tác giả sinh năm 1946 tại xã Kỳ Giang - Kỳ Anh - Hà Tĩnh. Tốt nghiệp Bách khoa Hà Nội, khoa Thủy lợi, công tác tại Bộ vật tƣ 1968, có nhiều đề tài khoa học có giá trị. Nơi ở Hiện nay: Thị xã Kỳ Anh
Võ Xuân Hạ*
TẾT
Tết đến rồi ƣ! Tết đến rồi
Thời gian thấm thoắt tựa mây trôi
Cây đào năm ngoái còn đơm nụ
Lời hẹn lúc nao trót nặng lời
Xao xuyến nỗi lòng khôn xiết kể
Bồi hồi tâm dạ chẳng nào nguôi
Xa quê ngày tháng bao trăn trở
Luyến tiếc ngày xuân chỉ một lời.
GIŨA DÒNG
Nửa muốn ở đây, nửa muốn về
Hai miền nhƣ thể đã hai quê
Thƣơng con ngày tháng mong gần gũi
Nhớ bạn chiều hôm muốn cận kề
Đất mới phố phƣờng vui náo nhiệt
Quê nhà tình nghĩa thắm đam mê
Bồi hồi đứng giữa hai dòng nƣớc
Một tiếng chim chiều vẫn lắng nghe.
*Giáo viên nghỉ hƣu
Lê Quốc Hán*
1. Đèo Ngang
Cách ba mƣơi cây số
Chƣa dám gặp Đèo Ngang
Sợ tầm mình chƣa đủ
Ngâm thơ Bà Thanh Quan.
Cổng trời mờ hơi sƣơng
Mở toang nhìn biển thắm
Ai bỏ quên thanh gƣơm
Hay Hoành Sơn thác trắng?
Tiếng cuốc xƣa xa vắng
Lật lịch sử sang trang
Tóc ngƣời xƣa bạc trắng
Hóa mây bay giăng màn.
Ôi dòng sông thời gian
Xin ngƣời trôi chầm chậm
Cho kịp tới Đèo Ngang
Sau một lần biết sống.
2. Quê xƣơng rồng
Rong chơi khắp bốn phƣơng trời
Chiều nay lƣu lạc về nơi sinh thành
Trái tim tuổi nhỏ để dành
Vẫn còn chín mọng trên cành đong đƣa
Hang Bò buổi ấy trú mƣa
Vẫn nguyên vẹn vết lƣng xƣa lấm bùn.
Cỏ cây tủi tủi mừng mừng
Sao lòng ngƣời dửng dừng dƣng tháng ngày
Ngẩng đầu một áng mây bay
Cúi nhìn môt nhánh sông gầy bắc ngang.
Chợ Cầu sớm họp chiều tan
Chợ đời vừa nhóm đã tàn phút giây
Nơi chôn rau cát phủ đầy
Mọc lên còi cọc khóm cây xƣơng rồng.
Chớm hạ 2005
3. ĐỐI CẢNH
Năm ngoái giao thừa nghe mẹ kể
Cảnh xƣa, ngƣời cũ, bến sông xƣa.
Năm nay mẹ đã ngƣời thiên cổ
Tết đến vƣờn đào sƣớt mƣớt mƣa
Xuân 2006
1989 *Sinh quán xã Kỳ Châu - Kỳ Anh - Hà Tĩnh, Phó Gs.Tiến sĩ Toán. Công tác tại Trƣờng đại học Vinh. Hiện nay sống thành phố Vinh-Nghệ An. Hội viên Hội nhà văn VN
Nguyễn Trinh Hằng*
Kỳ Anh mới
Khấp khởi quê nhà thoắt đổi thay
Thƣơng đời bừng dậy ngát men say
Lúa vàng Tổng Cấp vàng trăng gió
Ngói đỏ Thần Đầu đỏ núi mây
Vũng Áng tàu chen cầu cảng chật
Đèo Ngang thơ vịnh phú thi đầy
Mơ xƣa, nay thực, mơ nên thực
Đổi mới Kỳ Anh cất cánh bay.
2006
*Giáo viên nghỉ hƣu. Quê xã Kỳ Văn, hiện trú tại thị xã Kỳ Anh - Hà Tĩnh
Hoàng Xuân Hanh*
Cửa ải Đèo Ngang
Dấu cũ phân tranh ở chốn này
Hoành môn sừng sững gió vờn mây
Biên cƣơng thành lũy chìm trong mộng
Môn ải rêu phong phủ dạn dầy
Ngày đứng trầm ngâm nhìn sóng biển
Đêm nằm thủ thỉ hỏi hàng cây
Hí trƣờng một cuộc chen chân bƣớc
Muôn thuở Hoành môn với tháng ngày.
1960
*Quê Kỳ Bắc - Kỳ Anh - Hà Tĩnh. Câu lạc bộ thơ xứ Voi.
Hoàng Xuân Hạnh*
1. Khoảng trời nhân ái
Ai nghĩ rằng tuổi trẻ sẽ đi qua
Mỗi chúng ta không một lần hối tiếc
Tình thầy trò, tình yêu thƣơng tha thiết
Bao bạn hiền chia sẻ những buồn vui.
Ai nghĩ rằng tuổi trẻ sẻ đi qua
Mùa hè ấy bỗng chốc thành vô tận
Phƣợng nở hoài ve dâng từng đợt sóng
Mắt thẫn thờ nuối tiếc một vòm thơ.
Ai nghĩ rằng tuổi trẻ sẽ đi qua
Vòng tuần hoàn đƣa ta về thực tại
Không, lòng ta tình yêu thƣơng sống mãi
Không phải giật mình nghe tiếng gọi chia ly.
Ai nghĩ rằng tuổi trẻ sẽ đi qua
Dồn tất cả những gì ngày còn lại
Giữ cho nhau một khoảng trời nhân ái
Hồi hộp mãi rồi mới hiểu đƣợc lòng nhau.
2. Rưng rưng
Mấy lâu nay lòng khát khao ánh sáng
Thƣơng ngọn đèn dầu leo lét mông lung
Điện đã về mọi ngƣời vui hớn hở
Mắt mù em giọt lệ lại rƣng rƣng.
3. MẸ
Thƣơng con mẹ lén khóc thầm
Nỗi đau đã thế xin đừng mẹ ơi
Lớn lên chƣa thấy mặt trời
Chƣa một lần thấy mặt ngƣời thân yêu
Tuổi già tóc bạc bao nhiêu
Mà bàn tay mẹ nhăn nheo nếp sần
Nắng mƣa đã trải bao lần
Để lƣng của mẹ phải còng thế kia
Ngày ngày quảy gánh ra đi
Bƣớc chân chậm chạp nặng vì thƣơng con.
*Sinh năm 1975, quê Kỳ Châu - Kỳ Anh - Hà Tĩnh. Bị mù vì chất độc da cam. Đƣợc nhận giải thƣởng từ thiện Nguyễn Đình Chiểu, hiện là cán bộ giảng dạy đại học mở Hà Nội. Sống ở Hà Nội
Võ Minh Hậu*
Đất mẹ
Từ giả tuổi thơ đi lập nghiệp năm nào
Hành lý mẹ trao túi xách tay bằng vải
Xa quê lần đầu đôi chân nhƣ cứng lại
Hạt sỏi cũng mềm dƣới đế dép cao su.
Hành trang vào đời là những lời ru
Cùng sữa mẹ trong tôi từ thuở nhỏ
Kiến thức góp qua từng trang sách vở
Mƣời năm đèn sách quê hƣơng
Đã cùng con đi khắp mọi nẻo đƣờng.
Mùa hè này đƣa con về quê nội
Đời ngƣời lính làm việc gì cũng vội
Ly rƣợu tâm tình cùng bè bạn chơi vơi
Ôi quê hƣơng, quê hƣơng của muôn đời
Bạn bè ơi tuổi học trò thuở nhỏ
Quê hƣơng mình cả một thời nghèo khó
Nghe tiếng "Trại" xé lòng những năm học cấp ba
Học xong rồi cùng bè bạn đi xa.
Đứa làm giáo viên, đứa làm kinh tế
Bản chất phiêu lƣu, tôi đâu câu nệ
Là nghiệp nhà binh cứ thế tôi vào
Đâu mong gì chức trọng quyền cao
Cùng bè bạn phá hàng rào phân biệt.
Ra xã hội, ngƣời đời đâu có biết
Quê bọn mình là Xứ Trại ngày xƣa
Ai hỏi quê mình tôi kể chuyện say sƣa
Quê tôi đó vùng đất cằn sỏi đá
Dân quê tôi cả một thời vất vả
Củ sắn, củ khoai nặng nghĩa tình ngƣời
Xa quê hƣơng đi lập nghiệp một thời
Nhớ về quê lòng bồi hồi xúc động.
Nhớ bạn học mỗi lần nghe tiếng trống
Nhớ buổi tan trƣờng ngày thứ bảy năm nao
Nhớ đƣờng về nhà trƣa nắng dốc cao
Thƣơng cái dạ dày cốn cào đòi cơm nguội.
Thƣơng mẹ già ngày cuối tuần ngồi đợi
Thƣơn củ sắn, củ khoai ngọn rau má năm nào
Thƣơng mảnh đất cằn khô rát gió Lào
Thƣơng chú ve sầu cả mùa hè không nghỉ.
Thƣơng các bạn những ngƣời giàu ý chí
Xây dựng quê hƣơng cho no đủ bằng ngƣời.
Xa quê hƣơng đã hai mấy năm rồi
Nay thăm quê lòng bồi hồi khó tả
Giữa trƣa hè tiếng ve sầu ra rả
Lẫn tiếng vọng đƣa kẽo kẹt kẽo cà
Kìa tiếng ai giống nhƣ tiếng mẹ ta
Vẫn câu hát ru con thời thơ ấu.
Đây ngõ cũ vẫn còn in dấu
Bƣớc chân trẻ thơ tìm bạn buổi trƣa hè.
Kìa bóng râm của những hàng tre
Đây cành nhã mùa về cho trái ngọt
Nghe tiếng chim ngày lại ngày vẫn hót
Ngƣời nhƣ con ong tìm mật ngọt cho đời.
Nghe nhà nhà rộn rã tiếng cƣời
Dƣới ánh điện sáng ngời thôn xóm
Đây đƣờng nhựa phẳng lỳ rải thảm
Kìa cầu Mỹ Sơn thách thức mọi lũ nguồn
Chợ Mỹ Sơn nhộn nhịp cảnh bán buôn
Hàng hóa chất đầy mua thứ gì cũng có.
Đã qua rồi một thời nghèo khó
Quê hƣơng khó diễn tả bằng lời
Sự thật rồi vẫn cứ tƣởng mơ thôi.
Mùa hè 2006
*Sinh 1961, quê Kỳ Sơn. Hiện công tác tại Công an Ban Mê Thuột
Nguyễn Hữu Hiếu*
Gửi Vũng Áng
Mấy ngàn năm vùng biển này không nghỉ
Những đợt sóng vào ra thủ thỉ
Những con thuyền đơn độc ra khơi
Biển xôn xao mà chƣa hát thành lời.
Vùng biển này nay đã khác xa rồi
Tiếng đe búa, tiếng máy khoan dậy đất
Ngƣời nối ngƣời vào ra tấp nập
Điện lung linh sáng cả công trƣờng.
Xƣa biển nghèo nghĩ mãi mà thƣơng
Nắng thiêu đốt, mƣa dầm từng vụ
Hết hạn hán lại về bão lũ
Bát cơm ăn chƣa ấm bụng từng ngày.
Suốt cuộc đời mẹ cứ mơ thôi
Nay biển quê ta thành hiện thực
Tàu đến tàu ra trăm ngàn mã lực
Chở niềm tin đi khắp bốn phƣơng trời.
*Quê thị trấn Kỳ Anh. Hội viên câu lạc bộ thơ Kỳ Anh.
Võ Xuân Hiếu*
Đèo ngang
Đọc thơ Bà Huyện Thanh Quan
Thƣơng ngƣời khắc khoải đứng than một mình
Trên trời dƣới biển lênh đênh
Hoành Sơn chốn nọ nặng tình nƣớc non.
Vòng qua Đèo Cả, Đèo Con
Rừng cây khép lại lƣợn tròn tốt tƣơi
Lom khom dƣới núi vài ngƣời
Nhặt từng cành củi, lá rơi đó mà
Nghe con chim cuốc, chim đa
Thƣơng dân nhớ nƣớc, thƣơng nhà nhớ ai?
Đã qua muôn dặm đƣờng dài
Thanh Quan cách trở, Chƣơng Đài còn xa
Dừng chân giữa buổi chiều tà
Buồn chi lắm rứa, hỡi Bà, Bà ơi…
Buồn riêng một nỗi tình đời
Buồn chung một khối con ngƣời Đèo Ngang.
Cơ trời dâu bể đa đoan
Cỏ cây hoa lá hết tàn lại ra
Đã hơn thế kỷ trôi qua
Riêng chung non nƣớc mặn mà thủy chung
1994
*Quê xã Kỳ Thƣ. Hội thơ huyện Kỳ Anh K
Hồng Chinh Hiền*
Miếng trầu
Nhớ năm bốn chín, năm vào Đảng
Nhớ miếu Tam Tòa, nhớ chợ Quan
Chi bộ Đồng Tâm về họp đó
Phải hôm mƣa gió rét căm căm.
Mẹ mừng con tiến nên ngƣời Đảng
Chẳng có gì hơn gửi gói trầu
Giữa miếu Tam Tòa ngồi lạnh lắm
Có miếng trầu ăn ấm bụng nhau.
Chẳng phải trầu cay hay trầu hôi
Trầu mẹ ƣơm lên thật mát chồi
Sáu cây cau đó cha con đúc
Qủa đẹp to nhƣ trứng vịt thôi.
Bác Khiêm, bác Lự vẫn qua đây
Khen miếng trầu tiêm ăn đỏ môi
Khổ công hai bác lo dìu dắt
Con sống sao cho xứng đáng ngƣời.
Mƣa gió ngoài kia chuyện của trời
Trong lòng con đẹp nắng hồng tƣơi
Ăn miếng trầu thơm ngày kết nạp
Chẳng nón tơi đi cũng ấm ngƣời.
Xuân nay con lại đến Trà My
Mấy tháng Trƣờng Sơn mải miết đi
Nay thấy cau làng xanh biếc ngọn
Mắt lệ nhìn cau bóng rậm rì.
Thôn ba má đón con niềm nở
Hỏi có ăn trầu, má bổ cau?
Tết nhất xuống đƣờng quên bánh trái
Suông nhạt còn hƣơng với đĩa trầu.
Xa mẹ con còn bao má thƣơng
Miếng trầu ân nghĩa của quê hƣơng
Giục giã chân con vào chiến trận
Quên nỗi gian lao giữa dặm đƣờng.
*Tên thật Trần Hữu Chất, sinh năm 1933 tại Kỳ Châu - Kỳ Anh - Hà Tĩnh, trú quán phƣờng Kim Liên - Đống Đa - Hà Nội. Hội viên Hội nhà văn VN, tốt nghiệp đại học, từng công tác ở chiến trƣờng miền Nam. Đã có nhiều tác phẩm xuất bản: "Chiến sĩ du kích Định Công" 1953, "Đá trắng" 1970, « Rừng có mắt »1973…
Nguyễn Đình Hòe*
LŨY THẦY
Hoang tàn cổ lũy nghĩ gì đây?
Trời biển giao hòa núi chở mây
Gió vọng quân reo đồn trải vững
Sóng vang ngựa hí biển vơi đầy.
Tranh hùng một thuở phơi xƣơng máu
Xung sát bao lần nát cỏ cây
Lịch sử lên sƣơng mờ phế tích
Bâng khuâng hồn mộng giữa ban ngày.
* Sinh quán tại xã Kỳ Tiến - Kỳ Anh - Hà Tĩnh. Thầy giáo có nhiều uy tín trong ngành giáo dục kỳ Anh
Trần Ngọc Hoa *
1. Trường Xưa
Lâu lắm rồi không về thăm trƣờng cũ Ngôi trƣờng xƣa vẫn dõi mắt chờ mong Hình ảnh thầy cô tôi giữ trong lòng Kỉ niệm về trƣờng tôi ghi trong dạ.
Ngôi trƣờng chúng tôi lợp bằng mái lá Đƣợc đắp vòng nhƣ ụ pháo phòng không Trƣờng chúng tôi không sắt thép bê tông Chỉ đơn giản đào sâu trong lòng đất.
Cái ranh giới giữa còn và mất Của một thời đạn lạc bom rơi... Chỉ một cơn mƣa nƣớc đã ngập rồi Thầy với trò dầm chân trong nƣớc.
Vẫn học bài tiết sau kề tiết trƣớc Bởi chiến tranh, gian khổ chẳng nề hà Dẫu ngàn lần vất vã chẳng kêu ca Bom đạn máy bay rền vang cứ học.
Trên mảnh đất cháy khô cằn cọc Ngôi trƣờng chúng tôi vẫn rất hiên ngang
Ngƣời Kì Anh vẫn rất vững vàng Gian khổ, đau thƣơng càng thêm rắn rỏi...
Vầng hào quang càng thêm sáng chói Đƣợc thắp lên từ chính mái trƣờng này Hình ảnh ngày xƣa, bên bạn, bên thầy Thành kỷ niệm một thời lƣu luyến mãi.
Bận rộn mƣu sinh, chƣa một lần trở lại Thăm thầy xƣa, trƣờng cũ mến yêu Bấm nốt thời gian, nắng sớm mƣa chiều Tóc muối tiêu nhuốm dầy theo năm tháng...
Tôi thầm ƣớc và lòng luôn trĩu nặng Biết bao giờ về thăm lại trƣờng xƣa?
2. Nhớ Thầy
(Kính tặng thầy giáo Nguyễn Phiên)
Bóng ai nhƣ bóng dáng thầy Đôi chân khập khiễng vai gầy tóc phai Thầy ơi sao chẳng còn ai Chỉ còn bóng ảnh ngả dài vách thƣng...
Sao thầy ngắt giọng giữa chừng Câu văn gãy khúc ngập ngừng thầy ơi
Lòng em thổn thức chơi vơi Nghe tim đau nghẹn nuốt lời xót xa.
Thầy đi về chốn bao la Mà em cứ ngỡ nhƣ là bên em Lời thầy tựa tiếng ru êm Vẫn còn đó tiếng rao đêm giữa trời.
Tiếng rao nhân nghĩa rạng ngời Thầy ru đạo lí bằng lời thiết tha Ngẫm đời bao nỗi xót xa Ngẫm ngƣời mấy nỗi mà ra phận mình. Lời thầy tạc dạ đinh ninh Em xin ghi chữ ân tình thầy ơi Đò ai lƣớt giữa dòng đời Mang mang một giọng một lời rao xƣa. Tiếng rao ngày ấy, bây giờ Mở trang giáo án cũng vừa nắng lên Thầy tôi bóng đổ trƣớc thềm...
* Quê Kỳ Châu, sinh 1959, học khóa 1974 - 1977 cấp 3 Kỳ Anh, giáo viên nghỉ hƣu tại TP. Huế
Nguyễn Tiến Kiểu*
Hoành Sơn quan
Ngàn xƣa dấu tích hãy còn đây
Man mác hƣơng trời cảnh khói mây
Tiếng cuốc xa đƣa hồn nƣớc vọng
Tƣờng rêu phủ kín bể dâu đầy.
Mênh mông biển cả trăng vờn sóng
Thăm thẳm rừng già cỏ nối cây
Sừng sững Cửa Thầy muôn thuở ấy
Lao xao gió thổi suốt đêm ngày.
*Quê xã Kỳ Bắc - Kỳ Anh - Hà Tĩnh. Hội thơ huyện Kỳ Anh
Bùi Cẩm Kỳ*
Gạo nếp quê hƣơng
Gạo tám xoan kém rế hoa quê mẹ
Nếp cẩm vàng sánh sao nổi nếp thơm
Gạo nếp quê ta trắng dẻo ngon cơm
Thứ gạo nếp chỉ quê mình mới có.
Một cống vật dùng thay lời dạm ngỏ
Đợi thu về lúa nếp rộ vàng tƣơi
Cánh đồng sâu nằm nép tận chân đồi
Đàn sáo sậu lƣợn chào mùa lúa chín.
Nồi cơm thổi có ai mà giấu kín
Đƣợc mùi thơm phẳng phất giữa gió chiều
Khi xuân về rộn rã tiếng chim kêu
Đoàn hỏa tuyến lên đƣờng đi tiếp vận.
Có cơm nắm mấy ngày đƣờng không bận
Gạo hai bồ đầy mãi vẫn không vơi
Dù Điện Biên xa tít tận chân trời
Vẫn có mặt gạo nếp mình trên đó.
Cả Nam Lào và chiến trƣờng Trung Bộ
Truy kích thù có cơm nắm quê ta
Ôi ngọt ngào cơm nếp, gạo ré hoa
Ăn một bận lòng ta khao khát mãi.
Xứ Voi 1990
*Còn có tên là Bùi Quang Ngụ, sinh 1939, quê Kỳ Bắc - Kỳ Anh - Hà Tĩnh, kỷ sƣ bƣu điện. Hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Thƣờng trú Láng Thƣợng - Đống Đa - Hà Nội. Đã in: Chọn bố - tiểu thuyết, NXB Thanh niên 1966, Biệt thự đá, tiều thuyết, NXB Thanh niên 1997…
Phan Công Kỳ*
1. Giọt mƣa xuân
Mƣa xuân nhè nhẹ mái hiên
Giọt rơi trong mộng, giọt nghiêng ngoài đời
Giọt nào ta uống ngƣời ơi
Giọt nào rơi đến chơi vơi bẽ bàng.
Mƣa bay, bay giữa hội làng
Áo ai chƣa thấm, đã tàn cuộc xuân
Đời riêng mong chỉ một lần
Mê say đón giọt mƣa xuân ngọt lành.
2. Bên dốc cuộc đời
Nguyên sơ mỗi kiếp ngƣời ta
Từ trong sâu thẳm giao hòa mà nên
Ngọt ngào giọt sữa đầu tiên
Để ta trộn với truân chuyên nỗi đời.
Đừng buồn khi nƣớc mắt rơi
Đừng vui khi thấy nụ cƣời mãn viên
Đam mê khi nợ nhân duyên
Chƣa vay đã trả lòng thêm rối bời
Đã qua bên dốc cuộc đời
Chỉ còn tím một chiều trời hoàng hôn.
*Sinh năm 1047, quê Kỳ Châu - Kỳ Anh - Hà Tĩnh.
Công tác tại UBND huyện Kỳ Anh.
Phan Ngọc Lan*
Tự khúc
Cuốn thư Hoành Sơn xanh 28*
Lƣu hồn thơ nhớ nƣớc
Mạch nƣớc ngầm chảy suốt
Nuôi hồn thơ quê em.
Bốn mƣơi tuổi thanh xuân
Lớn lên trong lửa đạn
Đã bao lần sơ tán
Lớp lớp đàn chim khôn.
Cầm súng đi đầu quân
Nêu bảng vàng danh dự
Cỏ xanh và ngực đỏ**
Từ cổng trƣờng ra đi.
Sách bút trên giảng đƣờng
Dùi mài tôi luyện chí
Đêm ngày luôn không nghỉ
Rạng ngời con quê hƣơng.
Bốn mƣơi chuyến đò ngang
Mái chèo thầy vững lái
Vƣợt qua bao ghềnh thác
Cho hồng thắm… ve ngân
Trƣờng em trên đồi thông
Vi vu ngàn gió hát
Sóng vỗ bờ điệu nhạc
Nâng bƣớc em tới trƣờng. Thạc sĩ, bác sĩ Phan Ngọc Lan, là học sinh cấp 3 Kỳ Anh khóa 1974 - 1977.
** Lấy từ câu thề “Nhất xanh cỏ, nhì đỏ ngực” trƣớc lúc nhập ngũ của một thời.
28* Trƣớc cổng trƣờng Quốc học Huế có dựng một cuốn thƣ, có ghi bài thơ Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan.
Hà Lê*
1. CHỢ QUÊ
Kiệu hai hào một bó
Gạo một đồng hai bơ
Chim én đồng ba kẹp
Cua cá xen đó lờ…
Chẳng có hàng có lối
Ngƣời mua bán nhƣ nêm
Gạo khoai chen bánh trái
Giọng thôn quê êm đềm.
Phần đông là quen mặt
Mua bán trọng nghĩa tình
Uống với nhau đọi nác
Hẹn hò cùng về dinh.
Ôi giản dị chợ quê
Mà ruột rà thân thiết
Ngƣời đi xa biền biệt
Càng diết da trong lòng.
Rƣợu ba hào một chén
Uống tiễn đời long đong.
2. Sông Trí
Những đêm rằm là dòng sông trăng
Những đêm đông là sông cò sông
Miệt mài tháng năm chảy cùng mƣa nắng
Sữa ngọt cho đời, bịn rịn gái trai
Sông Trí ơi sao cứ chảy hoài
Cho ngƣời đi xa chảy vào nhung nhớ
Xanh thẳm đôi bờ, bên ni bên nớ
Bao cô gái làng bổi hổi những đƣờng cong.
Ngàn năm sau sông vẫn là sông?
Chở tiếp phù sa cho mùa chín rộ
Chở bao cuộc đời vƣợt qua giông tố
Chở bao mối tình đến bến trăm năm.
Sông Trí quê tôi - cô gái duyên thầm
Bối rồi tơ vƣơng bao ngƣời tri kỷ
Ơi con sông quê sao mà bình dị
Da diết âm thầm khắc khoải nhớ không nguôi
7-2006
*Tên thật là Lê Hà, sinh 1952 tại Kỳ Thƣ - Kỳ Anh - Hà Tĩnh.
Hội viên Hội VHNT Hà Tĩnh, công tác Văn phòng huyện ủy Kỳ Anh. Tác phẩm: Mạch làng, nƣớc mắt tôm, Làng Đồng rêu - tập truyện ngắn.
Nguyễn Thị Hồng Liên*
Hoa chạc chìu
Hoa chạc chìu lặng lẽ nở lúc nao
Mà âm thầm tỏa hƣơng mỗi sáng
Em đến trƣờng trong niềm vui bè bạn
Chợt ngỡ ngàng - thơm quá chạc chìu ơi.
Chùm hoa trong nắng sớm rất tƣơi
Cánh rung rinh khi làn gió thổi
Dâng cho em hết mình bối rối
Góp cho đời một chút mênh mang.
Ôi suốt đời có bao giờ tan
Trong tà áo một thời thơ trẻ
E ấp, ngại ngùng chút hƣơng nhè nhẹ
Hoa chạc chìu - hƣơng mùa hạ quê em.
* Quê xã Kỳ Hƣng. Giáo viên Trƣờng THPT Kỳ Anh
Xuân Lộc*
Lời tạ lỗi với quê hƣơng
Sinh ra trên mảnh đất nghèo
Đồng chua, nƣớc mặn gieo neo bao đời.
Gío Lào thiêu rộp áo tơi
Đêm đông chung ổ rơm phơi ấm mình.
Mưa dầm thấm dột mái tranh
Tay cha chai sạn giật dành bão giông
Củ khoai củ sắn no lòng
Sớm hôm tay mẹ cấy trồng gặt phơi.
Từ trong nhịp võng à ơi
Theo con đi bốn phƣơng trời, lời ru!
Ngọn đèn soi bƣớc tuổi thơ
Cha thắp sáng cả thiên thu nghĩa tình.
Thuỷ chung son sắt quê mình
Kỳ Anh mảnh đất kiên trinh hào hùng.
Hoành Sơn quan hóa tên chung
Ai qua Xích Mộ dừng chân lƣng trời.
Đƣờng về với mẹ hôm nay
Con đi suốt nửa đời ngƣời đó chăng?
Ân tình nợ mấy mùa trăng
Nỗi quê nợ mấy tháng năm cho vừa?
Đất nghèo ƣơm những ƣớc mơ
Mẹ cha gieo để bây giờ nên con
Cúi đầu tạ lỗi quê hƣơng
Tóc hoa râm mới tìm đƣờng thăm quê.
Bến đời ai tỉnh ai mê?
Quê hƣơng chỉ một lối về ngƣời ơi
Phù du góc bể, chân trời
Lòng nhƣ cánh hạc tìm nơi ẩn mình.
Ai về Trung, Hải, Phƣơng, Ninh*
Lâm, Sơn, Thƣợng, Lạc, Long, Trinh, Nam, Đồng.
Cát vàng Hƣng, Lợi, Phú, Xuân
Tiến, Khang, Giang, Thọ lúa đồng tốt tƣơi.
Má hồng ai thắm chợ Voi
Bắc, Hà, Hoa, Thịnh, cá tƣơi chợ Cầu
Điện giăng sáng rực Tân, Châu
Văn, Thư, Liên, Hợp*, trước sau vẹn toàn.
Ơn thầy bao chuyến đò ngang
Chở nâng cánh hạc con sang bến bờ
Đƣờng về chỉ mấy câu thơ...
Tình quê trả biết bao giờ cho xong?
Tháng 7/2008
*...* Những tên xã của huyện Kỳ Anh
2. Về bên Sông Trí
Về ngồi bên sông Trí *
Tìm dấu chân địa đàng
Lối xƣa đâu chẳng thấy
Nghe gió khiều mơn man.
Tóc dầu đã pha sƣơng
Ký ức còn xanh mãi
Em vẫn là con gái
Anh vẫn là con trai.
Qua bao con sông dài
Biết bao nhiêu bồi lở
Chẳng khi nào nguôi nhớ
Tình đầu và quê hƣơng.
Sông Trí là sông Thƣơng
Của một thời tuổi trẻ
Là cội nguồn đất mẹ
Cho vấn vƣơng kiếp ngƣời.
Về bên sông Trí ngồi
Thả hồn theo con nƣớc
Cỏ cây nào giữ đƣợc
Dấu chân đằm xa xƣa.
Đã viết trăm bài thơ
Sao bổng giờ bối rối?
Xin một lần sám hối
Với sông quê muộn màng.
Một mình bên sông Trí
Ta-kiếp tằm đa đoan.
11/2009
3. Sông Vịnh
Ấy là con sông Vịnh quê tôi
Một thời trẻ trâu đuổi còng bắt cáy
Có bóng dáng của một ngƣời em gái
Khắc trong tim suốt năm tháng vào đời.
Tôi đã đi khắp bốn phƣơng trời
Qua bao miền quê, qua bao thành phố
Con sông nào cũng bên bồi bên lở
Đi đến nơi nào cũng nhớ một triền đê.
Bận rộn mƣu sinh ít có dịp quay về
Con sông tuổi thơ dùng dằng không chảy
Ký ức về dòng sông sao hiền hòa đến vậy
Sáng xuống chiều lên, con nƣớc lớn ròng.
Bãi bồi xƣa còn in dấu trong lòng
Tiếng gọi đò vẫn vọng về giấc ngủ
Nhƣng hình ảnh một thời không còn nữa
Sông Vịnh ơi thƣơng nhớ biết chừng nào.
Mỗi lần trở về lòng dạ cứ nôn nao
Trên con đê làng bƣớc chân thầm lặng
Ai hiểu đƣợc tâm hồn tôi trĩu nặng
Ngẫm thƣơng quê rồi lại thƣơng mình.
Cảnh cũ ngƣời xƣa, chẳng dễ đâu tìm
Có đứa bạn đã hòa vào với đất
Vài đứa ở lại quê miếng ăn còn chật vật
Nhiều đứa đi xa cũng chƣa hết bộn bề.
Tôi mừng thầm trƣớc thay đổi của quê
Những mái ngói tầng cao, những con đƣờng lát đá
Sông Vịnh đôi bờ bần xanh rợp lá
Kỷ niệm xƣa hoang hoải những ngày đông.
Nhìn cây cầu ngạo nghễ qua sông
Lại nhớ con đò ngang thủa trƣớc
Phiên chợ Ngâm đôi bờ xuôi ngƣợc
Bóng mẹ đi về đòn gánh lệch vai.
Nắng cháy trƣa hè, giá rét giêng hai
Trên lƣng trâu ôn bài, đọc sách
Ngọn đèn dầu hằng đêm leo lét
Soi sáng đƣờng tôi suốt tháng năm dài.
Dù ở nơi đâu trên trái đất này
Sông Vịnh trong lòng thƣơng nhớ mãi
Mỗi lần ra đi, hẹn ngày về lại
Nay xa rồi, sông Vịnh nhớ tôi không ?
Sài Gòn, 22-12-2016
*Tên đầy đủ Nguyễn Xuân Lộc, sinh 1956 ở Kỳ Hải - Kỳ Anh - Hà Tĩnh. Từng du học ở Bulgaria. Hiện sống tại Sài Gòn. Tác giả tập thơ Kỳ Anh ngâm khúc và nhiều tập thơ, tản văn khác. Có thơ chọn in trong nhiều tuyển tập lớn.
Nguyễn Tiến Liêu*
1.Quê hƣơng
Quê hƣơng!
Khối nam châm khổng lồ
Ngƣời xa quê - những hạt sắt tháng ngày lăn lóc
Mỗi lần về
Trái tim bật khóc
Khi lại phải dời chân.
Quê hƣơng
Nơi ta nợ nần
Chất chồng tình cảm
Của bầy bồ chao
Lao xao mỗi sáng
Tặng tuổi thơ ta những bình minh hồng
Của cái lạch nƣớc chảy từ giếng Diệc
Bầy cá trôi theo trêu chọc
Không kịp xắn quần, lội bắt.
Quê huông - hƣơng quê đậm đặc
Ổ sim khô thơm nức mũi mùa đông
Mùi nồng khai lối trâu vừa đi khuất
Quyện hƣơng bồ kết nhà ai hun muỗi
Lúc hoàng hôn.
Quê hƣơng
Nơi có những mối tình ngoài tiểu thuyết
Nhƣ đôi chim cuốc quấn quýt bụi sim già.
Chiều bứt tấp
Vội vàng trao kỷ niệm.
Quê hƣơng
Âm thầm khấn niệm
Cầu mong đời chẳng sớm già.
2. Trạm Voi ơi
Ai về quê mẹ: Trạm Voi
Nhắc đến nôn nao tuổi thiếu thời
Thặng Lặng buông câu chiều trở gió
Cồn Cao úp nón sáng sƣơng rơi.
Beo về Cầu Cộ qua truyền miệng
Sáo lƣợn Khe Su giữa tiếng cƣời
Dẫu chẳng còn cây đa thuở ấy
Vẫn còn sâu đậm đáy lòng tôi.
*Sinh năm 1938 tại Kỳ Phong, Kỳ Anh - Hà Tĩnh. Hiện sống ở TP. Nha Trang - Tỉnh Khánh Hòa. Hội viên Hội nhạc sĩ Việt Nam. Hội viên hội VH-NT Khánh Hòa.
Nguyễn Thị Thanh Minh*
1. Dịu dàng
Lời yêu gió nói dịu dàng
Cây xôn xao hát muôn ngàn lời ca
Biết rằng gió sẽ bay xa
Gặp đòng lúa lại thiết tha tỏ tình
Mà cây vẫn cứ rung rinh
Hân hoan nhƣ của riêng mình gió ơi.
2. Em sợ
Em có anh, em có đủ đầy
Sao vẫn thấy mình đơn côi đến lạ
Em sợ
Trái tim mình hóa đá
Bổng một ngày
Em mất anh.
*Quê Kỳ Trinh - Kỳ Anh - Hà Tĩnh. Tiến sĩ ngữ văn, giảng viên Trƣờng ĐHSP Hà Nội
Đã xuất bản tập thơ "Mắt lá" và một số thơ, truyện…
Võ Minh*
Voi là Voi ơi
Voi là Voi ơi
Ai về thăm thú quê tôi thì về
Đừng buồn lề thói, đất quê
Nặng trong âm sắc càng nghe càng cƣời.
Lòe xòe nón lá áo tơi
Tinh sƣơng, tiếng đất, tiếng ngƣời đã sôi…
Chuyện rằng từ thuở xa xôi
Vua Quang Trung lập tàu voi xứ này…
Đất lành chim tụ về đây
Trăm quê xin nhận đất này quê chung
Ba bề núi dựng trùng trùng
Giữa con sông với cánh đồng lúa thơm.
"Nhất cao là núi Hoành Sơn
Lắm hƣơu Bàn Độ to lƣờn chợ Voi"
Câu thơ độc trệch mà cƣời
Can chi cái nết, cái ngƣời, can chi…
Có nhƣ ri, nói nhƣ ri
Nói thêm mới sợ quên đi nết làng
Ví bằng Động Trộp lắm mang
Tùng Văn, Mả Trạng, Cơn Nang - sâu dòng.
Ví bằng Hồng Lệ huyệt rồng
Kênh nhà Lê chắn nên không phát tài…
Kể dừ cho thấu đến mai
Cũng không nhắc hết chuyện ngoài, chuyện trong.
Nửa Kỳ Bắc, nửa Kỳ Phong
Nửa thơm hƣơng cốm nửa đồng nếp quê
Vốn xƣa một cõi đi về
Mấy đời trận mạc lời thề nguyền chung.
Xứ Voi còn chút lạ lùng
Cái thời đánh Mỹ ai từng qua đây
Một cung đƣờng đạn bom vầy
Một cây đa lớn tỏa đầy chân quê.
Dặm đƣờng thiên lý ra, vô
"Cửa hàng Voi"** mấy chữ to biển đề.
Ai khen chê, mặc khen chê
Ngàn năm ngƣời vẫn đi về xứ Voi.
*Tác giả quê xã Kỳ Phong, là học sinh giỏi khóa I, trƣờng cấp III Kỳ Anh. Tham gia quân ngũ. Tốt nghiệp Đại học Bách khoa Hà Nội, khoa chế tạo máy
Nguyễn Phong*
Qua Đèo Ngang
Đất nƣớc mình lắm đèo là thế
Mà sao Bà Huyện chỉ đề thơ
Tặng mỗi một Đèo Ngang thuở ấy
Tình muôn năm chƣa cũ bao giờ.
Trên đỉnh đèo chỉ một tấm bia thơ
Vƣa Thiệu Trị tạc vào vách đá
Muôn thi tứ hòa nhập vào cây cỏ
Bốn phƣơng trời động vọng với Đèo Ngang.
Nơi biển trời non nƣớc mênh mang
Điệp khúc sóng vẫn dội vào vách đá
Bốn mùa cỏ vẫn chen cùng hoa lá
Thêm những rừng thông ngút ngắt chân đèo.
Đã bao lần qua đỉnh dốc cheo leo
Ngoái đầu lại gặp mình thời thơ dại
Ngắm ngọn khói, sƣơng chiều ái ngại
Dạ mông lung xao động đất trời.
Hãy cƣời lên, đừng lạy nữa em ơi
Bấy nhiêu tuổi mà dãi dầu mƣa nắng
Tiếng con cuốc giữa tiếng rừng thăm thẳm
Buổi chiều tà thuở ấy thƣơng đau.
Ngói sẽ mọc lên san sát giữa thung sâu
Chợ sầm uất bên cửa dòng Xích Mộ
Bò đủng đỉnh trải dài chân rú
Khoai mẹ trồng xen lẫn luống hoa em.
Anh tìm hoài dấu tích mỗi thi nhân
Muôn tứ cũ gợi bao tình mới
Xe nối xe lƣợn vòng vách núi
Tiếng máy, lời thơ vang vọng lƣng trời.
Đà Nẵng - Kỳ Anh 1994
*Quê xã Kỳ Hƣng - Kỳ Anh - Hà Tĩnh. Công tác ở miền Nam.
Trần Nam Phong*
Khúc 1: Trở về
Mƣa lênh giọt mặn trƣớc thềm
Ai hay hồn biển gọi đêm trở về
Sóng mòn vẹt cỏ bờ đê
Bao đêm chƣa chín cơn mê phƣợng hồng.
Một chiều nƣơng gió cửa sông
Nghe nao nao bể, nghe dòng lửng lơ
Tuổi thơ mắc cạn đôi bờ
Rặc sông rặc cả hững hờ mắt ai
Thẫn thờ vạt khố heo may
Nổi nênh lƣỡi cát, mƣa bay cửa chùa
Ta về nhặt trái me chua
Vô duyên nhặt cả lá bùa tuổi em.
Tháng 11-1998
Khúc 2: Bên sông
Ta về núi bồng hai vai
Con sông thì chảy dặm dài chờ mong
Bàn chân bƣớc giữa cõi lòng
(Em ơi sông rộng nên không có đò).
Hoang chiều mắt thắm lam gio
Đầu xanh tao tác cánh cò tuổi thơ
Đằm đằm mấy cánh bèo mơ
Lênh đênh con sóng thiên cơ thuở nào.
Sông sâu mà nƣớc nao nao
Núi cao mà núi trăng sao cả vời
Em đừng trải gió ra phơi
Lỡ mai con nƣớc đầy vơi một mình.
12-1998
3. THEO DÕNG LỤC BÁT
- Mang theo cái mộng làm ngƣời
Đơn sơ thao thiết nửa đời còn xa
Trời làm đôi hạt mƣa hoa
Nửa thƣơng, nửa nhớ nhƣ là chiêm bao.
- Ngƣời đi ra bể tìm sông
Ta về nhặt cái mênh mông cõi ngƣời
Mà sao trĩu nặng trong đời
Mây bay kiếp trƣớc, mƣa rơi kiếp này.
- Nhớ nàng kiếp trƣớc không anh
Kiếp này chƣa kịp để thành lứa đôi
Nhớ ai vời vợi mây trời
Anh bao nhiêu kiếp để đời có em.
- Thời gian lấy nhớ làm quên
Lấy mƣa làm nắng qua miền hanh hao
Ta về cày ải chiêm bao
Cấy lên cát trắng gió Lào tuổi thơ
(Một số trích đoạn lục bát)
4. GIẤC MƠ TUỔI THƠ
Về quê gặp trận mƣa rào
Bao nhiêu mây móc thấm vào thịt da
Mẹ còn đi chợ đƣờng xa
Mình con thơ thẩn ngóng quà tuổi thơ
Thị vàng thơm tận giấc mơ
Hội làng cô tấm cài nơ hoa cà
Đang đêm vọng tiếng tù và
Hình nhƣ phía bụi tre ngà trổ măng
Nƣớc non biết mấy mùa trăng
Đƣờng xƣa lông ngỗng, sao băng trắng trời
Tạ hồn biêng biếc giếng thơi
Nỗi đau nguồn cội là nơi tìm về
Vẳng nghe tiếng trẻ cƣời mê
Ngàn năm đất mẹ bốn bề trăng thâu
Vẫn màu sen thủa bùn nâu
Vẫn thƣơng nhau thủa dãi dầu nắng mƣa
Nồm nam gió thổi vào trƣa
Mẹ ru câu hát ầu ơ những ngày
Con về gặt lúa chân mây
Tháng năm nghe rộng luống cày tuổi thơ.
Kỳ Anh 4/2021
*Sinh năm 1969, quê xã Kỳ Tiến - Kỳ Anh - Hà Tĩnh.
Tốt nghiệp khoa văn Đại học SP Huế.Từng giáo viên cấp 3 Nguyễn Huệ, bí thƣ huyện đoàn Kỳ Anh, nguyên Trƣởng ban tuyên huấn Kỳ Anh, hiện nay chủ tịch Hội VH-NT Hà Tĩnh
Nguyễn Việt Quỳnh*
Vũng Áng chiều
Sóng cứ vỗ cho biển tâm tình với núi
Gió cứ thì thào cho núi hát lời yêu
Chuông nhà thờ xứ Đông Yên đồng vọng
Rung không gian khói ấm quyện lam chiều.
Cô gái Hải Phong tóc bồng bềnh sóng vỗ
Cát lún ngập chân mình, mắt vẫn dõi tầm xa
Những đƣờng cong Êva căng đầy trƣớc gió
Gió muốn xô vào mà sóng cứ đẩy ra.
Em vẫn đứng nhƣ thiên thần hóa đá
Đợi một cánh buồn tận tít cuối chân mây
Bóng hoàng hôn gọi mùa về tôm cá
Xóm chài ơi sóng biển vẫn dâng đầy.
*Là bác sĩ, hội viên Hội thơ huyện Kỳ Anh
Trần Hồng Quân*
1. KHÔNG ĐỀ
Tiết trời đã sang đông, giá rét lộng triền đê
Áo ai mỏng? Gió lùa muôn hƣớng thổi
Bốn mƣơi năm chắt chiu, hiến một đời không mỏi
Đôi chân trần, in dấu bƣớc đƣờng mê.
Ngửa mặt nhìn trời, cũng chỉ một tiếng quê
Tránh sao hết, bụi trần vƣơng phải áo
Thƣớc nào đo tâm? Cánh chim luồn trong bão
Đơn chiếc vẫy vùng, trong gió lộng mƣa sa.
Bầu trời Kỳ Anh, đổ rét những ngày qua
Nhƣ xót thƣơng ai? Vƣớng chân vành lao lý
Dã Tràng ơi! Xe chi hoài cát bể?
Mà quên đi, sóng vẫn vỗ bờ thôi.
Lặng lẽ thời gian, khắc khoải tháng năm trôi
Đốt hết tim mình, những tháng ngày nhiệt huyết
Vầng trăng cô đơn, có lúc đầy lúc khuyết
Vinh nhục đời ngƣời? Răng là đục là trong?
Tiếng cô gái hò vang, tha thiết giữa cánh đồng
Mang hơi ấm đông về, từ trăm năm buốt giá
Tiếng vọng từ nôi, con thơ nồng êm ả.
Giọt lệ buồn rơi, thấm đẫm đất quê hƣơng.
Sáu mƣơi tuổi đời, mái tóc ngả màu sƣơng
Mang nỗi nhọc nhằn, gánh hai mùa mƣa nắng
Nghe bàng quan rơi, giữa cuộc đời câm lặng
Gió lạnh heo về, trong đông giá, tiếng tòa tuyên.
Kỳ Anh 12/2016
2. ĐI GIỮA QUÊ HƢƠNG
Ta đi giữa Quê hƣơng, xanh ngát những đồi cao
Một dải giang san, soi bóng hình xứ sở
Một trăm tám mƣơi năm rồi, đã đi vào lịch sử
Sóng vẫn yên bình, dang rộng cánh tay che.
Gió hát Kỳ Trung, xanh ngát đồi chè
Nghiêng nón Kỳ Thƣ, chứa chan lời O Nhẫn
Nặng lúa Kỳ Giang, trắng cò bay sải cánh
Hƣơng nếp mới thơm nồng, nghe gió gọi mùa sang.
Ta đi giữa quê hƣơng, trong nắng mới thênh thang
Một trăm tám mƣơi năm rồi, âm vang lời Đảng gọi
Ôi! Phƣơng Giai, nơi ngƣời hiền tụ hội
Mong con cháu mai này, viết tiếp những dòng thơ.
Tiếng giáo xuyên đêm, lời Cù Biểu năm xƣa
Vang vọng mãi, trong xanh dòng lịch sử
Kỳ Anh ơi! Đã bao đời lam lũ
Máu Nguyễn Trọng Bình, thấm đẫm đất quê hƣơng.
Ta ngƣợc lối về, miền Thƣợng, Lạc, Tây, Sơn
Nghe chim hót lá reo, giữa điệp trùng vách núi
Tiếng ai hát? Vọng lá rừng, khe suối
Cho ta yêu, say đắm ở nơi này.
Ôi! Tiếng chim rừng, hòa theo lá cỏ cây
Nhƣ tiếng quân reo, Phạm Hoành về trong gió
Ngƣời đã yên bình, hóa thành đồng bất tử
Cho ta vui, con cái rộn tiếng cƣời.
Ta thả hồn mình, trong giọt nắng mai rơi
Khang, Phú, Xuân xanh một màu biển gọi
Kỳ Anh ơi! Qua tháng ngày đắp đổi
Sông Rác tƣới xanh đồng, mang nặng nghĩa Quê hƣơng.
Tiếng ai vọng về, khúc hát “Giận mà thƣơng”
Lịch sử sang trang, xuân về thay áo mới
Ôi! Quê hƣơng! Cánh chim bằng không mỏi
Căng những cánh buồm, để lƣớt sóng khơi xa.
Kỳ Anh 12/2016P/S:
Cù Biểu; Nguyễn Trọng Bình; Phạm Hoành là những ngƣời con ƣu tú, ngƣời anh hùng của quê hƣơng Kỳ Anh và của lịch sử dân tộc ta.
* Quê quán: Kỳ Long - TX Kỳ Anh - Hà Tĩnh. Tốt nghiệp: Khoa Ngữ Văn, Đại học Đà Lạt. Nơi công tác: UBND huyện Kỳ Anh
Nguyễn Bá Súy*
1. CÂU VÍ MIỀN PHÊN DẬU
Tƣởng rằng heo hút quê tôi
Ai ngờ câu ví vọng lời thiết tha
Ảo mờ bên khóm tre ngà
Bâng khuâng trăng nhú la đà sƣờn đê.
Say tình câu ví đam mê
Trai thanh, gái lịch tìm về giao duyên
Thoáng thôi đã nặng thề nguyền
Dùng dằng câu ví mà nên nghĩa tình.
"Chữ rằng nhân kiệt địa linh
Có Hoành Sơn - Bàn Độ mới dĩnh sinh anh tài" *
Dẫu rằng câu ví xẻ hai
Tình quê đâu dễ trong ngoài tách đôi...
Thẳm sâu câu ví bời bời
Xa rồi mới thấy nặng lời nhớ quê.
Chớm xuân 2017
Chú thích: * Câu ví của o Nhẫn ngƣời làng Đan Du-Lời Đoàn Thị Điểm)
2. HOÀNH SƠN KÌ VĨ...
Một dãy núi nằm ngang
Phía Hà Tĩnh đẹp ngỡ ngàng
Bên Quảng Bình che khuất
Tự bao đời cao chất ngất
Trời trong xanh đẹp đến mê hồn.
Tôi ngẩng cao đầu nhiều lần ngắm núi
Ngẫn ngơ lòng chẳng suy nghĩ thiệt hơn
Nhớ lại lời ngƣời xƣa Trạng Trình gợi cho Nguyễn Hoàng
"Hoành Sơn nhất đái"...*
Vƣợt Hoành Sơn lập vƣơng triều mới
Vƣơng triều cuối cùng có nhục và vinh
Thƣơng thân già bà huyện Nguyễn Thị Hinh
Vƣợt Đèo Ngang vào Nam
Nhớ cố quốc chiều tà bật khóc
Cho đến nay mấy ai dám vƣợt
Mãnh tình riêng đau đáu tận bây giờ...
Hoành Sơn, Đèo Ngang bao ngƣời làm thơ
Sơn thủy hữu tình
Danh thắng ấy khắc vào cửu đỉnh
Đặt trƣớc sảnh Cố đô làm Huế lung linh.
Bỗng dƣng tôi lại giật mình
Nhớ lời mẹ ru xƣa
"Núi Hoành Sơn thăm thẳm
Bể đại hải thƣờng đầy
Vua An Nam đã theo Tây
Cho dân tình thậm khổ"...
Tôi nhớ lắm ngút trời rừng dẻ
Tiếng đa đa, cu gáy nao lòng
Đồi sim tím bạt ngàn ngút mắt
Hoành Sơn buồn thao thức mênh mông.
Dƣới chân đèo thành quách của Đài Loan
Khói xám vút trời bụi bay mờ mịt
Chắn cả gió nồm rƣời rƣợi mát mùa hè
Đất quê mình buồn hận kiếp làm thuê...
Hoành Sơn còn đây say đắm đê mê
Giật mình sợ một ngày nào Hoành Sơn vụt mất
Ôi quê tôi Cao Vọng, Hoành Sơn, Bàn Độ thế chân kiềng
Giang Sơn này kì bí linh thiêng
Vật đổi sao dời. Lòng ngƣời không đổi
Mơ một ngày có làn gió mới
Một trận mƣa giữ dội
Gột rửa bụi mờ Hoành Sơn mãi xanh trong.
Hoành Sơn 2018
* Lời trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm truyền cho Nguyễn Hoàng " Hoành Sơn nhất đái- Vạn đại dung thân"
* Quê Kỳ Tân, tốt nghiệp sƣ phạm Vinh, giáo viên ở Kỳ Anh - Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Hà Tĩnh
Hồ Thị Kim Sen*
1. Lời trong thơ
Mẹ là gậy dắt con đi
Chông gai con có ngại gì mẹ ơi
Đời con không thấy mặt trời
Vẫn nghe nắng mẹ chói ngời trong con.
Mắt mù lòng vẫn màu son
Ƣớc mơ hy vọng vẫn còn mẹ ơi
Công cha nghĩa mẹ tình ngƣời
Thấm vào con hóa những lời trong thơ.
2. Lời ru của mẹ
Mùa xuân đẹp lắm con ơi
Đầy sông cá lội, rợp trời chim ca
Rừng cây đua nở muôn hoa
Chồi non lá biếc mƣợt mà xanh tƣơi
Con ong làm mật cho đời
Con tằm nhả kén cho ngƣời vàng tơ
Mẹ cha vất vả sớm trƣa
Cho nhiều quả ngọt, cho mùa lúa xanh
Cho con giấc ngủ ngon lành
Cả quê hƣơng đó mẹ dành cho con.
Trải bao sông cạn đá mòn
Đƣa nôi mẹ lại mong con từng ngày.
Mai rày mầm lớn thành cây
Công cha nghĩa mẹ ơn thầy đừng quên
Hàng mi chớp chớp nghiêng nghiêng
Mẹ nhƣ thấy cả quê hƣơng đất trời
Hồng hồng chúm chím môi tƣơi
Nghe trong rạo rực muôn chồi tƣơng lai
Con là bông cúc bông mai
Là niềm hạnh phúc, là bài dân ca
Con là xuân của muôn nhà
Biển trời sông núi con là chủ nhân
Ngủ đi con – ngủ cho ngoan.
*Sinh 1950, quê Kỳ Khang - Kỳ Anh - Hà Tĩnh. Hội viên hội ngƣời mù Kỳ Anh
Hoàng Thị Thanh*
Ngơ ngác
Anh lại về phƣơng ấy chều nay
Ai quạt lửa
Phƣơng trời em rực cháy
Lầm lũi bƣớc
Em ngƣợc chiều bão tố
Con đƣờng dài - hun hút một mình em.
Bụi cuốn vô tình
Nắng gắt gỏng vô duyên
Hoa tím nhạt vƣơng đầy trên lối cũ
Một chút giận hờn
Chút thƣơng, chút nhớ…
Mà rƣng rƣng nhƣ thể mất nhau rồi.
Phố xá rộng dài – bè bạn đông vui
Đời đẹp quá – chỉ mình em ngơ ngác
Những gƣơng mặt trôi trong chiều nhòa nhạt
Chẳng thể nào khỏa lấp nổi trong em.
*Sinh ngày 13-10-1973, quê quán Kỳ Châu –Kỳ Anh - Hà Tĩnh. Công tác: Trƣờng tiểu học Kỳ Trinh
Trương Biên Thùy*
1.Một chiều Đèo Ngang
Dừng chân chiều Đèo Ngang
Sau lƣng tôi thơ Bà Huyện Thanh Quan
Trƣớc mắt tôi sóng vỗ vào gềnh đá
Tái tim tôi bị xô về hai ngả.
Tôi không thể khóc
Giọt nƣớc mắt hiền lành chỉ là nƣớc mắt thôi
Nhẹ sao đƣợc gánh củi em vƣợt dốc
Hiểu sao đƣợc tiếng rìu em khó nhọc
Bổ vào cây
Bổ vào mƣa
Bổ vào nắng
Xứ này.
Đƣờng lên Đèo Ngang
Chênh vênh khuỷu tay
Lƣng núi chƣa qua
Đã ôm chầm lấy biển.
Tôi đâu dám cƣời
Vơi sao đƣợc nỗi buồn trên mặt mẹ
Đã dắt bà hành khất suốt một thời thơ bé
Nay cháu chắt đi kiếm sống mới lần về
Lòng những sợ bƣớc chân mình chậm trễ
Vuốt mái tóc vài sợi rụng bất ngờ
Thế mới biết cuộc đời nhều nghiệt ngã
Chƣa vƣợt đƣợc Đèo Ngang tóc đã bạc bao giờ
1989
2. Khúc hát sông Quyền
Sông Quyền cứ xanh trong cho em ngồi giặt áo
Nơi lòng ta buông neo bao tháng ngày cách xa
Ôi lâu lắm không về thăm bến cũ
Mùa thu ơi vẫn đợi ở bên cầu.
Hàng nghìn năm non nƣớc vẫn thƣơng nhau
Nuôi lớn đời ta nhƣ dòng sữa mẹ
Sông quê ơi dù mƣa nguồn gió bể
Ta vẫn yêu em nhƣ thuở mới ban đầu.
1991
*Quê xã Kỳ Trinh, giáo viên dạy văn ở các trƣờng PTTH Cẩm Bình, Nguyễn Huệ, Kỳ Anh.
Nguyễn Trinh Thuyên*
1. ĐẤT KỲ ANH
Một vùng cổ tích tuyệt vời thay
Huyền thoại ru đời giấc mộng say
Bà Huyện câu thơ vời cố quốc
Phạm Hoàng vó ngựa xé chân mây
Trùng dƣơng Chế Thắng gƣơng soi sáng
Cao Vọng Hán Thƣơng hận chất đầy
Ngọn lửa Phƣơng Giai bừng đất mẹ
Mở đƣờng hạnh phúc, vạch đƣờng bay.
2. XỨ VOI
Nhớ về Voi lắm Liễu em ơi
Đau đáu lòng anh cảnh cách vời
Gánh mạ Bàu Thơi ngời ánh mắt
Trái sim Khe Cấy dậy men đời.
Vì đâu ngƣời cản cầu Ô Thƣớc
Để mặc anh thành bóng nhạn khơi
Biền biệt trời quê lòng khắc khoải
Nhớ về Voi lắm Liễu em ơi.
*Quê Kỳ Văn, hiện cƣ trú tại xã Kỳ Bắc - Kỳ Anh - Hà Tĩnh.
Nhà giáo ƣu tú, nguyên hiệu trƣởng trƣờng cấp III Kỳ Anh.
Trần Nguyên Trực*
1. ĐẤT NGHÈO NUÔI CHỮ
Tặng trƣờng tiểu học Kỳ Sơn
Ba mƣơi năm trƣớc bạn ngƣợc rồi xuôi
Ta mải miết theo ý mình chƣa trọn
Tay nâng niu những tán bàng, hạt phƣợng
Bao sân trƣờng sắc đỏ, vòm xanh.
Ba mƣơi năm chƣa mãn cuộc hành trình
Xin chào nhé những lối mòn hoang dã
Đƣờng rộng mở đƣa ta về chốn cũ
Gặp lƣng trời lửa phƣợng cháy nôn nao.
Tháng năm ơi nhƣ có phép nhiệm màu
Nhà-nứa-mái-tranh-tre đã thay bằng cốt thép
Ngắm ngôi trƣờng cao tầng to đẹp
Có ai hay mọc lên ở đất này.
Chốn rừng xanh heo hút ai hay
Và ai biết thuở xa vời… nơi ấy
Ngƣời gõ nhịp tim mình thức dậy
Sự nghiệp: "Đất nghèo nuôi chữ" nhóm từ đây.
4-2000
2. Về giữa ngày vui
Tặng trƣờng PTTH Kỳ Anh
Ba mƣơi mùa thu đã qua
Ba mƣơi lần trống trƣờng khai giảng điểm
Những con thuyền đi xa về lại bến
Lòng có bồi hồi nhƣ buồi tịu trƣờng không.
Thơ ai từng nhắc đến dốc Cồn Cum
Tới mái trƣờng bên dòng sông Trí chảy
Đồi sim tím một thời thƣơng nhớ ấy
Dòng nhật ký học trò mãi cứ nhắc tên.
Đến với trƣờng tôi biết nói gì hơn.
Hàng phƣợng xanh kia đã bao lần thay lá
Nhớ cái thuở: Vì miền Nam tất cả
Bao đứa trò ngoan ra trận không về.
Muốn cùng anh kể cho đàn em nghe
Những thầy cô hôm nay về không đủ
Ngƣời trở lại miền quê yêu dấu cũ
Ngƣời ra đi tới cõi vĩnh hằng.
Thời gian trôi… Qua biết mấy mùa trăng
Biết bao bận các anh từng trăn trở
Trên cái mảnh đất nghèo nuôi chữ
Khi nhắc tới trƣờng bao bè bạn mừng vui.
Muốn nói nhiều hơn thế nữa ngƣời ơi
Những đổi thay hôm nay nói dùm tất cả
Tôi chợt thấy khoảng trời yên ả
Lại hiện về vẫy gọi những mùa vui.
1965-1995
*Quê xã Kỳ Phong - Kỳ Anh - Hà Tĩnh. Tốt nghiệp đại học tổng hợp Huế, nguyên trƣởng phòng giáo dục Kỳ Anh
Phan Công Thông*
1. KỲ ANH QUÊ HƯƠNG TÔI
Đến Kỳ Anh đƣờng về muôn nẻo
Xuống Kỳ Ninh, vào Vũng Áng, Đèo Ngang...
Ra Kỳ Xuân, Kỳ Tiến, Kỳ Giang...
Về Kỳ Thọ, Kỳ Khang, Kỳ Phú...
Lên Kỳ Tây qua bao nhiêu rừng rú
Đến Kỳ Thƣợng, Kỳ Lâm... lắm quýt, nhiều cam
Đƣờng đi qua bao nhiêu núi, nhiêu ngàn
Sang đến tận bên Lào nƣớc bạn
Mảnh đất Kỳ Anh từng chứa bao nhiêu bom đạn
Ngƣời Kỳ Anh anh dũng kiên cƣờng
Mạch huyết giao thông luôn đƣợc thông thƣơng
Để đem những chuyến hàng kịp ra tiền tuyến
Đất Kỳ Anh có rừng, có biển
Ruộng Kỳ Anh khoai lúa tốt tƣơi
Con gái Kỳ Anh sắc nƣớc nghiêng trời
Ai muốn đến Kỳ Anh xin mời đến:
Có dãy Hoành Sơn vƣơn dài ra biển
Có cảng nƣớc sâu tàu cập bến an toàn
Có nƣớc Sông Rác, bãi cát, bãi tràn
Không còn cảnh đói nghèo nhƣ trƣớc nữa
Cơm trắng phau, thịt, cá, rau nặng đũa
Xe máy, xe hơi thay cho xe đạp năm nào
Những mái nhà tranh xƣa nay là những tầng cao
Bãi cây rình rèng xƣa nay trở thành khu công nghiệp
Ngƣời dân Kỳ Anh vững vàng bƣớc tiếp
Trên con đƣờng công nghiệp hoá thành công./.
2. Quê hương đổi mới
Bƣớc đi trên đỉnh Đèo Ngang
Nhìn ra biển cả mênh mang dạt dào
Tàu bè tấp nập ra vào
Thỏa lòng mong mỏi khát khao bao đời.
Non xanh nƣớc biếc đất trời
Hoành Sơn một dải rạng ngời chân mây
Quê hƣơng đổi mới từ đây
Làm cho lòng mẹ tràn đầy niềm vui.
*Quê xã Kỳ Châu - Kỳ Anh - Hà Tĩnh. Tốt nghiệp kỹ sƣ nông nghiệp. Sống và công tác tại thành phố Hồ Chí Minh
Lê Khánh Tuấn*
1. Quê tôi Kỳ Anh
Gắn với Đèo Ngang một mảnh quê nghèo
Lòng ta mãi vẫn gừng cay muối mặn
Biền biệt xứ ngƣời một đời ngụp lặn
Nếp quê nhà níu giữ cuộc đời ta
Chắt lọc từ cát bụi tự quê cha
Mẹ sinh ta sau cơn đau vƣợt cạn
Ru con lớn mẹ hát lời ví dặm
Vạc cùng cò bay rợp một trời yêu
Thuở đồng quê thiếu vắng những cánh diều
Tuổi thơ ta đội mũ rơm đi học
Cha đánh giặc xa, mẹ ta cực nhọc
Chăm chút nuôi con khôn lớn nên ngƣời
Gắn bó cùng quê, em nửa phận đời
Bƣơn chải cùng ta vào Nam ra Bắc
Chia ngọt sẻ bùi, tình em son sắt
Để trăng thề sông Trí vẫn tròn nguyên
Dù cuộc đời phiêu dạt vẫn đoàn viên
Ta trở về đây trong miền ký ức
Cuống rạ đồng xa ánh chiều vàng rực
Xóm Giá, chợ Cầu thức dậy hồn quê!
Sài Gòn, tháng 3/2022.
2. TIỄN CON
Con trở lại trƣờng, nhà mình thừa thêm một chỗ
Chị con còn ở xa, trống vắng ập vào nhà
Căn phòng thiếu tiếng con và ánh đèn quen thuộc
Phòng máy ít thêm một ngƣời dùng…
Ba mẹ nhớ thƣơng con
Bữa cơm tối nhà mình mâm ít đi một bát
Mẹ đỡ vất vả hơn vì bát canh, cốc sữa cho con
Nhƣng mẹ lại rất buồn
Vì chẳng đƣợc lo điều ấy
Khuôn mặt mẹ bần thần trong mỗi bữa làm cơm
Mỗi buổi tối muộn về
Ba không còn lý do
Để chờ nghe tiếng chó vẫy đuôi mừng
Và tiếng con kéo cửa
Dép loẹt quẹt cầu thang, con ríu rít đã về
Hạ vội vã trôi đi, trời vào Thu nhanh quá
Con ra trƣờng lụi cụi một mình con
Khi trái gió trở trời chẳng có ai bên cạnh
Mẹ canh cánh nỗi niềm ăn ngủ có đều không?
Bao cạm bẫy cuộc đời… ba dằng dặc niềm lo
Từ mái ấm nhỏ nhoi, giờ con ra trời rộng
Theo đuổi những ƣớc mơ để tới tận vô cùng
Cuộc đời thì mênh mông mà sức ngƣời có hạn
Phải biết chắt chiu, dành dụm mới nên ngƣời
Cầu cho con đƣợc chân cứng đá mềm
Đi đâu cũng lòng mẹ cha nâng bƣớc
Đâu cũng vậy, gia đình là mơ ƣớc
Mọi ghềnh thác cuộc đời con biết vƣợt qua thôi
Chiều sân ga, bè bạn đến cả rồi
Chuyện ríu rít làm giãn dài nỗi nhớ
Tiếng còi tàu vang lên, con tàu dần chuyển bánh
Đứng ở cuối hàng ngƣời… mẹ dụi mắt trông theo.
Huế, 8-2008
*Quê xã Kỳ Hƣng - Kỳ Anh - Hà Tĩnh. Học vị tiến sĩ, nguyên Phó giám đốc sở GD-ĐT Thừa Thiên Huế, nguyên Phó vụ trƣởng Bộ GD & ĐT. Về hƣu sống tại TP.HCM
Nguyễn Thị Tình*
Anh hãy về thăm lại Kỳ Anh
Anh hãy về thăm lại Kỳ Anh
Xóm làng ngày xƣa đã lên phố xá
Cổng trời Đèo Ngang hòa cùng hoa lá Sơn thủy hữu tình, nhƣ thực nhƣ mơ.
Bà Huyện Thanh Quan câu thơ vọng tới giờ Hồn nƣớc cũ vẫn còn lƣu luyến mãi Sao anh không một lần về lại Ngắm mai vàng nòn nã dƣới Đèo Ngang.
Sài Gòn quanh năm đô hội, rộn ràng
Kỳ Anh bốn mùa đậm tình yêu mến
Ƣớc một lần đƣợc cùng anh hò hẹn
Ôn lại tháng ngày thầm nhớ, trộm thƣơng.
Em dẫn anh tìm dấu những con đƣờng
Thời tuổi trẻ bao vấn vƣơng, trắc trở
Bƣớc chân ra đi mang nhiều duyên nợ
Để bây giờ em lại trở về đây.
Ký ức năm xƣa vẫn trong ngực đong đầy
Hạnh phúc biết bao nếu đƣợc lần gặp lại
Quê hƣơng đó, dù nắng mƣa trở ngại Vẫn vững vàng tay lái vƣợt trùng khơi.
Kỳ Anh hôm nay đã đổi thay rồi
Cảng biển về đêm đèn tàu nhấp nháy Vũng Áng chiều hôm cá tôm, mực nhảy
Giang rộng vòng tay chờ đón ngƣời về.
Toronto-Canada 2021
* Quê Kỳ Hoa, học sinh cấp 3 Kỳ Anhkhóa 1973-1976,
Dang sống ở Tonronto-Canada
Nguyễn Uyển*
1. Tuổi già chí cả Tặng nhà giáo Võ Xuân Liêu
Tôi. Bác cùng chung một bƣớc đƣờng
Yêu nghề mến trẻ, nặng tình thƣơng
Tuổi già vẫn sáng tƣơi màu thép
Chí cả thêm ngời rạng ánh dƣơng.
Muôn quả thơm lừng dâng vị ngọt
Ngàn hoa nở rộ ngát mùi hƣơng
Cúc tùng chăm bón, tôi sau bác
Mát rƣợi lòng ta gió bốn phƣơng.
1971
2. Tình thơ mộng
Gặp gỡ nhau chƣa đƣợc mấy hồi
Rồi ra kẻ ngƣợc với ngƣời xuôi
Khi về bến cũ hòng thăm hỏi
Mới rõ thuyền xƣa đã bán rồi.
Đau đớn luống thƣơng ngƣời trong mộng
Mây ngàn hạc nội cách đôi nơi
Mối tình huyền diệu đêm thu ấy
Lắng đọng tâm hồn mãi khó nguôi.
*Sinh năm 1912, quê xã Kỳ Phú - Kỳ Anh - Hà Tĩnh. Làm nghề dạy học, sáng tác nhiều thơ, nhất là thơ Đƣờng luật.
Đã in tập: Niềm vui
Phan Thế Việt*
Ngắm trăng trên đỉnh Đèo Ngang
Trăng soi nghiêng trên đỉnh Đèo Ngang
Trăng giàn trải mặt biển Đông lấp lánh
Sóng lăn tăn đùa giỡn cát ven bờ
Gió mơn man vờn nhẹ đám lau thƣa
Mây thoáng lƣớt vài ba làn trắng mỏng
Cây cỏ hoa sau ngày nắng nóng
Hé chồi non hứng đón ánh trăng rơi
Màn trời đêm - biển lấp lánh sao khơi
Ai luyến tiếc mảnh tình riêng vời vợi.
Lòng thanh thản ngắm trăng suông thầm hỏi
Tiều phu xƣa nay lạc lối ra vào
Từ đỉnh Đào Ngang nhìn thấy mai sau
Trăng và điện nhập nhòa chung lối phố.
*Quê xã Kỳ Văn - Kỳ Anh – Hà Tĩnh. Giáo sƣ-tiến sĩ, công tác tại Viện khoa học Việt Nam, sống tại Hà Nội
Hoàng Xuân Viên*
1. DÕNG SÔNG QUÊ HƯƠNG
(Ai đi xa rồi cũng nhớ bến sông quê
Nơi sâu thẳm tiếng ru à ơi của Mẹ…)
Dòng sông Trí quê tôi
Sông thƣơng sông nhớ, bến đợi thuyền chở
Nơi bến bờ từ thuở ấu thơ
Nơi cất cánh của một thời trai trẻ.
Hôm nay con trở về quê mẹ
Mang trên đầu một mái tóc pha sƣơng
Dẫu đi xa muôn vạn dặm đƣờng
Dòng sông Mẹ luôn hiện về trong ký ức.
Sông hiền hoà một màu xanh mực
Ôm đôi bờ nhuộm bóng hoàng hôn.
Đàn cò trắng chiều về kín cả ven sông
Lũ rái cá lƣợn lờ tìm mồi sau cơn lũ.
Những chuyến đò đƣa em về bên nớ
Vọng câu hò O Nhẫn năm nào:
“Nƣớc lên nhân nhẫn bờ rào
Thuyền ngƣời ta sang cả, em cầm sào đợi ai”.
“Mặc nƣớc lên nhân nhẫn bờ rào
Em đợi ngƣời tri kỷ cầm sào cho em sang”
Những câu hò theo sóng mênh mang
Từ Hoành Sơn đổ dồn ra biển rộng
Nơi bình minh phủ hồng lên Rú Vọng
Nơi Trƣờng Sơn che nắng gió Lào về
Nhớ quê mình nón lá nghiêng che
Áo tơi phủ mƣa tã tầm về cuối hạ
Ta đâu phải một ngƣời xa lạ
Nhớ một thời đôi lứa hẹn hò nhau
Thời gian ơi! Đã thay đổi sắc màu
Dòng sông Mẹ nay vẫn còn bến đợi.
Thuyền xa rồi không cùng dòng chung lối
Bến sông xƣa khắc khoải mối tình si…
Em đi rồi, ta ở bên ni
Sâu thăm thẳm một dòng sông cô quạnh.
Gió đông về hanh hao giá lạnh
Những ký ức xƣa còn đọng lại chiều nay…
Ai đi xa rồi cũng trở về đây
Nơi cất dấu nghìn năm trong ký ức
Yêu quê hƣơng làm lòng ta rạo rực
Dòng sông quê luôn chảy nặng vơi đầy.
2. VỀ VỚI QUÊ ANH
Mời em về thăm quê anh Hà Tĩnh
Nơi đèo Ngang mây trắng nắng chiều tà
Nơi “cỏ cây chen đá lá chen hoa
Lom khom dƣới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà…” *
Đã xế Mùa thu Ất Dậu, xƣa ngồi nghe mẹ kể
Con sinh ra vào ngày đói, tháng nghèo
Hơn chục tuổi đầu còn bám mẹ đi theo
Những phiên chợ chiều liêu xiêu quán vắng
Đƣợc mẹ mua cho bánh đúc, bánh tráng
Bụng đói chƣa no, miệng vẫn còn thèm
Con hỏi: hôm sau còn mẹ sẽ mua thêm?
Mẹ bảo: con ơi! để giành mua gạo, sắn…
Năm tháng dần trôi lùi về dĩ vãng
Đêm hè nằm chõng, đông rét tổ rơm
Mùa gặt về con đƣợc trọn bát cơm
Con thƣơng mẹ phải để dành tháng tới…
Bảy bảy mùa thu sao xa vời vợi
Bấm đốt ngón tay thu lại thấy gần
Quê anh nghèo nay thay đổi sắc xuân
Đã đẩy xóm nghèo lùi về dĩ vãng
Mái ngói đỏ tƣơi, cánh diều lãng đãng
Rộn tiếng trẻ thơ vui cả sân trƣờng
Cô giáo hiền trẻ đẹp, dễ thƣơng
Truyền cho các em tâm hồn trong sáng…
Vào Hoành Sơn nhớ ghé qua Vũng Áng
Ngồi lai rai vị mực nhảy về chiều
Với ly rƣợu nồng chân bƣớc liêu xiêu
Ai ở rồi yêu, đi xa lại nhớ…
Thơ anh viết để gửi vào trong nớ
Gửi ngƣời thƣơng nơi hoa lệ Sài thành
Em hãy nhớ về quê Mẹ cùng anh
Nơi ngọn lửa Hồng, tấm lòng ngƣời xứ Nghệ…!
Kỳ Anh, 2020
* - Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan
3. KÝ ỨC NHỎ NHOI
Chợ Cầu nhƣng chẳng có cầu *
Tìm ngƣời bên ấy sông sâu cùng về
Tôi mình vốn dĩ chân quê
Thích mà chẳng đƣợc, ai mê đến mình
Kỳ Châu cũng lắm O xinh
O mô cũng đã "đóng đinh" cả rồi
Thôi về tôi lại tìm tôi
Đêm nằm mộng tƣởng chạm môi chợ Cầu...
Kỳ Anh, 2019
* Sinh: 1945 Quê quán: Bắc Châu, Kỳ Châu, Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Tốt nghiệp đại học ở Liên Xô (Nga)
Thƣờng trú: Tp. HCM.
THAY LỜI KẾT
Trung tuần tháng 11 năm 2020, tôi Nguyễn Xuân Lộc và PGS.Tiến sĩ triết học Lê Công Sự, ngƣời bạn đồng niên cấp III Kỳ Anh khóa 1973-1976 có trọn một ngày hội ngộ tại Đại học Hà Nội ở quận Thanh Xuân.
Trong rất nhiều câu chuyện hàn huyên về thời trai trẻ, về trƣờng xƣa, bạn cũ, về chuyện chính trị, xã hội trong và ngoài nƣớc… Ts Lê Công Sự vả tôi có ý tƣởng cùng làm một cuốn sách lịch sử về quê hƣơng Kỳ Anh. Những tâm hồn đồng điệu gặp nhau, chúng tôi cùng bàn luận mọi khía cạnh và đi đến kết luận: Cần thiết phải có một quyển sách để làm tƣ liệu cho ngƣời dân Kỳ Anh hiện tại và mai sau có thể tìm hiểu về lịch sử quê hƣơng mình một cách thuận tiện và đầy đủ.
Nhân dịp đó, tôi về Kỳ Anh, gặp các cựu quan chức có liên quan đến lịch sử huyện nhà, bàn bạc để thành lập một nhóm làm việc, có tổ chức, phân công từng ngƣời từng bộ phận rõ ràng để tập hợp các tƣ liệu đầy đủ, chi tiết… Chúng tôi sẽ có trách nhiệm biên tập thành sách theo đúng tinh thần khoa học và kinh nghiệm của mình.
Trở về Kỳ Anh, tôi đã gặp gỡ các cựu quan chức có liên quan mà tôi quen biết từ trƣớc và rất thân thiết, nêu ra ý tƣởng của chúng tôi và nhận đƣợc sự đồng tình tuyệt đối. Các vị đã nhiệt tình liên hệ với bí thƣ, chủ tịch thị xã và huyện Kỳ Anh đƣơng chức, hẹn gặp nhau để cùng bàn bạc cụ thể, nhƣng do các vị ấy đang bận họp ở tỉnh chƣa về kịp và tôi phải vào lại Sài Gòn. Buổi gặp sau cùng tại Kỳ Anh với sự có mặt của bác Hoàng Thái Cát - cựu giám đốc trƣờng Đảng huyện Kỳ Anh, Nguyễn Đức Luyn - cựu Trƣởng ban tuyên giáo huyện ủy, Phan Bình Minh - cựu bí thƣ huyện ủy, thầy Nguyễn Tiến Chƣởng - cựu hiệu trƣởng trƣờng cấp 3 Nguyễn Huệ, thầy giáo Nguyễn Thạch Đồng, chúng tôi quyết định hẹn đến tết nguyên đán sẽ trở về Kỳ Anh gặp và thống nhất mọi việc.
Nhƣng không may, dịch Covid Vũ Hán bùng phát trở lại, mọi sự di chuyển phải hạn chế và chúng tôi đã không về đƣợc cho đến khi đại dịch lan ra khắp cả nƣớc.
Trƣớc tình hình đó, tôi quyết định sử dụng những tƣ liệu mình đã có, tìm đọc rất nhiều các nguồn dữ liệu khác nhau, nghiên cứu, đối chiếu, so sánh, chọn lọc những nguồn tin cậy nhất…
Khó khăn và mất nhiều thì giờ nhất là ngay các tƣ liệu chính thống cũng có rất nhiều lỗi và sai sót, phải đọc đi đọc lại nhiều nguồn để đối chiếu, so sánh sửa chữa, bổ sung…
Đến nay về cơ bản các thông tin đã đủ để ra mắt quyển sách. Tất nhiên, mặc dù đã cố gắng, chúng tôi cũng không sao tránh đƣợc những thiếu sót, và các tƣ liệu lịch sử vẫn còn nhiều tiểu tiết chƣa thật đầy đủ để có thể thõa mạn nhƣ mong muốn.
Hy vọng đƣợc quý độc giả lƣợng tình và giúp chúng tôi những ý kiến hữu ích. Mọi sự đóng góp của quý vị đều quý giá và chúng tôi xin chân thành cảm ơn trƣớc.
Xin cảm ơn chân thành nhất đến: bác Hoàng Thái Cát-nguyên Giám đốc trƣờng Đảng huyện Kỳ Anh, thầy Nguyễn Tiến Chƣởng-nguyên Hiệu trƣởng trƣờng cấp 3 Nguyễn Huệ, thầy Nguyễn Đức Luyn-nguyên Trƣởng ban tuyên giáo huyện ủy, P.gs.Ts triết học Lê Công Sự-giảng viên cao cấp Đại học Hà Nội, anh Phan Bình Minh-nguyên bí thƣ Huyện uỷ, anh Lê Đạt-nguyên trƣởng phòng tài nguyên nƣớc, anh Trần Đình Việt-nguyên Giám đốc Tổng biên tập NXB tổng hợp TP.HCM, P.gs.Ts Lê Khánh Tuấn-nguyên phó vụ trƣởng vụ tài chính Bộ giáo dục, Đại tá nhà báo Nguyễn Hoà Văn-nguyên Tổng biên tập báo Biên Phòng, Đại tá nhà báo Nguyễn Huy Toàn-nguyên phóng viên ANTV Bộ công an… Nhờ sự ủng hộ, giúp đỡ, đóng góp ý kiến, cung cấp những tƣ liệu quý của quý vị cuốn sách này mới hoàn thiện và ra đời..
Tôi cũng xin cảm ơn và xin lỗi các tác giả có tên và tác phẩm đăng trong cuốn lƣợc sử này. Vì điều kiện khách quan, chúng tôi không thể liên lạc đƣợc đủ để xin phép các anh chị trƣớc. Mong các anh chị đại xá và xem nhƣ đây là sự đóng góp cho quê hƣơng Kỳ Anh yêu dấu.
Nguyễn Xuân Lộc
Chủ biên
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Thiên nhiên Việt Nam - Lê Bá Thảo - Nhà Xuất bản KHKT-1977
2. An Tĩnh cổ (Le Vieux An Tĩnh) - H. Le Breton - Nguyễn Bân dịch
3.La Province Ha Tinh - R. Bulaterau-1925 - Bùi Đinh Thiện dịch
4. Hà Tĩnh - Lịch sử khái quát… Tài liệu tóa khâm sứ Pháp ở Hà Tĩnh năm 1942 - Đặng Văn Thị dịch
5. Địa dƣ tỉnh Hà Tĩnh - Trần Kinh - ấp Bắc Hà 1939
6. Kỳ Anh phong thổ ký - Lê Đức Trinh - 1930, Thanh Minh dịch
7. Nghệ An ký (tập 1&2) - Bùi Dƣơng Lịch- Ngô Đức Thọ dịch
8. Đại Nam nhất thống chí (tập 2) - NXB.KHXH 1970 -Đặng Chu Kỳ dịch
9. Đại Nam nhất thống chí (Q.12) - Tỉnh Hà Tĩnh - Đặng Chu Kỳ dịch, nhà VH, Bộ GD, VNCH-1965
10. Đại Việt sử ký toàn thƣ (I, II, III ,IV) - NXB.KHXH 1971-1972-1973 - Cao Huy Giu dịch
11. Lịch triều hiến chƣơng loại chí - Phan Huy Chú (tập I, III), Tổ PDVSH - NXB KHXH 1992
12. Đại Nam thực lục chính biên – Đệ Tam kỷ II và đệ tứ kỷ I. Tổ phiên dịch Viện Sử học-NXB KHXH 1071, 1973
13. Đăng khoa lục bị khảo – Phan Huy Ôn, Ngô Đức Thọ dịch
14. Quốc triều khoa bảng lục – Cao Xuân Dục – Lê Đức Thọ dịch
15. Phan Đình Phùng –Đào Trinh Nhất – NXB Đại La, Hà Nội
16. Hùng Vƣơng dựng nƣớc (tập IV) - NXB KHXH 1974
17. Lịch sử Nghệ Tĩnh (tập I) - Ban NCLS Nghệ Tĩnh, NXB Nghệ Tĩnh 1984
18. Nghệ Tĩnh trong lòng tổ quốc Việt Nam - Ninh Viết Giao, Trần Thanh Tâm - Ty GD Nghệ An 1965
19. Lịch sử Đảng bộ Hà Tĩnh (tập I) - Ban CHĐBĐCSVN tỉnh Hà Tĩnh - NXB Chính trị quốc gia 1993
20. Lịch sử Đảng bộ huyện Kỳ Anh (tập I) - Ban TVHU Kỳ Anh 1974
21. Hà Tĩnh chống Mỹ cứu nƣớc - Bộ CHQS Hà Tĩnh 1974
22. Chuyện kháng chiến ở Hà Tĩnh (tập II) - Tỉnh đội Hà Tĩnh 1960.
23. Kỳ Anh - những chặng đƣờng - Đặc san mùa thu, UBND huyện Kỳ Anh 1990
24. Núi Thiên Cầm - Truyện dân gian - Tiểu ban VHDG Hà Tĩnh 1972
25. Truyện dân gian Nghệ Tĩnh (tập I, II), NXB Nghệ Tĩnh 1981 - 1985
26. Dân ca Hà Tĩnh (tập II) - Ty văn hóa Hà Tĩnh 1970
27. Tang thƣơng ngẫu lục - Phạm Đình Hổ và Nguyễn Án -Trúc Khê Ngô Văn Triện dịch
28. Thơ văn Lê Thánh Tông – CB Mại Xuân Hải - NXB KHXH 1984
29. Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhậm (Q.I) - chủ biên Cao Xuân Huy, Thạch Can - NXB KHXH 1978
30. Hải ông thi tập - Viện nghiên cứu Hán Nôm tổ chức dịch, NXB KHXH 1982.
31. Thơ văn Huỳnh Thúc Kháng (chọn lọc) - Chƣơng Thâu - NXB Đà Nẵng 1989
32. Hồi ký Mặt trận Việt Minh khởi nghĩa dành chính quyền huyện Kỳ Anh – Nguyễn Thuận – 1995
33. Thơ Kỳ Anh - Nhiều tác giả - NXBTH TP.HCM 2006
34. Lịch sử 13 đời vua triều Nguyễn – wikipedia.org
35. Các tài liệu lƣu trữ của Huyện ủy, UBND, Ban chỉ huy quân sự huyện Kỳ Anh,
36. Các tài liệu lƣu trử của Ban lịch sử quân sự, Bộ chỉ huy quân sự Hà Tĩnh.
37. Các tài liệu riêng của các ông Thái Kim Đỉnh, Thanh Minh, Võ Hồng Huy…
38. Những ngƣời con Hà Tĩnh trên mọi miền Tổ quốc - Nhà XB Tri Thức - Liên hiệp các hội KHKT Hà Tĩnh-2012
39. Kỳ Anh 170 năm (1936-2006) - HU,HĐND,UBND huyện Kỳ Anh - 2006
40. Từ điển Danh nhân lịch sử - Bộ mới - 2006
41. Kỷ yếu 50 năm Trường THPT Kỳ Anh.
42. Kỷ yếu 40 năm Trường THPT Nguyễn Huệ
KỲ ANH : HƯƠNG ĐẤT – TÌNH NGƯỜI
Biên khảo
NHÀ XUẤT BẢN HỘI NHÀ VĂN
65 Nguyễn Du-Hà Nội
Tel: 024.38.222.135 E-mail: nxbhoinhavan@yahoo.com.vn http://nxbhoinhavan.net
Chi nhánh miền Nam 371/16 Hai Bà Trưng-Phường 8-Quân 3-TP.HCM Tel: 028.38.297.915
E-mail: nxbhnv.saigon@gmail.com
Chi nhánh miền Trung và Tây Nguyên 277 Trần Hƣng Đạo-Thành phố Đà Nẵng
Tel: 0236.3849.516 E-mail: nxbhnv.mientungtaynguyen@gmail.com
Chịu trách nhiệm xuất bản: Giám đốc-Tổng biên tập: NGUYỄN QUANG THIỀU
Bin tập viên: Ngô Thị Thúy Nga
Vẽ bìa-Trình bày: Xuân Lộc
Sửa bản in: Xuân Lộc
In 2000 cuốn, khổ 14 x 20,5cm, tại Cty in TNHH In ấn Tuấn Nam Đc:57A Nguên Hồng, P 11,, Quận Bình Thạnh, TP.HCM
Số xác nhận ĐKXB : 3582-2022/CXBIPH/14-89/HNV
Số quyết định xuất bản: 1466/QĐ-NXBHNV, ký ngày 20-10-2022
In xong và nộp lƣu chiểu: Năm 2022
Mã ISBN (dạng số) : 978-604-383-535-9


Cuốn sách quý! Thật công phu!
Trả lờiXóa