Tuỳ bút của Xuân Lộc
“Nhớ thịt đông mây trắng ngủ trong nồi”
Trời ơi!
Bao nhiêu năm nay ăn Tết ở miền Nam nhà mình lúc nào cũng có nồi thịt kho Tàu, chứ nồi thịt đông chỉ còn trong ký ức. Thế mà đọc câu thơ bổng giật mình. Nào ai chẳng biết nồi thịt đông xứ Bắc đều có ráng mỡ , nhưng để ví cái ráng mỡ thành đám mây trắng ngủ đông trong nồi thịt thì chỉ có thi nhân, mà phải là thi nhân thứ thiệt mới tưởng tượng ra và viết thành thơ được.
Mình cứ nghĩ, thôi chẳng quan tâm gì nhiều, Tết ở Saigon năm nào cũng vậy, cuối năm ra bờ sông đường Trần Xuân Soạn bứng về cây mai, vài chậu hoa cho có chút màu Xuân với mọi người. Còn thịt mỡ dưa hành thì đã có trong siêu thị, cây nêu tràng pháo đã thành diễm xưa…
Các chợ hoa bên sông là khu vực riêng của các làng hoa từ Đồng Tháp, Tiền Giang, các tỉnh miền Tây nam bộ… chở lên bằng tàu, thuyền, tự nhiên, dân giả, chẳng có trang hoàng, ngăn nắp gì như trong phố, người xe tấp nập, sáng ba mươi đến trưa là bán tháo, không hết thì cho không hoặc lại chất lên tàu xuôi dòng sông về nơi nó ra đi, muốn nán lại cũng chẳng xong, dân phòng đuổi như ma xó để công ty vệ sinh dọn dẹp chuẩn bị đón giao thừa . Cái điệp khúc này ba trăm năm Saigon vẫn thế và e mãi sau này vẫn cứ thế thôi.
Không khí đón Tết Sài Gòn chính là mười ngày trước Tết, Rộn ràng mua sắm và dạo khắp các khu trưng bày hội hoa Xuân, sau đêm giao thừa là thăm viếng chùa chiền, ngày thứ hai là con cháu ghé nhà , tù tỳ bia rượu, ngày thứ ba tiễn ông bà ông vãi, ngày thứ tư dắc nhau rời thành phố: Vũng Tàu, Nha Trang, Đà Lạt, miền Tây…mọi con đường trong nội thành ngày thường đông đúc, chen lấn nhau là thế, bổng trở nên vắng vẻ, thoáng đãng, yên tĩnh vô cùng.
Mình quen rồi, Tết nào cũng thế. Sáu sáu mùa Xuân có mặt trên đời chỉ có hai mươi cái Tết đầu là đúng nghĩa, và một cái Tết nữa khi đã bước vào tuổi năm mươi, sương nhuốm mái đầu, nửa khách nửa chủ khi về chăm mẹ lần cuối rồi Người lặng lẽ ra đi để mình trở thành đứa mồ côi. Còn lại đều là những cái Tết nơi đất khách, dù ở nhà mình. Cái náo nức, chờ đợi, hồi hộp như thủa xưa không còn nữa.
Bây giờ tóc ngã màu sương, con cháu đứa ở xa dịch giả không về được, đứa gần thì Tết cũng như ngày thường, các cháu họ thì nếu không về quê cũng đến chơi được một ngày rồi ai về nhà nấy, thế là… hết Tết.
Hôm nay đọc câu thơ:
“Nhớ thịt đông mây trắng ngủ trong nồi” của Trần thi sĩ, tự nhiên nhớ da diết những cái Tết khi xưa, lúc tóc mẹ còn xanh và đầu mình để chỏm…
Mỗi độ Tết đến Xuân về , việc của người lớn là lo sắm Tết, việc của đám trai nhóc như mình là làm cho được cái ống pháo, có cái lỗ, cái dây cao su, mua diêm về lấy hết sing (không nhớ có phải gọi thế không?) tức bột đầu que diêm nhét vào cái lỗ, gỡ giấy ở hộp diêm bọc lót lên rồi kéo cái que buộc dây cao su cho vào lỗ, xong ném mạnh xuống đường hoặc dồi lên cao cho nó lao xuống đường đầu que nén mạnh giấy diêm đốt cháy bột diêm gây tiếng nổ vang. Chẳng biết học được từ đâu nhưng cứ lớn lên như cây cỏ thế mà đứa nào cũng thành thục.
Những ngày giáp Tết hoặc sáng ba mươi, mẹ nấu một nồi nước lá bắt cởi truồng để tắm rửa, kỳ cọ cái thân hình khẳng khiu, da bám một lớp đen sạm đất bụi, nhất là dưới cổ vì ba tháng mùa đông lạnh không chịu tắm, và đầu thì chấy bò lổm ngổm. Mẹ dùng hòn đá kỳ cọ đỏ cả da, đau quá la chí choé chỉ muốn thoát ra khỏi bàn tay như gọng kìm của mẹ. Sạch sẽ thơm tho rồi mới được cho mặc áo mới đi khoe với bạn bè. Giờ nhìn bọn trẻ lớn lên mới thấy cái thời mình mông muội mà sao vui thế.
Tối hai chín, ba mươi ngồi canh nồi bánh chưng sôi với bố, chiều ba mươi Tết là pháo nổ đì đoàng, đêm giao thừa tối đen như mực, chỉ ngọn đèn dầu và những cây nhang trên bàn thờ le lói sáng. Riêng nhà mình thì không năm nào thiếu một cây nêu. Một cây buơng to, thẳng trên đầu cây bương cột bó lá ở dưới treo một chiếc đèn dầu, bên dưới là đầu con chim phuợng gỗ với lá cờ Tổ quốc có dây dù kéo lên xuống như ròng rọc. Cây nêu cao nhất xóm là nhà mình, đi từ rất xa cũng thấy. Vui nhất là trên bàn thờ gia tiên ngoài hai câu đối hai bên lại có thêm 6 cái ảnh lớn của các cụ râu xồm và đầu trọc: Các-Mác, Anghen, Lê-Nin, Stalin, Mao Trạch Đông và Hồ Chí Mình.
Ôi trời, giờ nghĩ lại mới hay, Đảng ta có “tình yêu quốc tế” bao la vô bờ.
Nhất là đĩa bánh ngào, bánh mật và bát cháo canh mẹ cúng đêm giao thừa, sao mà ngon đến thế.
Sáng mồng một Tết, theo lệ mình mang một đĩa quà, trái cây hay bánh gì đấy, đến chúc Tết bác ruột đầu tiên, bởi mình lớn lên ông bà nội và ông ngoại đều ra người thiên cổ từ lúc nào nên chẳng có khái niệm nhớ nhung gì. Đứa con ngoan nhất nhà phải đến chúc Tết bác trước, một nhà nho có chữ nhất trong làng và bị đấu tố tơi bời trong cải cách ruộng đất. Đấy là người bác thứ hai trên bố, còn bác cả cũng là một lý trưởng thì bị đấu tố đã chết trong tù ở Thanh Chương, khi sửa sai về thì đã muộn, mình cũng không biết mặt. Bố và chú chỉ là thành phần Trung nông nên có ít ruộng đất bị thu, ngôi nhà xây ba gian lợp lá cọ còn giữ được, cả đời ông hiền như đất, đến con gà cũng không dám mổ thịt , và giờ mình cũng thế. Lớn lên chỉ ăn đòn của mẹ thôi.
Sang ngày mồng hai Tết trở đi là lên thăm bà ngoại và đi đánh đáo, mỗi độ Tết về mình kiếm được mấy chục đồng đấy, chẳng chơi. Trên làng dưới xóm đố ai ăn được tiền mình. Một xấp xu dày mình lia tay một cái là rãi đều ra và thế nào cũng có một đôi dính vào nhau, chỉ việc bắn xu cái chia đôi hai xu dính nhau mà không đụng vào đồng xu khác là hốt trọn. Có anh hơn mình cả gần chục tuổi chơi với mình cũng thua. Không hiểu sao mình không cần ngắm, cứ vung tay là bắn trúng đích, rất ít khi sai. Đánh đáo cũng có ba kiểu, chơi trên đất bằng, chơi khoét lỗ và chơi đập đồng xu vào tường, ai xa nhất thì bắn ăn người gần mình nhất, cứ thế cho đến người cuối cùng…
Ôi, những ngày Tết quê hương thời chiến tranh và tuổi thơ thế hệ mình chỉ có thế với cái không khí se lạnh và mưa phùn rắc nhẹ mà quá nữa đời người nỗi nhớ vẫn không phai.
Bánh chưng thì ăn hết tháng giêng vẫn còn. Bố ngâm xuống giếng, một tháng sau vớt lên bóc ra bánh vẫn xanh màu lá và thơm ngon chứ đâu như bây giờ xong ba ngày Tết là bánh bánh mềm nhũng và thiu.
Nhưng trong tất cả những món ngon ngày Tết thời thơ ấu ấy với mình không gì ngon và làm mình nhớ hơn nồi thịt đông của mẹ.
Một năm nào được mấy ngày ăn thịt? Nên Tết về bánh chưng xanh và nồi thịt đông là hai món không thể thiếu, biết giờ có còn giữ được chăng?
Hôm nay viết vội ít dòng, thấy mình như trẻ lại khi nhớ về nồi thịt đông của mẹ.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét